Một số biện pháp chỉ đạo dạy học hình tam giác và hình thang cho HS lớp 5 - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Để phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ là mục tiêu của mọi xã
hội. Nghị quyết Trung ương II khoá 8 đã khẳng định “Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu”. Chính vì vậy mà Đảng và nhân dân đã
không ngừng quan tâm đến chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực cho
đát nước.
Chương trình toán của Tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn.
Toán học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình
thành và phát triển nhân cách học sinh. Trên cơ sở cung cấp những tri
thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, các
đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống
và một số yếu tố hình học đơn giản.
Môn toán ở Tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực
trừu tượng hoá, khái quán hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú
học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng
bằng lời, bằng viết, các, suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện phương
pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.
Trong dạy - học toán ở Tiểu học, cùng với các mạch kiến thức
khác thì mạch kiến thức hình học cũng là một nội dung cơ bản của
chương trình. Kiến thức về hình học được rải đều ở tất cả các khối lớp
và được nâng cao dần về mức độ theo nguyên tắc đồng tâm: Từ nhận
diện hình đơn giản ở lớp 1 như hình vuông, hình tam giác, hình tròn,
điểm, đoạn thẳng; sang lớp 2 đó là hình chữ nhật, hình tứ giác, tính chu
vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác đến tính chu vi, diện tích, thể tích
một số các hình khác ở các lớp 3, 4, 5. Nói chung, hình học là môn học
tương đối khó trong chương trình môn Toán vì nó đòi hỏi ở người học
khả năng tư duy trừu tượng, những em có khả năng tư duy tốt sẽ rất
thích học môn này, ngược lại những em có khả năng tư duy chậm hơn
thì rất ngại học dẫn đến tình trạng học sinh tiếp thu chậm, chưa hoàn
thành môn học ở môn toán chiếm tỉ lệ khá cao so với các môn học khác.

toán về hình tam giác, hình thang ở lớp Năm, từ đó đúc rút kinh nghiệm,
đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm góp phần hình thành, phát triển kỹ
năng và nâng cao chất lượng dạy học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
*Thực trạng và biện pháp chỉ đạo dạy học kiến thức hình tam giác,
hình thang cho học sinh lớp 5.
* Nghiên cứu khách thể:
+ Giáo viên dạy lớp 5.
+ Học sinh lớp 5.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận;
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
* Phương pháp quan sát;
* Phương pháp điều tra bằng anket;
* Phương pháp điều tra bằng trò chuyện;
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
+ Nhóm phương pháp thống kê toán học.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Khái niệm về chỉ đạo dạy học:
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý
đến hành vi và thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu
đã đặt ra. Chỉ đạo là thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể
quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện các
mục tiêu đã đặt ra.
Trong nhà trường, chỉ đạo dạy học là giao việc cho các thành


3


Phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí mục
đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của môn toán và trong giờ dạy
toán lớp 5 nói riêng. Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức
toán học, rèn kỹ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt
động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một
cách khoa học, hiệu quả cho học sinh tức là dạy cách học. Vì vậy giáo
viên phải đổi mới phương pháp và các hình thức dạy học để giúp học
sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức về hình tam giác, hình thang đạt kết
quả cao hơn.
2.1.4. Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học
nói riêng đang thực hiện từng bước để nâng cao chất lượng học tập cho
học sinh theo hướng phát huy tính tính cực của học sinh, làm cho hoạt
động dạy trên lớp "nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả". Để đạt được yêu cầu
đó giáo viên phải có sự chuẩn bị bài chu đáo, phương pháp và hình thức
dạy học để nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh, vừa phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học
sinh. Để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của
ngành giáo dục tiểu học nói riêng .
2.1.5. Dạy học kiến thức hình tam giác, hình thang cho học sinh lớp 5
được giới thiệu cụ thể như sau:
* Hình tam giác
- Trong môn Toán lớp 5, hình tam giác được giới thiệu qua
một hình vẽ cụ thể về hình tam giác ABC, là hình có: ba cạnh, ba đỉnh,
ba góc.
A
+ Ba cạnh là: cạnh AB, cạnh AC, cạnh


C

H

C

B

A

I

C

B

+ Hình tam giác có một góc tù và hai góc nhọn: từ một đỉnh bất kì
ta kẻ được đường cao tương ứng với đáy: có hai đường cao ngoài tam
giác.
A

A

A
K

H

B

A

A
K

B

C

Đáy BC, đường cao
AB

C

B

Đáy AB, đường cao
BC

- Công thức tính diện tích hình tam giác:

C

B

Đáy AC, đường cao
BK
S=

a×h

S=

( a + b) × h
2

Trong đó: S: Diện tích
a, b: Độ dài 2 đáy
h: chiều cao
Chính vì những cơ sở lý luận trên, với trách nhiệm lớn lao của
một người cán bộ quản lý, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để nâng cao
chất lượng dạy và học về kiến thức hình học ở cấp Tiểu học chung và
kiến thức về hình tam giác, hình thang cho học sinh lớp 5 nói riêng; đây

6


là nhiệm vụ quan trọng và cần phải có sự nổ lực phấn đấu, là một việc
rất cần thiết mà mỗi giáo viên Tiểu học cần phải quan tâm để nâng cao
chất lượng giáo dục nhằm duy trì và phát triển chất lượng trong nhà
trường ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục trong
thời đại hiện nay .
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sang kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Tình hình địa phương:
Quảng Hợp là một xã vùng đồng nằm ở phía Tây Nam huyện
Quảng Xương, kinh tế chủ yếu từ nông nghiệp nhưng cán bộ và nhân
dân địa phương luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục và các điều kiện
phục vụ dạy và học trong nhà trường. Nhà trường thực hiện có hiệu quả
công tác xã hội hoá giáo dục nên trường đã được công nhận chuẩn Quốc
gia mức độ II, trường văn hoá cấp huyện, địa phương được công nhận
nông thôn mới năm 2015.

61
35
4
4
2
64
32
5
5
2
63
42
Toàn trường
10
342
173
Tỷ lệ học sinh / lớp: 342 học sinh/11 lớp = 31.0 HS/ lớp.
2.2.3. Tình hình học sinh lớp 5.
Năm học 2015 – 2016 có 63 học sinh; trong đó có 42 nữ; 21 nam.
được chia làm 2 lớp cụ thể như sau:

7


TT

Lớp

Số Nữ
HS

5B
32 20 18
8
6
31
1
0
Tổng K5 63 23 35 14
14
60
3
0
Nghề nghiệp chính của các gia đình học sinh là nông nghiệp, chăn
nuôi, buôn bán nhỏ và công nhân.
2.2.4. Thực trạng học kiến thức hình tam giác, hình thang ở lớp 5.
- Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều. Một số học sinh
còn chậm, nhút nhát, các em chưa nắm rõ bản chất của các đơn vị kiến
thức do vậy ngoài việc vận dụng được các công thức chính về tính chu
vi, diện tích, thể tích các hình thì việc vận dụng công thức chính để xây
dựng các công thức phụ tính các yếu tố như chiều dài, chiều rộng, chiều
cao hay đáy lớn, đáy bé …học sinh vẫn còn lúng túng, kết quả là chưa
đáp ứng được yêu cầu của bài tập thực hành.
- Kĩ năng tính nhẩm và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn
hạn chế.
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy
móc nên còn chóng quên các dạng bài, vì thế giáo viên phải khắc sâu
kiến thức từng dạng, loại bài cho học sinh.
Làm thế nào để Giáo viên dạy một cách có hiệu quả kiến thức về
hình tam giác, hình thang cho học sinh và các em có thể sử dụng kiến
thức cơ bản một cách linh hoạt ở từng trường hợp cụ thể để học tốt nội

Tiết 87: Luyện tập
Tiết 88: Luyện tập chung.
+ Kiến thức về hình thang dạy 4 tiết (Từ tiết 90 đến tiết 93).
Tiết 90: Hình thang
Tiết 91: Diện tích hình thang
Tiết 92: Luyện tập
Tiết 93: Luyện tập chung
Ngoài ra, phần luyện tập về tính diện tích và ôn tập cuối năm nôi
dung kiến thức này cũng được đề cập đến qua một số bài tập cụ thể .
2.3.2. Chỉ đạo giáo viên lựa chọn phương pháp, cách thức tổ chức
dạy học phù hợp cho từng loại bài
* Đối với giáo viên: Phải biết lựa chọn phương pháp dạy học phù
hợp để đạt được kết quả cao trong từng tiết dạy.
Khi dạy bất cứ bài nào, giáo viên cũng phải nắm vững mục tiêu và
nội dung của bài đó, sau đó chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, ngắn
gọn dễ hiểu.
* Đối với học sinh : Học sinh phải có đầy đủ các dụng cụ học
toán. Học sinh tiếp thu tốt trong những buổi bồi dưỡng, sinh hoạt câu lạc
bộ riêng biệt cần có thêm sách giáo khoa về luyện giải, sách giáo khoa
nâng cao...phải tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực.
Trách nhiệm của học sinh là phát hiện, chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức
đó vào thực hành. Song không thể thiếu được những kiến thức về toán
học có hệ thống logic từ lớp dưới.

9


Để học sinh có thói quen học bài, làm bài đầy đủ và chúng tôi đã
thống nhất với giáo viên bố trí mỗi bàn có một bàn trưởng là học sinh
tiếp thu khá tốt toán, thường xuyên kiểm tra bài học, bài chuẩn bị ở nhà

AH là đường cao tương ứng với đáy BC như hình vẽ trên bảng. Nếu
lấy đáy là AC ta sẽ có đường cao nào? Tương tự nếu lấy đáy là AB thì
đường cao sẽ hạ từ đâu?
Học sinh suy nghĩ để tìm cách vẽ với yêu cầu đáy là BC, là AC,
là AB như hình vẽ dưới đây:

10


A

A

K
B

C

H

C

B

A

I

C


nhọn nằm trong hay ngoài hình tam giác? ( đều nằm trong hình tam
giác).
+ Với tam giác có một góc tù và hai góc nhọn:

11


Với loại hình tam giác ngoài việc kẻ đường cao trong tam giác
thì việc kẻ hai đường cao nằm ngoài tam giác đối với học sinh rất khó
khăn. Sách giáo khoa đã giới thiệu đường cao AH tương ứng với đáy BC
nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh để kẻ được đường cao trước hết ta
phải kéo dài đáy sang hai bên, sau đó kẻ đường cao AH từ đỉnh A vuông
góc xuống BC.
A

H

C

B

Tương tự phần trên, giáo viên cũng đưa ra các tam giác với các vị
trí đáy khác nhau và yêu cầu học sinh thực hành kẻ đường cao tương
ứng với các đáy. Lưu ý học sinh thực hiện theo 2 bước:
- Kéo dài đáy .
- Kẻ đường cao từ đỉnh vuông góc xuống đáy.
Sau khi các em thực hiện xong, đáp án đúng sẽ là:
A

C

Ví dụ: Khi tính diện tích hình tam giác ADM thì học sinh phải dựa
vào đáy DM và chiều cao ngoài AH (hình dưới đây):
A
B

12


D M
H
C
+ Với tam giác có một góc vuông và hai góc nhọn:
Trong sách giáo khoa chỉ giới thiệu AB là đường cao ứng với đáy
BC còn ở bài tập 2 chỉ yêu cầu học sinh xác định đường cao trong tam
giác nhưng giáo viên cần cho học sinh quan sát và khẳng định thêm:
- Nếu xem BC là đáy thì AB là đường cao.
- Nếu xem AB là đáy thì BC là đường cao.
Sau khi học sinh nhận biết được đáy, đường cao của loại tam giác
này, giáo viên lại cho học sinh xác định với các tam giác có vị trí đáy
khác nhau. Đáp án cuối cùng là:
C

B

C

A

K


+ Ghép hai mảnh vào hình tam giác còn lại để được hình chữ nhật
ABCD. Giáo viên thao tác trên đồ dùng cho học sinh quan sát và cho
học sinh làm theo, sau đó nhận xét : Hình chữ nhật ABCD có chiều dài
bằng độ dài đáy DC của tam giác EDC, có chiều rộng bằng chiều cao
EH của tam giác EDC.

13


A

E

D

H

B

C

Diện tích hình chữ nhật ABCD gấp 2 lần diện tích hình tam giác
EDC.
Diện tích hình chữ nhật ABCD là DC x AD = DC x EH
Vậy diện tích tam giác EDC là

DC × EH
2

Từ đây phát biểu quy tắc và hình thành công thức : S =

Như vậy học sinh có thể dùng 2 công thức này để làm bài tập dạng:
a) Tam giác có diện tích là 84 cm 2 , chiều cao là 14 cm. Tính độ dài
cạnh đáy?

14


b) Tam giác có diện tích là

1 2
1
m , độ dài đáy là m. Tính chiều cao?
5
4

Và học sinh làm được bài tập 1 tiết 103 (trang 106): Cho hình tam
giác có diện tích

1
5 2
m , chiều cao m. Tính độ dài đáy của tam giác đó.
2
2

Bài giải
Độ dài đáy của hình tam giác đó là:
5 1 5
(2 × ) : = (m)
8 2 2
5


B

C

- Học sinh vận dụng khái niệm: Hình thang có 1 cặp cạnh đối diện song
song để :

15


+ Nhận diện hình thang ở bài tập 1 (trang 91- SGK) : Trong các hình ở
bài tập1, những hình thang là : hình 1, hình 2, hình 4, hình 5, hình 6.
+ Vẽ hình thang ở bài 3 (trang 92 -SGK).
+ Nắm khái niệm hình thang vuông ở bài 4( trang 92- SGK)
Tiết 91 : Diện tích hình thang
- Giáo viên yêu cầu học sinh cắt ghép hình thang theo nhiều cách
khác nhau để tìm diện tích hình thang :
Cách 1 :
A
B
M

D
H
1. Cắt theo AM.
2. Đặt B ≡ C (trùng nhau) A ≡ N
3. S

ABCD = S AND =

Cách 3 :
H’
A

D

Cắt theo AC

S

MPS

B

H

=S

S

C

ADC + S

ABC

Cách 4 :

16


S

=

( a + b) × h
2

Trong đó:
S là diện tích
a,b là độ dài các cạnh đáy ; h là chiều cao
- Cuối cùng học sinh vận dụng công thức để tính diện tích hình khi biết
độ dài hai đáy và chiều cao ở tiết 91 + 92 + 93.
Tuy nhiên cũng như việc dạy diện tích hình tam giác thì việc dạy
diện tích hình thang cũng không chỉ dừng lại ở việc vận dụng công thức
để tính diện tích mà còn phải tính độ dài hai đáy hoặc chiều cao khi đã
biết diện tích. Chính vì vậy mà giáo viên cần giúp học sinh rút ra cách
tính độ dài hai đáy và chiều cao dựa vào công thức tính diện tích.
Từ công thức: S =

( a + b) × h
2

Ta xem: (a + b) x h là số bị chia
2 là số chia
S là thương
Thì theo cách tìm số bị chia ta có: (a + b) x h = S x 2 .
Ta xem: ( a + b) là thừa số , h là thừa số
S x 2 là tích.
Thì theo cách tìm thừa số chưa biết ta có: a + b = S x 2 : h.
h = S x 2 : ( a + b)


21.9%

Điểm 7 - 8
SL TL
7

21.9%

Điểm 5 - 6
SL TL

Điểmdưới 5 TB trở lên
SL TL
SL TL

12

37.5%

8

25.0%

32

100%

5A
(31HS) 12 38.7% 11 35.5%

18


3.1. Kết luận:
Để có kết quả giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt
tình và có phương pháp giảng dạy tốt. Có một phương pháp giảng dạy
tốt là một quá trình tìm tòi, học hỏi và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm
của bản thân mỗi người.
Là CBQL được phân công phụ trách, chỉ đạo giáo viên dạy lớp
5, tôi nhận thấy việc tích lũy kiến thức cho các em học sinh là cần thiết,
nó tạo nên tiền đề cho sự phát triển trí thức của các em, “nền móng”
vững chắc sẽ tạo động lực thúc đẩy để tiếp tục học lên các lớp trên và hỗ
trợ các môn học khác. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, đưa ra phương
pháp giúp học sinh học tập – học sinh phải là người hoạt động tích cực
tìm tòi tri thức và lĩnh hội để biến nó thành vốn quý của bản thân. Khi
làm việc này, để có kết quả như mong muốn thì phải có sự kiên trì, bền
chí của cả hai phía giáo viên – học sinh vì thời gian không phải là 1
tuần, 2 tuần là các em học sinh sẽ có khả năng tiếp thu bài tốt mà đòi hỏi
phải tập luyện lâu dài trong cả quá trình học tập của các em.
3.2. Kiến nghị: Để giúp việc dạy - học hình tam giác và hình thang ngày
càng tốt hơn đòi hỏi:
* Đối với phụ huynh: Mua sắm đầy đủ tài liệu, ĐDHT cần thiết cho
HS.
* Đối với giáo viên: Nắm vững chương trình, vận dụng phương pháp và
hình thức dạy học theo hướng đổi mới, lựa chọn các giải pháp trong dạy
học phù hợp với từng dạng bài, cần chú ý bồi dưỡng HS hoàn thành
chương trình, phụ đạo HS chưa hoàn thành chương trình trong từng tiết
dạy.
* Đối với chuyên môn nhà trường: Duy trì việc dạy đối chứng, thử
nghiệm theo các SKKN, tăng cường hội thảo rút kinh nghiệm và tìm ra

1
1
2
2
2
3
3
7
7
7
7
8

2.3. Những giải pháp sử dụng giải quyết vấn đề:
2.3.1.Chỉ đạo GV nắm được vị trí, vai trò, nội dung chủ
yếu dạy hình tam giác, hình thang cho học sinh lớp 5.

8
8

2.3.2. Chỉ đạo GV lựa chọn phương pháp, cách thức tổ
chức dạy học phù hợp theo từng loại bài.

9

2.3.3. Chỉ đạo giáo viên lớp 5 dạy toán về hình tam giác,
hình thang.

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status