Ngân hàng nhà nớc việt nam
Học viện ngân hàng
-----o0o----
Khóa luận tốt nghiệp
Đề tài:
GiảI pháp quản lý rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại ngân hàng đầu t và phát triển việt nam
chi nhánh quang trung
Giáo viên hớng dẫn : TS. Hà Thị Sáu
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Hờng
Lớp : NHC K9
Khoa : Ngân hàng
Hà Nội - 2010
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Lời mở đầu
Hoạt động của NHTM Việt Nam nói chung những năm qua phát triển
mạnh mẽ, hỗ trợ đà phát triển kinh tế
ấ
n tợng
c
ủ
a
V
iệt
Nam. Tuy nhiên,
thực tế cũng chứng minh nền kinh tế vẫn bị tác động tiêu
cực
, thậm chí đi
đến khủng hoảng nếu hệ thống ngân hàng hoạt động thiếu kiểm soát, không
đ
á
ấ
t
lẫn về lợng, đóng góp ngày càng to
lớ
n
c
ho nền kinh tế quốc dân.
Đây là loại hình DN đang đợc nhà nớc đặc biệt quan
tâ
m, tạo điều kiện phát
triển. Với những đặc điểm riêng có về quy mô, cách thức ho
ạt
động phù
hợp với khả năng quản lý và định hớng hoạt động của BIDV, n
ê
n DNVVN
đợc tập trung đầu t tín dụng và trở thành đối tợng khách hàng chủ đ
ạ
o.
Chi nhánh BIDV Quang Trung có định hớng trở thành một ngân hàng
bán lẻ trên địa bàn Hà Nội, nên trong thời gian gần đây Chi nhánh đã chú trọng
đến việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN. Tuy nhiên, các DNVVN có
tính ổn định trong sản xuất không cao, không có định hớng lâu dài trong hoạt động
kinh doanh,năng lực tài chính còn yếu kém, nên việc quản lý rủi ro tín dụng của
chi nhánh đối với DNVVN là một yêu cầu rất quan trọng.
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
2
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Tổng hợp những mối quan tâm nói trên nên em đã lực chọn đề tài: Giả
pháp nâng cao hiệu quả công tác Quản lý rủi ro tín dụng đối với DNVVN
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhng
nhìn chung thì DNVVN là những doanh nghiệp có số vốn, lao động hay doanh
thu ở dới một mức giới hạn nào đó.
Cho đến nay, vẫn cha có một tiêu chuẩn chung của quốc tế để phân loại
DNVVN. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới World Bank, các doanh
nghiệp đợc chia theo quy mô nh sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ ( Micro enterprise): Có đến 10 lao động,
tổng giá trị tài sản trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 100.000 USD.
Doanh nghiệp nhỏ (small enterprise) : Có không quá 50 lao động,
tổng giá trị tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 3 triệu USD.
Doanh nghiệp vừa ( Medium enterprise) : Có không quá 300 lao
động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 15 triệu USD.
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia có một điều kiện kinh tế và có những đặc
điểm riêng biệt. Sự phân loại các doanh nghiệp vì thế không thống nhất ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Một doanh nghiệp đặt trong môi trờng kinh tế của n-
ớc mình thì đợc xem là DNVVN, nhng trong môi trờng kinh tế của nớc khác thì
lại là doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp cực nhỏ. Tơng tự, tại một thời điểm
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
4
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
trong quá khứ một doanh nghiệp đợc coi là lớn, nhng đến nay lại chỉ đợc xét là
có quy mô vừa. Vì vậy khái niệm DNVVN chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc
gia, tại một thời điểm nhất định. Tuy vậy, việc đa ra định nghĩa về DNVVN cho
riêng mình lại có ý nghĩa quan trọng trong chiến lợc phát triển của mỗi quốc
gia. Thực tiễn đã chứng minh quốc gia có một định nghĩa càng rõ ràng thì các
20000-
100000
<100000
USD100000-
500000
Trung Quốc + DN nhỏ
+ DN vừa
50 100
101- 500
Nh vậy, mỗi nớc trên thế giới có những quy định riêng trong kháI niệm
DNVVN. Nhng nhìn chung, số vốn đầu t và số lao động là 2 tiêu thức thờng đ-
ợc các nớc lựa chọn để phân loại và xác định DNVVN.
ở Việt Nam, theo qui định tại nghị định 90/2001/ Nđ - cp ngày
23/11/2001 thì DNVVN đợc xác định nh sau:
DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngời.
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
5
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
1.1.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
a.Ưu thế:
Thành lập dễ dàng
DNVVN là loại hình doanh nghiệp có quy mô vừa phải nên việc đầu t
vốn sản xuất không yêu cầu quá lớn. Thêm vào đó, mặt bằng sản xuất hàng hóa
nhỏ, quy mô nhà xởng không lớn nên doanh nghiệp có thể giảm đợc chi phí cố
định. Vì vậy, việc thành lập loại hình doanh nghiệp này cũng trở nên dễ dàng
hơn.
Năng động, linh hoạt trong sản xuất kinh doanh:
Nhờ quy mô vừa và nhỏ, mô hình tổ chức quản lý giản đơn nên những
khác việc tăng vốn từ lợi nhuận giữ lại cũng bị hạn chế do lợi nhuận của các
doanh nghiệp này không nhiều. Việc tăng nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu,
DNVVN cũng gặp nhiều khó khăn, do bản thân các doanh nghiệp cha đủ uy tín
và thơng hiệu để tự huy động vốn từ kênh thị trờng chứng khoán.
Nh vậy, khi khó khăn trong việc huy động vốn chủ sở hữu, các doanh
nghiệp sẽ chuyển sang tiếp cận nguồn vốn vay. Mà nguồn vay nợ chủ yếu của
các DNVVN chính là vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều rào cản
khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, mà một
phần xuất phát từ những yếu kém của chính doanh nghiệp.
Trình độ quản lý còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật:
Phần lớn chủ các DNVVN cha đợc đào tạo bài bản, chủ yếu hoạt động
dựa trên kinh nghiệm, thiếu kiến thức thị trờng và quản trị doanh nghiệp. Rất ít
doanh nghiệp áp dụng phơng thức kinh doanh, quản lý hiện đại dẫn đến bỏ lỡ
nhiều cơ hội kinh doanh.
Chính vì trình độ chuyên môn không cao nên nhiều chủ doanh nghiệp ch-
a hiểu biết cặn kẽ về pháp luật cũng nh thiếu ý thức tuân thủ pháp luật. Do thiếu
hiểu biết về pháp luật nên các DNVVN ít khi nắm bắt đợc các cơ hội nhờ sự
thay đổi trong chính sách của nhà nớc,không tận dụng đợc môi trờng kinh tế
cạnh tranh bình đẳng đợc nhà nớc đảm bảo để phát triển. Khi xảy ra các vụ
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
7
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
tranh chấp thơng mại thì do thiếu am hiểu pháp luật nên các DNVVN thờng
chịu thiệt hại nhiều hơn.
Nguồn nhân lực hạn chế về số lợng và chất lợng:
Quy mô lao động nhỏ và phần lớn các DNVVN sử dụng lao động giản
đơn, trình độ tay nghề cha cao. Do quy mô nhỏ, lại thiếu vốn nên hầu nh các
DNVVN không có kinh phí để đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho lao động.
Lực lợng lao động trong các DNVVN chủ yếu trởng thành từ thực tiễn học hỏi
và kinh nghiệm. Sự đào tạo không có bài bản hạn chế việc tiếp cận với công
nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp lớn cũng nh nhu cầu tiêu dùng
đa dạng trong xã hội mà bản thân các doanh nghiệp lớn khó có thể đáp ứng đợc.
Do đó, thu nhập từ các DNVVN này chiếm phần lớn trong thu nhập quốc dân.
Đặc biệt đối với những nớc đang phát triển thì giá trị gia tăng do các DNVVN
đóng góp hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu
tăng trởng của nền kinh tế.
Thứ hai, DNVVN góp phần tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Mặc dù số lợng lao động của từng DNVVN không nhiều, nhng chiếm
một tỷ lệ lớn trong tổng số cá doanh nghiệp, phân bổ rộng khắp và khá đa dạng
trong ngành nghề kinh doanh. Hơn nữa, các DNVVN không đòi hỏi trình độ lao
động quá cao nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm cho
xã hội. ổn định việc làm có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo nguồn thu nhập cho
ngời lao động, góp phần giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa các khu vực dân c,
tạo ra sự phát triển tơng đối đồng đều giữa các vùng của đất nớc, cải thiện mối
quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.
Thứ ba, DNVVN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong các DNVVN thì đơn giản và gọn
nhẹ nên DNVVN dễ thích ứng với những biến động của thị trờng cũng nh dễ
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của ngời tiêu dùng dễ hơn các doanh nghiệp lớn.
Chính đặc điểm này tạo ra sự linh hoạt trong việc thay đổi lĩnh vực kinh doanh
của DNVVN, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
9
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Ngoài ra, DNVVN có thể tận dụng tối đa thế mạnh của từng vùng từng
địa phơng để phát triển, từ đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo vùng lãnh thổ.
Thứ t, DNVVN góp phần khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có.
DNVVN có u thế về mô hình hoạt động linh hoạt, do đó các DNVVN có
thể thành lập trên mọi miền của đất nớc, tận dụng đợc mọi nguồn lực sẵn có và
dụng, cách thức, và phơng thức cho vay... Bên cạnh đó cũng mang các nét riêng
biệt riêng nh sau:
Về quy mô và tốc độ tăng trởng d nợ:
Các DNVVN ngày càng phát triển cả về số lợng và chất lợng. Song vấn đề
nói lên hiện nay đó là giải quyết vấn đề vốn cho DNVVN. Quy mô vốn vay của
DNVVN nhỏ hơn so với DN lớn, nhng tốc độ tăng trởng d nợ lại cao hơn. Trên
thực tế các NHTM đang cạnh tranh mạnh mẽ để mở rộng cho vay đối với loại
hình DNVVN, đặc biệt là trong nhu cầu vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh
doanh. Các DNVVN đang là đối tợng khách hàng tiềm năng của các NHTM.
Doanh số d nợ và doanh số cho vay DNVVN của Ngành ngân hàng liên tục
tăng qua các năm. Nhiều NHTM đã tập trung cho vay DNVVN lên tới 70% d
nợ.
Về khả năng sinh lời
Ngân hàng có thể thu đợc nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNVVN.
Đây chính là thị trờng tốt để các ngân hàng hoạt động. Lãi suất đối với cho vay
DNVVN thờng cao hơn so với cho vay đối với DNL, nếu tính trên tổng các
khỏan vay DNVVN, các Ngân hàng còn thu thêm đợc nhiều khoản khác đi kèm
nhờ cung cấp thêm các dịch vụ : Bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, L/C...
Về chi phí thẩm định
Chi phí thẩm định của một khoản nợ đối với DNVVN thờng đợc coi là cao
vì khoản nợ có giá trị thấp nhng vẫn phải tiến hành đầy đủ các bớc của quy trình
tín dụng. Thời gian để cán bộ tín dụng thẩm định một DNVVN thờng ít hơn
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
11
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
DNL, vì số lợng giao dịch ít. Chính vì thế, trong ngân hàng một cán bộ tín dụng
có thể quản lý nhiều khoản vay, giao dịch của nhiều DNVVN.
Về rủi ro tín dụng
Hoạt động kinh doanh cua Ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rất nhều rủi ro.
DNVVN vay vốn của Ngân hàng thờng có nhiều rủi ro hơn so với các DNL.
dụng vốn, tạo điều kiện nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
1.3 Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với Dnvvn của ngân hàng
1.3.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả đợc nợ (rủi ro mất
khả năng chi trả) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng ( rủi ro sai hẹn).
Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
(Ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005), RRTD đợc
định nghĩa nh sau: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ của mình theo cam kết.
Nh vậy, có thể nói rằng, RRTD xuất hiện trong mối quan hệ kinh tế trong
đó ngân hàng là chủ nợ và khách hàng đi vay không thực hiện đúng cam kết trả
nợ đã đợc thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
1.3.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch ( Transaction Risk)
Là loại RRTD có nguyên nhân từ các hạn chế trong quá trình giao dịch và
xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
- Rủi ro giao dịch bao gồm các bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo
đảm và rủi ro nghiệp vụ.
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng lựa chọn những ph-
ơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cấp tín dụng.
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
13
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo ( tài sản đảm bảo,
chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo...).
- Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý các khoản vay và hoạt
đợc tuân thủ và khách hàng thực hiện đúng cam kết vay và trả nợ
Khoản nợ cần chú ý (special mention): khách hàng vẫn có khả năng
thanh toán song có thể chịu tác động bởi một vài nhân tố khác. Rủi ro của
khoản nợ này tơng đối nhỏ tuy nhiên vẫn có thể phát sinh rủi ro không lờng tr-
ớc.
Khoản nợ dới mức tiêu chuẩn (substandard): là các khoản cho vay nhóm
khách hàng có mức tín nhiệm thấp, thu nhập không ổn định và có mức độ rủi ro
cao.
Khoản nợ nghi ngờ (doubtful debt): khách hàng không có khả năng
hoàn trả gốc và lãi đầy đủ. Rủi ro mất vốn của ngân hàng gần nh chắc chắn,
ngay cả trong trờng hợp có tài sản đảm bảo.
Khoản nợ mất vốn (loss): ngân hàng có đầy đủ thông tin để khẳng định
khách hàng không thể thanh toán gốc và lãi hoặc chỉ đợc thanh toán một phần
rất nhỏ sau khi ngân hàng xử lý nợ nhiều lần, thậm chí sử dụng các biện pháp
pháp lý cần thiết.
Theo cách phân loại này, nợ xấu bao gồm: nợ dới mức tiêu chuẩn, nợ nghi
ngờ và nợ mất vốn.
Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = ( Tổng d nợ cho vay/ Tổng tài sản có)*100%
Hệ số RRTD cho biết tỷ trọng của khoản mục tín dụng trên tài sản có, tổng
d nợ cho vay trên tổng tài sản có càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhng đồng thời
hệ số RRTD cao, tơng đơng với RRTD cao.
Tổng d nợ cho vay của ngân hàng đợc chia thành ba nhóm nh sau:
Phạm Thị Hờng Lớp: NHC - K9
15
Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng
Nhóm d nợ của các khoản tín dụng có chất lợng xấu (chiếm tỷ trọng
thấp/ tổng d nợ cho vay): là khoản cho vay rủi ro lớn nhng có thể mang lại thu
nhập cao cho ngân hàng.
Nhóm d nợ của các khoản tín dụng có chất lợng tốt (chiếm tỷ trọng