skkn một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi - Pdf 44

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỊ XÃ SẦM SƠN

TRƯỜNG MẦM NON QUẢNG CƯ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

Người thực hiện: Phạm Thị Hường
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Quảng Cư
SKKN thuộc lĩnh vực: Phát triển thể chất

SẦM SƠN, NĂM 2016


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

I. MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài

1


5

3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

7

3.1 Các giải pháp thực hiện:

7

3.2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện:

7

3.2.1.Xây dựng nế nếp học tập
3.2.2. Tạo môi trường hoạt động về dinh dưỡng và an toàn thực
phẩm.
3.2.3.Phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ, lấy trẻ làm
trung tâm
3.2.4. Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thông
qua các môn học khác.
3.2.5. Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở mọi
lúc mọi nơi
3.2.6. Áp dụng công nghệ thông tin vào trong họat động giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
3.2.7. Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh trong trong
hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

7

Câu nói đó của Bác đã in sâu vào tâm trí của mỗi chúng ta, đặc biệt là
những người mẹ hiền thứ hai của trẻ - những người làm công tác chăm sóc và
giáo dục trẻ mầm non. Bởi thế, để giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể lực và
trí tuệ thì không chỉ cần có sự yêu thương chăm sóc của gia đình mà cần phải
có cả sự yêu thương chăm sóc giáo dục của toàn xã hội đặc biệt là trường mầm
non thân yêu của trẻ. Vì chính nơi đây trẻ được lớn lên từng ngày nhờ vào sự
yêu thương chăm sóc giáo dục của các cô giáo. Như chúng ta đã biết, chăm sóc
sức khoẻ cho trẻ trong độ tuổi ở trường mầm non là một việc làm hết sức quan
trọng và cần thiết. Trẻ thơ của chúng ta lớn lên là nhờ vào sự nâng niu, âu yếm
và bằng sự yêu thương chăm sóc của ông bà, cha mẹ và của những người mẹ
hiền thứ hai là cô giáo.
“Sức khoẻ là vốn quý của con người” và đời người lại được khởi đầu
bằng tuổi trẻ. Để có một tương lai thì chúng ta không thể bỏ qua một yếu tố
quan trọng là “Sức khoẻ của trẻ thơ” trẻ có được sức khoẻ tốt thì chúng sẽ tham
gia tích cực vào các hoạt động vui chơi và phát triển toàn diện về đức - trí - thể
- mỹ - lao động. Trường học là cái nôi nuôi nấng trẻ thơ nên người và mỗi
chúng ta, ai cũng mong muốn cho con em mình nên người, khoẻ mạnh. Nhưng
làm thế nào để cho đứa trẻ thật sự khoẻ mạnh thì quả là một điều khó khăn, là
một điều mà không ít các cô giáo mầm non đang trăn trở. Là một giáo viên
mầm non, đã và đang trực tiếp làm công tác chăm sóc – giáo dục trẻ, tôi nhận
thức được tầm quan trọng của vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
đối với con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng là rất cần thiết. Chính về
thế, song hành cùng các môn học, các hoạt động trong trường mầm non mà các
cô giáo cung cấp cho trẻ, thì kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực

1


phẩm cũng là kiến thức quan trọng không thể bỏ qua. Bởi khi nhận thức và hiểu
được về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp cho trẻ biết tự chăm


* Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ở trường mầm non chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm có vai trò rất quan trọng nhằm nâng cao kiến thức về dinh dưỡng và
an toàn thực phẩm tới trẻ, tới cô giáo, tới phụ huynh học sinh và tất cả mọi
người trong cộng đồng chúng ta. Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm, lí trí
của con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi đến tự
giác chăm lo vấn đề ăn uống và sức khỏe của cá nhân, tập thể và cộng đồng.
Nhất là đối với sức khỏe của trẻ em. Trẻ được ăn uống theo đúng yêu cầu dinh
dưỡng thì trẻ sẽ có sức khỏe tốt, trẻ em khỏe mạnh thì trẻ sẽ tham gia tích cực
vào các hoạt động vui chơi, học tập một cách tích cực từ đó phát triển toàn diện
về các lĩnh vực giáo dục, phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Như chúng ta đã biết hiện nay vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội. Đặc biệt đối với ngành
giáo dục, trong đó bậc học Mầm non thì vấn dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm đóng vai trò rất quan trọng đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục trẻ trong nhà trường. Hơn nữa, vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm giữ vị trí quan trọng đối với sức khoẻ trẻ thơ nó góp phần nâng cao sức
khỏe, trí tuệ của trẻ trong xã hội ngày càng phát triển. Chăm sóc nuôi dưỡng vệ
sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non là
việc hết sức quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân cần rất quan tâm đến. Riêng
đối với bậc học mầm non việc chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe của
trẻ, được đặt lên hàng đầu, vì mục tiêu giáo dục mầm non là hình thành nhân
cách con người mới xã hội chủ nghĩa, giúp cho trẻ khỏe mạnh hồn nhiên vui
tươi phát triển cơ thể cân đối hài hòa. Nếu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không tốt
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ảnh hưởng đến trí
tuệ của trẻ. Do đó việc nuôi dưỡng và giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn

mới cho trẻ đi học nên trẻ chưa có thói quen vệ sinh, nề nếp như các trẻ khác,
các trẻ này chưa có khái niệm về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi
được hỏi cháu lúng túng thậm chí không trả lời được nên khi thực hành trẻ
không thực hiện được dẫn đến kết quả đạt được trên trẻ không cao.

4


Công tác phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường còn nhiều hạn chế do
hoàn cảnh và điều kiện kinh tế của các gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên ít
có thời gian quan tâm chăm sóc con. Kiến thức về giáo dục dinh dưỡng và an
toàn thực phẩm còn hạn chế.
Một số trẻ được nuông chiều, thích ăn gì có đấy; một số trẻ điều kiện gia
đình khó khăn thì lại không đủ ăn. Bởi vậy, trẻ chưa thực sự biết được tầm quan
trọng của việc ăn đủ chất, không hiểu được thứ trẻ ăn cung cấp cho trẻ chất gì
mà chỉ thích thì ăn.
Giáo viên còn lúng túng khi tích hợp phần giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm qua các môn học khác, chưa tổ chức được cho trẻ qua
các hoạt động như hoạt động góc hay hoạt động vui chơi ngoài trời hoặc ở mọi
lúc mọi nơi.
Kiến thức giáo dục dinh dưỡng và an toàn thực phẩm không có môn học
nào nhất định mà giáo viên chỉ lồng ghép tích hợp trong các môn học và các
hoạt động khác.
2.2. Kết quả của thực trạng:
Qua thực nghiệm trên lớp và qua dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy kết quả
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trên trẻ chưa cao, trẻ lĩnh
hội kiến thức còn dập khuôn, thụ động.
Ví dụ: Khi cho trẻ tham gia hoạt động góc phân vai: đóng vai thành viên
gia đình như thể hiện hành động nấu ăn, cô hỏi:
“ Bác” đang làm gì đấy?

Trẻ biết hoạt động
chế biến các món
ăn đơn giản
Trẻ biết sử dụng
dụng cụ ăn uống
đơn giản
Có thói quen vệ
sinh văn minh
trong ăn uống
- Có thói quen VS
cá nhân.

Số
trẻ

Tốt

Khá

Trung
bình
Số Tỷ lệ
trẻ (%)

Chưa đạt
Số
trẻ

Tỷ lệ
(%)


4

11,4

9

25,7

9

25,7

13

37,2

35

7

20

7

20

14

40


14,3

6

17,1

3

8,6

35

3

8,6

8

22,9

9

25,7

15

42,8

35

của trẻ để cô vừa là người bạn, người mẹ vừa là người hướng dẫn giúp trẻ thấy
thoải mái tự tin, tham gia tích cực và đạt hiệu quả cao trong hoạt động.
3.2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện.
3.2.1. Xây dựng nề nếp học tập:

7


Tôi luôn chú trọng xây dựng nề nếp học tập trong giờ học cũng như các
hoạt động trên lớp của trẻ. Nề nếp của trẻ là điểm đầu tiên cho mọi hoạt động
của trẻ, nếu trẻ không nề nếp tốt sẽ dấn đến kết quả học tập không tốt. Tôi rèn
nề nếp bằng cách chia tổ, đặt tên tổ và bầu ra tổ trưởng. Trong giờ học, xếp
cháu mạnh dạn với cháu nhút nhát, cháu yếu kém xếp phía trên gần cô. Những
cháu thiếu tập trung hay phân tán tư tưởng, tôi quan tâm động viên, khích lệ trẻ
tập trung chú ý, kịp thời uốn nắn tác phong ngồi học, thái độ kết hợp với bạn
trong nhóm cho những cháu chưa chú ý, có tính cá nhân. Cuối ngày nhận xét,
nêu gương và bình cờ, có thái độ khen chê rõ ràng đối với trẻ.
3.2.2. Tạo môi trường hoạt động về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Môi trường hoạt động sẽ giúp trẻ tìm tòi, khám phá và phát hiện nhiều
điều mới lạ; các kiến thức, kĩ năng của trẻ được củng cố và bổ sung. Vì thế, tôi
luôn trang trí lớp, tạo môi trường học tập phong phú . Trong lớp tôi có làm
bảng biểu “ Bé với dinh dưỡng” với đầy đủ các nhóm thực phẩm và tôi đã chia
theo nhóm với hình thức tạo góc mở để trẻ hoạt động . Bầy đồ chơi đẹp như các
dụng cụ, đồ dùng đồ chơi đẻ trẻ có thể thực hành chế biến món ăn. Chuẩn bị
một số nguyên liệu gần gũi, những nguyên liệu chế biến món ăn đơn giản để trẻ
có thể thực hành dễ dàng. Ngoài ra, tôi còn treo một số hình ảnh về vệ sinh
trong ăn uống, cách ngồi ăn và sử dụng đồ dùng, dụng cụ để trẻ được quan sát
học tập và rút ra kinh nghiệm cho mình.
Môi trường hoạt động thuận lợi sẽ giúp trẻ tri giác tốt hơn; thông qua
những hình ảnh miêu tả về hành động việc làm cũng phần nào giúp trẻ phâmn

thực phẩm cho trẻ, cô phải khéo léo khi lựa chọn nội dung kiến thức sao cho
phù hợp với nội dung bài dạy. Tôi luôn phải lựa chọn những ngôn từ sao cho
cung cấp, khi hỏi, khi dặt tình huống trẻ dẽ hiểu, trẻ dễ dàng nhận thức được
vấn đề và đưa ra đáp án.
Ví dụ: Ngày chủ nhật tuần này, gia đình bạn búp bê được nghỉ, cả gia
đình sẽ chuẩn bị những món ăn ngon để liên hoan , bạn búp bê sẽ nhờ các con những người nội trợ giỏi đến giúp bạn. Theo con, con sẽ chuẩn bị món gì ; sẽ
bắt đầu như thế nào; tiếp theo sẽ như thế nào; Trong bữa ăn cần ăn như thế nào
mới dảm bảo sức khoẻ hãy nói cho gia đình bạn búp bê biết nào....

9


Tức là cô sẽ để trẻ tự thể hiện ý tưởng của mình và cô là người gợi ý
giúp đỡ. Khi trẻ thể hiện cô cần tăng cường các câu hỏi gợi ý nhằm giúp trẻ
củng cố lại những gì trẻ đã lĩnh hội được, khuyến khích trẻ sáng tạo, suy nghĩ
để giải quyết vấn đề. Từ đó, cô thăm dò được khả năng của trẻ để có biện pháp
thích hợp hơn.
3.2.4. Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua
các môn học.
Như trên tôi đã đề cập: “Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm không phải là một môn học riêng trong chương trình chăm sóc giáo dục
trẻ mầm non”. Chính vì thế, cô giáo cần linh động, sáng tạo phương pháp tích
hợp dựa trên nền tảng đổi mới phương pháp giáo dục; quá trình vận dụng tích
hợp cần lựa chọn nội dung phù hợp, logic, tránh quá trình trở nên chắp vá, rời
rạc
Trong hoạt động: làm quen với môi trường xung quanh, khi học về các
loại quả - hạt phổ biến, cô có thể khai thác lĩnh vực dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm bằng cách hỏi, gợi ý để trẻ nói lên những gì trẻ biết: quả đó
cung cấp chất gì? Hạt cung cấp chất gì? Trước khi ăn cần làm gì?... Đến phần
luyện tập, cô có thể kết hợp trò chơi: chọn quả một hạt, quả nhiều hạt. Chọn hạt

Khi cho trẻ tham gia hoạt động góc, tôi cho trẻ thực hành chế biến món
ăn ở góc phân vai; xây dựng cửa hàng bán thực phẩm và chia theo nhóm; vẽ
thực phẩm theo nhóm ở góc nghệ thuật hay phân loại thưc phẩm theo nhóm ở
góc học tập...
Giờ ăn, trước khi ăn, nhắc trẻ đi rửa chân tay mặt mũi; sau khi chia cơm
cho trẻ, tôi hỏi xem hôm nay con được ăn món gì? cung cấp chất ding dưỡng
gì? Khi ăn phải như thế nào (ngồi nghiêm tức, không làm rơi vãi, không bốc
tay, nếu ho hay hắt hơi phải lấy tay che miệng...). khi ăn xong, nhắc trẻ đánh
răng, xúc miệng, vệ sinh trước khi ngủ. thường xuyên như thế, tôi dã tạo được
thói quen cho trẻ trong việc ăn uống của trẻ. từ việc nhận biết món ăn, phân
biệt món ăn đến cách sử dụng đồ dùng trong ăn uống và vệ sinh trong ăn uống
Giờ hoạt động chiều, tôi tổ chức trò chơi, đọc câu đố về thực phẩm rồi có
thể khai thác về lĩnh vực dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

11


Ngoài ra, trong hoạt động trò chuyện buổi sáng hay một lúc nào đó trong
ngày, ngoài giờ học, trẻ vẫn có thể được tìm hiểu về dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm. ví dụ: trẻ chăm trú ngắm nhìn hình ảnh tôi treo ở góc “Bé với
dinh dưỡng”, tôi hỏi hình ảnh đó vẽ gì? Chỉ cho cô món giàu chất đạm, giàu
chất bột...? Hay con biết món này chế biến như thế nào không? Khi ăn cầ phải
như thế nào?...
Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường cũng
không kém phần quan trọng. Tôi thường trao đổi với phụ huynh vào giờ đón trẻ
và trả trẻ về tình hình học tập của trẻ để phụ huynh nắm được tình hình của con
em mình và có biện pháp giáo dục trẻ ở nhà. Những phụ huynh không có điều
kiện đưa đón, tôi viết giấy mời để phụ huynh thu xếp lên trao đổi với cô giáo.
Nói tóm lại, khi sử dụng các biện pháp, cô cần linh động sáng tạo, biết
lựa chọn nội dung tích hợp phù hợp. Tùy vào sự hứng thú, đặc điểm tâm- sinh

tôi thấy các kiến thức trẻ lĩnh hội được rất chính xác. Những trẻ thông minh đã
có nhiều ý tưởng sáng tạo và thực hiện được những ý tưởng đó. Bên cạnh đó,
trẻ nhận biết và phân biệt được những nhóm thực phẩm, tự biết chăm sóc cho
mình: ăn uống các món khác nhau với các nhóm chất khác nhau, vệ sinh thân
thể cũng như giữ gìn vệ sinh trong ăn uống để đảm bảo sức khỏe.
Khi nghiên cứu và sử dụng các biện pháp trên để giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, tôi đã thu được kết quả rất khả quan:
Đạt
Nội dung

Số
trẻ

Trẻ biết gọi tên các
loại thực phẩm đơn 35
giản
Phân loại, nhận
biết, phân biệt được
35
4 nhóm thực phẩm
thông thường
Trẻ biết ăn nhiều
loại thức ăn khác 35
nhau

Tốt

Khá

Trung


11

31,4

0

0

12

34,3

14

40

9

25,7

0

0

13

37,1

10


7

20

16

62,8

6

8,6

23

65,7

12

34,3

0

0

0

0

10

riêng nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức, kĩ năng thái độ đúng về dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
2. Kiến nghị
Để phát triển giáo dục toàn diện cho trẻ những năm tới và đáp ứng với
nhu cầu hiện nay. Tôi kính đề nghị Ban giám hiệu nhà trường quan tâm và tạo
14


điều kiện hơn nữa cho chị em giáo viên chúng tôi được học hỏi nhiều về
chuyên môn, đồng thời hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi, một sồ trang thiết bị dạy học
để chị em chúng tôi có điều kiện chăm sóc, giáo dục trẻ tốt hơn.
Đối với phòng giáo dục: tôi mong muốn và kính đề nghị chọn các sáng
kiến kinh nghiệm hay về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm để giáo viên
chúng tôi được học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và có nhiều kinh
nghiệm trong việc tổ chức hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm cho trẻ.
Trong quá trình tìm hiểu, viết sáng kiến kinh nghiệm bản thân tôi sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong sự quan tâm, giúp đỡ và góp
ý kiến của các chuyên viên phòng giáo dục, ban giám hiệu nhà trường cùng các
đồng nghiệp để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn.
Để nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các tài liệu tham khảo:
* Đánh giá và kích thích sự phát triển của trẻ 3 – 6 tuổi- Tác giả Tạ Ngọc
Thanh – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
* Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non – Tác
giả Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết – Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status