skkn một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn toán lớp 4 - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu

TRANG
02
02
03
03
03

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

03
03
04
05
12

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghi


nại, ý chí vượt khó khăn.
Từ vi trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho
người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được
phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán
học. Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào để truyền đạt kiến
thức và khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học.
Theo tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vi trí
mục đích và nhiệm vụ mục tiêu giáo dục của môn toán ở bài học nói chung và
trong giờ dạy toán lớp 4 nói riêng. Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến
toán học, rèn kỹ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động
nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học,
hiệu quả cho học sinh tức là dạy cách học. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục
khác với sản phẩm của người thợ may, thợ mộc... sản phẩm của giáo dục là đào
tạo ra những con người biết sáng tạo. Vì vậy việc lựa chọn, sử dụng ưu thế của
từng PPDH sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung ở từng loại bài học, ở từng
lớp học, ở từng giai đoạn dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động
sáng tạo của học sinh phải là một nghệ thuật. Trong giảng dạy, mỗi GV đều có
cách thức, biện pháp riêng của mình. Song đều phải đạt mục đích chung là tổ
chức hoạt động dạy học hiệu quả.
Xuất phát từ quan điểm chương trình mới cần thực hành, vận dụng nên
nói chung nội dung chương trình thường tinh giảm, tập trung vào các kiến thức

2


kỹ năng cơ bản bám sát thực tế, tích hợp được nhiều mặt giáo dục. Nhằm phát
huy những ưu điểm, kip thời khắc phục những hạn chế, để giúp học sinh lĩnh hội
được đầy đủ các kiến thức từ những phương pháp dạy học. Qua thực tế giảng
dạy, bản thân tôi luôn trăn trở phải làm gì, làm như thế nào để HS tự chiếm lĩnh
kiến thức môn Toán một cách nhẹ nhàng, biến những ý nghĩ "học Toán thật là

cũng chưa khai thác hết những đơn vi kiến thức cần củng cố, những kiến thức
cần mở rộng hay chốt lại cách thực hiện.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học không kém phần quan trọng. Đồ dùng dạy
học phong phú, mới lạ, hay đơn giản đều phải có tác dụng thu hút các giác quan,
tăng sự chú ý của học sinh vào bài giảng. Điều quan trọng là phải tạo chỗ dựa
cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo. Những đồ dùng dạy học càng thu hút
và huy động được nhiều các giác quan của học sinh thì càng có hiệu quả. Một số
giáo viên chỉ vẽ hình và cho học sinh quan sát, tìm kiến thức mới trên hình:
Không cho các em thao tác và như thế các em chỉ huy động được giác quan thi
giác (nhìn lên bảng) và thính giác (nghe cô giảng bài). Thực tế, một số giáo viên
ít dành thời gian cho việc nghiên cứu, chuẩn bi thiết bi, đồ dùng dạy học phục
vụ cho tiết dạy đạt hiệu quả dẫn tới việc tiếp thu bài môn Toán chưa cao.
* Về phía học sinh:
Qua giảng dạy tôi thấy, rất nhiều em do điều kiện kinh tế gia đình còn khó
khăn, cha mẹ chưa có thời gian quan tâm đến việc học tập của các em nên chủ
yếu các em học ở trên lớp là chính. Vì thế việc học tập của các em gặp rất nhiều
trở ngại.
Bên cạnh đó, HS chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toán, ngại học
toán. Học sinh chưa chiu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những
phương pháp học đúng để biến tri thức của thầy thành của mình. Cho nên sau
khi học xong bài, các em chỉ nắm được lượng kiến thức thầy giảng theo kiểu ghi
nhớ máy móc, làm bài theo các bước, không thể giải thích được các bước giải,
hoặc rất nhanh quên và kỹ năng tính toán hạn chế.

4


Ví dụ: Khi học xong các các phép tính với phân số các em vẫn còn nhầm
lẫn: cộng hai phân số cùng mẫu số cũng quy đồng rồi cộng hai tử số, có khi
nhân phân số các em cũng quy đồng mặc dù khi học xong bài mới các em vân

13

34,2

Từ thực trạng và kết quả khảo sát trên, tôi đã nghiên cứu để tìm ra cách
giải quyết khắc phục.
2. Các biện pháp đã sử dụng
Biện pháp 1: Giúp học sinh hiểu một số thuật ngữ toán học khi học
môn Toán.
Trong chương trình Toán 4, tên đầu bài chính là kiến thức trọng tâm của
bài. Khi dạy học bài mới, GV cần chú ý giải nghĩa các thuật ngữ toán học mới
mà HS lần đầu làm quen. Liên hệ với các từ ngữ chứa các thuật ngữ thường
dùng trong cuộc sống. Điều này sẽ giúp HS đinh hình và hiểu vấn đề bài học tốt
hơn. Tùy thuộc vào từng bài học mà GV có thể chọn thời điểm giải nghĩa hay
liên hệ cho phù hợp.
Ví dụ: Bài "Quy đồng mẫu số các phân số".
Đây là bài học mà lần đầu tiên HS được tiếp xúc với thuật ngữ "quy
đồng". Sau khi giới thiệu bài học, GV cần giúp HS hiểu nghĩa của từ này bằng
cách Tìm hiểu nghĩa của từng từ: " quy" là gom lại, đưa về, tính về...,"đồng" là
"cùng" ,"quy đồng" trong toán học được hiểu là tính về cùng. Vậy "quy đồng
mẫu số" là tính về cùng mẫu số ( làm cho các mẫu số giống nhau).
Ví dụ: Bài "Tính chất giao hoán của phép cộng".

5


Thuật ngữ " tính chất giao hoán" cũng là lần đầu tiên HS được tiếp xúc.
Vì tên thuật ngữ này liên quan đến nội dung tính chất nên GV cần giúp HS hiểu
nghĩa của từ ngay từ đầu bài học: "giao hoán" là trao đổi vi trí từ đó hiểu nội
dung tính chất giao hoán của phép cộng là thay đổi vi trí ( đổi chỗ) các số hạng

chia 32 : 4. HS phải lí giải được số bi chia, số chia đã cùng giảm 10 lần, và khi
cùng giảm như vậy thì thương không thay đổi.
+ Bước 3: Rút ra nhận xét: Khi chia 320 : 40 ta có thể cùng xóa một chữ
số 0 ở tận cùng của số bi chia, số chia , rồi chia như thường.
Với cách làm trên, HS vừa chủ động chiếm lĩnh kiến thức, vừa hiểu bản
chất cách làm mà không tiếp thu thụ động theo hướng dẫn từng bước của GV.
* Ví dụ 2: 32000 : 400 = ?
HS có thể vận dụng những hiểu biết ở ví dụ 1 để tìm thương của phép
chia này.
Trong thực tế giảng dạy, tôi đã gặp 2 trường hợp xảy ra:
6


Trường hợp 1: Nhiều HS khá, giỏi thực hành và tìm ngay được kết quả
của phép tính. Các em đã giảm số bi chia và số chia 100 lần bằng cách cùng xóa
ở số chia và số bi chia mỗi số hai chữ số 0.
32000 : 400
= 320 : 4
=
80
Khi GV yêu cầu HS giải thích cách làm, HS dùng tính chất chia một số
cho một tích, liên hệ ở ví dụ 1 để lí giải rất chính xác.
Trường hợp 2: Một số HS trung bình, yếu thực hiện tuần tự như ví dụ1.
Như vậy, việc HS tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề ở ví dụ 1 đã giúp
HS hiểu sâu ví dụ 1, là cơ sở cho sự liên tưởng đến cách giải quyết vấn đề của ví
dụ 2.
Có thể nói, việc giúp HS tự mình phát hiện và tự giải quyết vấn đề sẽ giúp
HS tiếp thu kiến thức nhanh, hiệu quả và ghi nhớ lâu vì đó là trải nghiệm của
các em.
Bên cạnh đó, GV cần sử dụng phương pháp hỏi đáp giúp HS hiểu và ghi

Câu 2: Trong phép chia nên xóa chữ số 0 ở số nào trước? ( xóa ở số chia
trước, làm vậy sẽ tránh nhầm lẫn trong trường hợp số bi chia có nhiều chữ số 0.)
Những đinh hướng về kiến thức cần khai thác và cách dẫn dắt của GV
như trên, ngoài việc giúp HS hiểu bản chất của cách thực hiện, ghi nhớ cách làm
còn là cơ sở cho việc giải các bài toán củng cố và mở rộng có liên quan đến chia
hai số có tận cùng là chữ số 0.
Biện pháp 3: Sử dụng các đồ dùng dạy học đơn giản, hiệu quả phát
huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
a. Sử dụng linh hoạt đồ dùng dạy học các môn học khác để dạy Toán.
Trong chương trình Toán 4, việc dạy HS có những biểu tượng ban đầu về
các đối tượng toán học, đặc biệt là các yếu tố hình học, phân số phải gắn liền với
việc hướng dẫn HS hoạt động trực tiếp trên các đồ dùng dạy học. Việc sử dụng
triệt để và có hiệu quả các đồ dùng dạy học của môn Toán, của các môn học
khác giúp HS có chỗ dựa cho hoạt động tư duy trong quá trình lĩnh hội các kiến
thức của bài học.
Ví dụ 1: Dạy bài "Góc nhọn, góc tù, góc bẹt".
Để giới thiệu góc nhọn GV và HS sử dụng bộ lắp ghép mô hình kĩ thuật
lớp 4. Cách hướng dẫn và thao tác đồ dùng như sau:
+ Bước 1: Dùng 2 thanh dài trong bộ lắp ghép mô hình kĩ thuật 4 và ốc vít
tạo thành một góc vuông. Bóp nhẹ hai thanh vào trong để tạo thành góc nhọn.
Gọi tên góc mới. Cho HS quan sát, nhận xét sự thay đổi của góc vuông ban đầu
-> Giới thiệu góc vừa tạo thành là góc nhọn.
+ Bước 2: HS thực hành trên đồ dùng để phát hiện và kiểm chứng kết quả.
+ Bước 3: HS tự nêu đặc điểm của góc nhọn , so sánh độ lớn của góc
nhọn với góc vuông. Dùng ê ke để kiểm tra.
+ Bước 4: Cho HS tìm những hình ảnh xung quanh về góc nhọn.
Giới thiệu góc tù, góc bẹt cũng dùng bộ lắp ghép mô hình kĩ thuật 4 với
thao tác tương tự, GV dễ dàng giúp HS nắm vững nội dung bài học.
Với đồ dùng học tập này, HS có thể tự làm, thao tác trong nhóm đôi rồi
trình bày các đặc điểm của góc. Và thực tế HS tự tìm ra và ghi nhớ đặc điểm của

huy tính sáng tạo. Có thể cho HS tự làm đồ dùng, tự thao tác đồ dùng . Cụ thể
như sau:
Chia HS thành các nhóm 4, thao tác đồ dùng theo các yêu cầu trong phiếu
học tập:
+ Bước 1: - Tìm cách chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách
gấp đôi ba lần theo chiều ngang.
+ Bước 2: Tô màu vào

3
2
băng giấy và Tô màu vào băng giấy.
8
8

+ Bước 3: Nhìn vào băng giấy học sinh nêu được hai lần đã tô màu được
5
băng giấy.
8

Học sinh nêu phép tính tìm số phần băng giấy qua hai lần tô màu. Dựa
vào trực quan để nêu kết quả của phép tính. Từ đó tìm ra cách cộng hai phân số:
3
2
3+ 2
5
+ =
= .
8
8
8

GV phải biết lựa chọn đơn vi kiến thức nào phù hợp để tổ chức hoạt động nhóm.
Phải kiểm tra được hiệu quả của HS trong hoạt động nhóm.
Ví dụ: Dạy bài "Diện tích hình thoi".
Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m,
BD = n (hình a)
Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài hai đường chéo, học
sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau chứ không phải một cách như
sách giáo khoa. Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo
và tinh thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm
nhỏ để tìm cách ghép và đưa ra các phương án ghép của mình
* Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b).
Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) =


n
m×n
=
.
2
2

* Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c).
Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) =
m
m×n
× n=
.
2


N

( Hình b )

D

( Hình c )

Trên cơ sở phân tích các phương án lắp ghép, GV gợi ý để HS xây dựng
công thức tính diện tích hình thoi .
Để tất cả HS đều phải tích cực tham gia làm việc, hợp tác ; tạo môi
trường cho HS giúp đỡ nhau trong học tập đồng thời kiểm tra kết quả hoạt động
10


của các nhóm, sau mỗi phần trình bày của các nhóm, GV sẽ tổ chức cho HS
phỏng vấn giữa các nhóm về vấn đề nhóm đó thảo luận. Đối tượng phỏng vấn là
bất kì thành viên nào trong nhóm.
Ví dụ: Bạn hãy cho biết hình thoi và hình chữ nhật các bạn ghép được có
gì chung ? ( Cách 1: Chiều dài AC của hình chữ nhật chính là đường chéo dài AC
của hình thoi. Chiều rộng NC bằng nửa đường chéo ngắn BD của hình thoi).
Việc tìm câu hỏi phỏng vấn và trả lời phỏng vấn có nghĩa là mọi thành
viên của nhóm đã cùng làm việc và hiểu vấn đề.
Biện pháp 5: Tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú học tập trong giờ
học
Trò chơi học tập là hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí
nhưng có nội dung gắn với bài học hoặc hoạt động học tập của học sinh . Trò
chơi học tập có tác dụng giúp học sinh: Thay đổi động hình, chống mệt mỏi,
tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học, phát triển hứng



Hai đội chơi, mỗi đội 4 em. Khi giáo viên ra lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu
tiên của mỗi đội lên đưa những chú gà con có mang phép tính về với gà mẹ có
kết quả của phép tính rồi nhanh chóng về chạm vai bạn thứ hai, bạn thứ hai lên
thực hiện. Cứ như thế cho đến bạn cuối cùng. Đội nào làm đúng, nhanh nhất sẽ
thắng cuộc. Cả lớp tuyên dương.
Trò chơi "Hái quả"
*Mục tiêu: Củng cố tìm phân số của một số.
*Chuẩn bi:
- Giáo viên vẽ 2 cây và đính mỗi cây 30 quả.
- Hai chiếc giỏ
- Cách chơi:
- Giáo viên đính 2 cây quả lên bảng và học sinh hái quả theo yêu cầu của
giáo viên bỏ vào giỏ.
- Hai đội cử đại diện lên hái quả. Đội nào hái đúng và nhanh tuyên dương.
Ví dụ: Trong trường hợp này yêu cầu học sinh hái

2
số quả có ở trên cây
3

(lượt 1).
Lượt 2: Yêu cầu học sinh hái

2
số quả còn lại.
5

Sau mỗi trò chơi, lời động viên, khích lệ tinh thần và hứa hẹn một trò chơi


KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

12


Trong công tác giảng dạy, vai trò của người Thầy rất quan trọng, đặc biệt là
môn Toán. Thầy là người để trò chiếm lĩnh kiến thức, giúp trò hiểu học trò tiếp
thu một cách đầy đủ, chính xác. Ngoài ra, còn thường xuyên rèn luyện cho các
em những kĩ năng cần thiết giúp các em có phương pháp, vận dụng kiến thức đã
học vào việc làm các bài tập liên hệ với thực tiễn. Vì vậy, môn học này có vai trò
vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức
nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng. Vì vậy tôi đã cùng với
Giáo viên trong tổ khối 4; 5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời xây dựng
chuyên đề về môn học này để cùng nhau nâng cao chất lượng môn Toán trong
chương trình học tập ở Tiểu học. Từ đó giúp các em có tri thức trong học tập, để
các em tiến tới các bậc học cao hơn .
Quá trình áp dụng các biện pháp trên vào hướng dẫn học sinh học tốt môn
Toán, bản thân tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm cần có hướng phấn đấu:
- Giáo viên dạy Toán 4 phải nắm được toàn bộ chương trình môn Toán lớp 4,
nắm vững kiến thức Toán trong SGK; SGV; chuẩn kiến thức kĩ năng; giảm tải.
- Nắm bắt, đánh giá năng lực học tập của đối tượng HS của mình để có biện
pháp, cách thức vận dụng và sáng tạo phù hợp trong giảng dạy.
- Có đầy đủ đồ dùng dạy và học cho giáo viên và học sinh ở các tiết học. Phải
đầu tư, nghiên cứu sử dụng nhiều hình thức dạy học, giúp học sinh khai thác
kiến thức mới một cách hấp dẫn, khoa học. Biết tổ chức các PPDH gắn với các
bài tập thực hành luyện tập. giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới và vận

Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán trong chương
trình Tiểu học nói chung và chương trình Toán lớp 4 nói riêng. Trong suốt thời
gian qua bản thân tôi đã nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy và chất
lượng học tập của học sinh đã nâng lên rõ rệt. Các em đã thực sự yêu thích, tự
tin khi học Toán. Đối với tôi, cách dạy trên đã góp phần không nhỏ vào việc dạy
học và giáo dục HS của mình. Mặc dù vẫn còn những vấn đề phải hoàn thiện
tiếp song tôi cũng xin trình bày để đồng nghiệp tham khảo. Mong được sự giúp
đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để các biện pháp này
được hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn, đồng thời được áp dụng rộng rãi trong
việc dạy học môn Toán ở Tiểu học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của Hiệu trưởng

Thanh Hoá, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
Lê Thị Hằng

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status