ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THỦY
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THỦY
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN
TRẺ EM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Hải Đăng
Hà Nội, năm 2016
thanh toán các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
4
CHƢƠNG 1
11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM, QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN TRẺ EM
11
1.1. Một số khái niệm
11
2.1. Thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay
39
2.1.1. Thực trạng về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định củ
uật
ảo vệ h m s
gi o
trẻ em n m 2
39
2.1.2. Tình hình về 4 nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được bổ sung theo
quy định của uật Trẻ em được Quốc hội thông qua ngày 5/4/2016)
49
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về quyền trẻ em
51
1
2.2.1. Thực tiễn thi hành tại Việt Nam
2.2.2. Thực tiễn thi hành tại một đị phương
78
3.3. Một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt ở Việt Nam
84
KẾT LUẬN
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ý nghĩa
Ký hiệu
CRC
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em
LĐ-TBXH
Đại học Quốc gia Hà Nội
HCĐB
Hoàn cảnh đặc biệt
TELT
Trẻ em lang thang
QĐTTCP
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
BLXH
Bạo lực xã hội
BVCSTE
bảo vệ, chăm sóc trẻ em
UBND
Ủy ban nhân dân
3
MỞ ĐẦU
hi tham gia Công ước, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh
thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và
pháp luật quốc gia. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, trẻ em Việt Nam nói
chung, nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn nói ri ng được Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội quan tâm một cách toàn diện hơn, thiết thực hơn.
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt hó hăn là trẻ em có hoàn cảnh hông bình thường về thể chất
hoặc tinh thần, hông đủ điều iện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với
gia đình, cộng đồng.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn bao gồm 10 nhóm: trẻ em mồ
côi hông nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là
nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm
việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa
gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý;
trẻ em vi phạm pháp luật [2, Điều 1].
Ở mọi thời đại, mọi quốc gia, trẻ em luôn giữ vai trò là chủ nhân tương
lai của đất nước, vì vậy, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm
không thuộc về cá nhân hay tổ chức nào đó mà là sự chung tay góp sức của
toàn xã hội. Để đảm bảo được quyền lợi cho trẻ em, cần có những giải pháp
ngăn chặn, hạn chế trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hó hăn. Đồng thời cần
có các biện pháp nhằm giúp đỡ các em đang trong hoàn cảnh đặc biệt hó
hăn hòa nhập với cộng đồng, có cuộc sống ổn định và có cơ hội thực hiện
quyền trẻ em theo quy định của pháp luật.
Xuất phát từ suy nghĩ tr n, em đã chọn đề tài “Các quy định của pháp
luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn” làm đề tài nghiên cứu.
5
bật của Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là việc thực hiện rất tốt công
6
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền tại địa phương này đặc biệt quan tâm và
luôn chú trọng đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Vì vậy, học
viên quyết định chọn địa bàn Thành phố Hải Dương (tỉnh Hải Dương) để
nghiên cứu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là đánh giá chính sách, pháp luật của
Việt Nam tác động đến của quyền nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên
phạm vi cả nước và đánh giá chính sách an sinh ã hội của Thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương đối với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tr n địa
bàn Thành phố. Để đạt được mục tiêu trên, tác giả sẽ tập trung vào các nhiệm
vụ sau:
- Phân tích các quy định pháp luật quốc tế, quy định của pháp luật Việt
Nam về về quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn ở Việt Nam nói
chung và tr n địa bàn tỉnh Hải Dương nói ri ng.
- Phân tích thực trạng việc thực hiện pháp luật về quyền trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt hó hăn tr n địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
hó hăn ở Việt Nam nói chung và tr n địa bàn tỉnh Hải Dương nói ri ng.
4. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề quyền con người nói chung, quyền trẻ em và đặc biệt là quyền của
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn, nghi n cứu trên phạm vi và cách tiếp
cận vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau bao gồm cả sách, báo, tạp chí,luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ và đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, có thể kể đến
Phương, Khoa Luật, ĐHQGHN (2015); “Quyền trẻ em trên báo in hiện nay”,
do Nguyễn Thu Hà, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
8
ĐHQGHN (2014); “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng,
chông bạo lực gia đình”, do Nguyễn Thanh Hương, Khoa Luật, ĐHQGHN
(2014); “Nhận thức về việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn
miền núi tỉnh Nghệ An”, do Ngô Thị Kiều Trang, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN (2016); “Bảo đảm quyền trẻ em sống chung
và bị ảnh hưởng bởi HIV/AID ở Việt Nam”, do Lê Thị Hà, Khoa Luật,
ĐHQGHN (2014); “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt – lý luận và thực tiễn” của
nhóm sinh viên Ngành Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật, Thành phố
Hồ Chí Minh; “Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn cấp xã – Nền tảng triết lý và những bài học rút ra” của tác giả
Nguyễn Thu Trang, Bộ môn Công tác xã hội, Trường Đại học, Khoa học xã
hội và Nhân văn, ĐHQGHN; “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của
các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng” do
Cục Bảo vệ Chăm sóc trẻ em (Bộ LĐ-TBXH) nghiên cứu; tác giả Nguyễn
Đăng Dung, cũng có nghi n cứu “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố
tụng hình sự, NXB Đại học Quốc gia Hà (2011); Phạm Thị Hải Hà (2012) với
nghiên cứu “Qui định của nhà nước trong khám, chữa bệnh chotrẻ em lý luận,
thực trạng, giải pháp”,Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công,Học viện
Hành chính Quốc gia vv…
Những công trình nghi n cứu tr n về quyền con người, quyền trẻ em,
đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hó hăn đã phân tích một cách sâu
sắc, toàn diện các vấn đề lý luận về quyền trẻ em, đánh giá thực trạng những
qui định hiện hành, tình hình thực hiện pháp luật đối với các quyền trẻ em có
của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
10
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM, QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.1. Một số khái niệm.
1.1.1. Trẻ em và quyền trẻ em
Theo quy định của pháp luật quốc tế khái niệm trẻ em được hiểu là:
“mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó
quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1, Phần I, Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em).
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm trẻ em có sự khác nhau về độ tuổi
song trẻ em trước hết là một con người và được hưởng mọi quyền như đã
được n u ra trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà không bị bất
cứ một sự phân biệt đối x nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến hoặc quan điểm hác, địa vị, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài
sản, dòng dõi hoặc mối tương quan hác. Nhưng trẻ em lại là người chưa
trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và bày tỏ quan
điểm, chính kiến của mình về mọi vấn đề li n quan đến bản thân mình. Bên
cạnh đó, có thể ngầm hiểu rằng khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam
hẹp hơn hái niệm người chưa thành ni n, bởi người chưa thành ni n bao
gồm cả trẻ em và những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, cụ thể:
“Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có
thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [2, Điều
1].
Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [3, Điều 1]; “Trẻ em là
người dưới 16 tuổi” [4, Điều 1]. Bộ luật Dân sự 2005, tại điều 18 qui định:
sau:
- Thể chất và tinh thần hông bình thường (đó là đối với các trẻ em có
12
khuyết tật về thể chất, tinh thần)
- Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình
và cộng đồng
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bao gồm các đối tượng sau [7]:
1. Trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi: là những trẻ em mà cả cha lẫn mẹ
đã qua đời, không có họ hàng thân thích, hoặc là những trẻ em mà cha hoặc
mẹ qua đời, người còn lại đã mất tích hoặc không có khả năng nuôi trẻ em; và
trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi hông có sự chăm sóc của cha mẹ. (Trẻ em được nhận
làm con nuôi thường không phải tất cả là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Việc
nhận con nuôi là một trong những biện pháp để hỗ trợ các em mồ côi hoặc các
em bị bỏ rơi)
2. Trẻ em bị xâm hại tình dục: bao gồm trẻ em bị lạm dụng tình dục, bị
cưỡng hiếp, hoặc bị lạm dụng bởi các hành vi dâm ô...; trẻ em bị bóc lột tình
dục với mục đích thương mại (mại dâm, du lịch tình dục, văn hóa phẩm đồi
trụy trẻ em, trẻ em bị buôn bán).
3. Trẻ em đường phố/Trẻ em vô gia cư/Trẻ em phải làm việc xa gia
đinh: Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em đường phố được định nghĩa gồm bốn
nhóm sau đây: a) trẻ em bỏ nhà và sống tr n đường phố, những khu vực công
cộng như trong công vi n, dưới gầm cầu ở các thành phố mà không có bố mẹ
hoặc người giám hộ chăm sóc; b) trẻ em từ các gia đình di cư l n thành phố,
sống và kiếm sống tr n đường phố, các khu công cộng cùng với cha mẹ các
em, hoặc chỉ cùng với cha hoặc mẹ; c) trẻ em làm việc tr n đường phố nhưng
sống tại nhà với bố mẹ hoặc người giám hộ; và d) trẻ em do hoàn cảnh kinh tế
hó hăn phải bỏ nhà đến sống và kiếm sống tr n đường phố, những khu vực
những tổn hại nặng nề về sức khỏe, tinh thần.
14
1.2. Các quy định pháp luật về quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.2.1. Nguồn pháp luật
Luật quốc tế về quyền con người có thể hiểu là hệ thống các quy tắc,
ti u chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế ác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền
và tự do cơ bản cho mọi thành vi n của cộng đồng nhân loại [8, Tr 131]. Mặc
dù hiện nay vẫn còn một số tranh cãi nhất định, song về cơ bản nguồn của
Luật quốc tế nói chung, trong đó có nguồn của Luật quốc tế về quyền con
người, những nguồn sau thường được viện dẫn hi giải thích, tuy n truyền,
phổ biến, giáo dục.
1. Các điều ước quốc tế, chung hoặc ri ng, đã quy định về những
nguy n tắc được các b n đang tranh chấp thừa nhận;
2. Các tập quán quốc tế;
3. Nguy n tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
4. Các án lệ (các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế) và quan điểm
của các chuy n gia pháp luật có uy tín cao.
B n cạnh đó, các quy định của pháp luật quốc tế về quyền trẻ em, quyền
trẻ em có có hoàn cảnh đặc biệt có thể ể đến là:
Tuyên bố Giơnevơ (năm 1924) về quyền trẻ em. Sau Tuyên bố Giơnevơ
(năm 1924) về quyền trẻ em được Hội Quốc liên thông qua thì vấn đề “quyền
trẻ em” chính thức được đề cập.
Trong Tuy n bố này, vấn đề quyền trẻ em được liệt
cụ thể theo 5
nhóm quyền như: (1) Trẻ em phải được phát triển một cách bình thường cả về
cầm quyền địa phương và chính phủ các nước công nhận những quyền của trẻ
em và phấn đấu để thực hiện bằng luật pháp và những biện pháp hác theo 10
nguy n tắc và những nguy n tắc này như là 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ
em.
Năm 1989, Li n Hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em
(CRC). Lần đầu ti n trong lịch s loài người, một văn bản quốc tế đề cập toàn
diện về quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính
pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ
em tr n thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em tr n tất cả các lĩnh vực đã được
CRC ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu
quả; được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã
16
hội. CRC gồm 54 điều hoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính
trị, inh tế, văn hóa, n u rõ các nguy n tắc, các quyền hác nhau, các cơ chế
theo dõi và thực hiện.
Không chỉ đề cập đến trẻ em nói chung, CRC còn đề cập đến việc bảo
vệ quyền của những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (gồm: trẻ em tàn tật,
lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của ung đột vũ trang...). Đồng thời, CRC
ác định những biện pháp nhằm óa bỏ những nguy cơ đang đe dọa nghi m
trọng cuộc sống của nhiều trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao
động, ảnh hưởng của chất ma túy và bị buộc phải tham gia vào các cuộc ung
đột vũ trang... CRC được coi là văn iện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện
nhất về quyền trẻ em trong thời điểm hiện nay. Để bổ sung cho CRC, Li n
Hợp quốc còn thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc cấm s
dụng trẻ em trong các cuộc ung đột vũ trang và cấm buôn bán trẻ em, mại
dâm trẻ em và văn hóa phẩm hi u dâm trẻ em (Việt Nam đã ph chuẩn 2
Nghị định thư này). Đến nay, đã có hơn 80 văn iện quốc tế li n quan đến
Trẻ em mồ ôi không nơi nương tự
Để nhóm trẻ hông có bố mẹ hoặc vì lý do nào đó mà hông được sống
cùng bố mẹ, gia đình nhận được trợ giúp từ Nhà nước, các tổ chức ã hội
hoặc cá nhân, Điều 20, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã đưa ra các giải
pháp: “Một trẻ em, tạm thời hay vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình
của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản thân mình mà không
được phép tiếp tục ở trong môi trường gia đình, có quyền được hưởng sự bảo
vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước” (Khoản 1); “Các quốc gia thành vi n
phải cho các trẻ em như thế được hưởng sự chăm sóc thay thế tương ứng,
phù hợp với pháp luật quốc gia (Khoản 2); “Sự chăm sóc như thế có thể bao
gồm nhiều hình thức, chẳng hạn như g i nuôi, hình thức Kafala theo luật Hồi
giáo, việc nhận làm con nuôi, hoặc nếu cần thiết, g i vào những cơ sở chăm
18
sóc trẻ em thích hợp. Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích đáng
đến mong muốn nuôi dạy trẻ em lâu dài cũng như đến nền tảng dân tộc, tôn
giáo, văn hóa và ngôn ngữ của đứa trẻ” (Khoản 3).
Đồng thời, để tạo hành lang pháp lý cho những giải pháp tr n, Điều 21,
Công ước Quốc tế đã quy định “Các quốc gia thành vi n mà thừa nhận hoặc
cho phép việc nhận làm con nuôi phải bảo đảm rằng những lợi ích tốt nhất
của trẻ em là mối quan tâm cao nhất trong vấn đề này” và phải bảo đảm việc
nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được tiến hành với sự cho phép của những cơ
quan có thẩm quyền, phù hợp với pháp luật và các thủ tục và tr n cơ sở các
thông tin thích hợp và đáng tin cậy; việc cho trẻ em ra nước ngoài làm con
nuôi có thể coi như một biện pháp thay thế để chăm sóc trẻ em, nếu như đứa
trẻ đó hông thể g i gắm được cho một gia đình chăm nom hay được một gia
đình nhận nuôi, hoặc hông thể nhận được sự chăm sóc bằng bất cứ cách thức
thích hợp nào hác tại nước nguy n quán; trẻ em được người nước ngoài nhận
nhiệm của các quốc gia thành vi n: “ các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ
trẻ em chống mọi hình thức bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục. Vì mục
đích này, các quốc gia thành viên phải thực hiện đồng bộ các giải pháp song
phương và đa phương thích hợp để ngăn ngừa:
Còn trong Chương trình nghị sự Stoc holm, năm 1996, Tuy n bố
Yo ohama, năm 2002 và Cam ết khu vực và Chương trình hành động của
khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương đối với bóc lột tình dục thương mại
trẻ em, Uỷ ban Liên hiệp quốc về quyền trẻ em đã đưa ra các giải pháp tích
cực như:
20
Xây dựng độ tuổi tối thiểu cho phép tham gia hoạt động tình dục, nghĩa
là nếu dưới ngưỡng tuổi đó trẻ em được coi là quá trẻ hoặc chưa phát triển
đầy đủ về mặt tâm sinh lý để có thể chấp thuận tham gia vào bất cứ hoạt động
tình dục nào. Ủy ban Liên hiệp quốc về quyền trẻ em nhấn mạnh rằng việc
giới hạn độ tuổi cần phải cân nhắc dựa trên các nguyên tắc tôn trọng khả năng
phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em cũng như vì lợi ích, sức khoẻ và
sự phát triển toàn diện của trẻ.
Chiến lược phát hiện các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình
dục: cảm giác xấu hổ và sợ hãi của những kẻ phạm tội thành ni n thường làm
cho các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục miễn cưỡng nói ra
tình trạng của mình và yêu cầu giúp đỡ. Thậm chí, chúng ta rất khó có thể tiếp
cận được những trẻ em tham gia vào các hoạt động mại dâm và những trẻ em
từng bị buôn bán và đang bị ép buộc tham gia vào các hoạt động mại dâm.
Những trẻ em này rất sợ cảnh sát hoặc các cán bộ chức trách và có thể trốn
tránh tiếp xúc với các cán bộ y tế hoặc cán bộ làm công tác xã hội. Trong
những trường hợp này, cần phải có những biện pháp đặc biệt để phát hiện và
tiếp cận với các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục. Đồng thời,