MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2. Thực trạng việc dạy học về từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
2. Kiến nghị.
Trang
2
2
2
2
2
2
2
3
4
17
18
18
18
nghĩa từ vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ .
- Giúp học sinh có năng lực sử dụng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong
khi nói hoặc viết, để từ đó các em sử dụng được vốn từ làm công cụ giao tiếp tư
duy.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm giúp HS phân bịêt về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế.
- Phương pháp thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về hệ
thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp, khả năng
biểu cảm của ngôn ngữ, quy tắc họat động của ngôn ngữ), đồng thời hình thành
cho học sinh kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết). Ngoài ra Tiếng Việt còn là
công cụ giao tiếp và tư duy. Môn Tiếng Việt còn trang bị cho học sinh một số
2
công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học. Tiếng Việt là công cụ
để học các môn học khác. Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện, là
điều kiện thiết yếu của quá trình học tập. Chính vì thế, giáo viên phải có những
phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn, mặt khác phải có kiến
thức Tiếng Việt vững vàng và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ .
Qua thực tế giảng dạy, qua dự giờ của đồng nghiệp cho thấy việc dạy học
mảng kiến thức về nghĩa của từ còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, bàn cãi.
Giáo viên thường truyền thụ kiến thức về từ nhiều nghĩa và từ đồng âm một
Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5 chương trình Tiếng Việt lớp 5,
các em được học khái niềm về từ đồng âm. Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu
giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu trong đó có các từ đồng
âm. Bài luyện tập về từ đồng âm đã được giảm tải, vì thế thời lượng trong
chương trình dành cho phần kiến thức này còn ít.
Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8. Học sinh được
học khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang
3
nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét nghĩa khác nhau
của một từ.
Dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không có trong khi
đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế. Chính vì thế, khi học
sinh làm bài tập về phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, học sinh còn mơ hồ,
định tính, phần lớn học sinh chưa hiểu được bản chất về sự khác nhau cơ bản
của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1. Tìm hiểu nguyên nhân học sinh thường gặp khó khăn khi phân
biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3.1.1. Nguyên nhân thứ nhất:
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống nhau,
đọc giống nhau, viết cũng giống nhau, chỉ khác nhau về ý nghĩa. Khi dạy học
giáo viên chưa giúp học sinh tìm ra điểm khác nhau cơ bản giữa từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa.
Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công
việc” xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn
khác nhau.
- “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc
hoặc làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.
- bay (cái bay) (Danh từ) - bay(chim bay) (Động từ);
- rắn (chất rắn) (Tính từ) - rắn (con rắn) (Danh từ);
- đá (hòn đá) (Danh từ) - đá (đá bóng) (Động từ);
Đây chính là nhóm từ đồng âm ngẫu nhiên thường gặp, dạng này học sinh
dễ nhận biết.
* Nhóm từ đồng âm do tiếp thu, vay mượn các từ của ngôn ngữ khác: Từ
được vay mượn có thể đồng âm với từ của bản ngữ và chúng tạo nên nhóm đồng
âm; hoặc cũng có khi hai, ba từ được vay mượn từ những ngôn ngữ khác nhau
và đồng âm với nhau.
Ví dụ:
- Trong tiếng Việt: sút1 (giảm sút: gốc Việt) - sút2 (sút bóng: gốc Anh)
* Nhóm từ đồng âm do sự tách biệt nghĩa của từ nhiều nghĩa, một nghĩa
nào đó bứt ra khỏi cơ cấu nghĩa chung và hình thành một từ mới đồng âm với
chính từ ban đầu. Ở đây, thực ra đã có sự đứt đoạn trong chuỗi liên hệ về nghĩa
để dẫn đến những cặp từ đồng âm.
Ví dụ: Trong tiếng Việt: quà1 (món ăn ngoài bữa chính) - quà2 (vật tặng
cho người khác)
* Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên ( gió
bay, bọn bay, cái bay); do từ vay mượn trùng với từ có sẳn( đầm sen, bà đầm; la
mắng, nốt la); do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly; hai ký, chữ
ký;...)
3.2.1.4. Phân loại các từ đồng âm dựa vào yếu tố từ loại.
* Từ đồng âm thuộc cùng một từ loại.
Ví dụ:
+ Cùng từ loại danh từ:
- đường (đắp đường) - đường (đường phèn).
- đường kính (một loại đường để ăn) - đường kính (dây cung lớn nhất của
đường tròn).
Ví dụ:
+ Cùng từ loại động từ:
- em bé tập đi, đứng nghiêm trang chào cờ, bé chạy lon ton, ăn cơm,....
* Nghĩa chuyển: Là nghĩa xuất hiện sau nghĩa gốc, được hình thành trên
cơ sở của nghĩa gốc.
Từ mang nghĩa chuyển bao giờ cũng có mối quan hệ về nghĩa với từ mang
nghĩa gốc.
* Sự phát triển về nghĩa của từ:
- Từ mang nghĩa chuyển, nghĩa của nó được phát triển từ một nét
nghĩa của nghĩa gốc, thường có ba dạng sau :
+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức
giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về
hình dáng.
Ví dụ:
Mũi ( mũi người) và Mũi( mũi thuyền) nghĩa chung là nhọn, nhô về phía
trước
+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở giống nhau về cách thức hay
chức năng của các sự vật, hiện tượng .
Ví dụ: cắt ( cắt cỏ) với cắt (cắt quan hệ )
+ Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở giống nhau về kết quả do tác
động của các sự vật đối với con người.
Ví dụ: đau (đau vết mổ) và đau (đau lòng)
- Ngoài ra, nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ gắn bó có thực
của các sự vật hiện tượng, thường có 2 dạng sau:
+ Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển từ chỗ gọi tên bộ phận nghĩa gốc
chuyển sang gọi tên cơ thể, toàn thể.
Ví dụ: chân là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn
thể (anh ấy có chân trong đội bóng)
+ Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được
chứa.
Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:
- Từ“đường” (1): chỉ một chất có vị ngọt
- Từ “đường” (2): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục vụ cho việc thông
tin liên lạc
- Từ “đường”(3): chỉ lối đi cho các phương tiện, người, động vật
Từ “đường”(1) và từ “đường”(2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau, không có
nét nghĩa chung – kết luận hai từ này là từ đồng âm.
Tương tự như trên từ “đường”(1) và từ “đường”(3) cũng hoàn toàn khác
nhau về nghĩa nên hai từ này cũng là từ đồng âm.
Từ “đường”(2) và từ “đường”(3)có mối quan hệ mật thiết về nghĩa trên cơ
sở của từ “đường”(3) chỉ lối đi, ta suy ra nghĩa của từ “đường”(2) có nghĩa
truyền đi theo vệt dài (dây dẫn). Như vậy từ “đường”(3) là nghĩa gốc, còn từ
“đường”(2) là nghĩa chuyển – kết luận “đường”(2) và “đường”(3) là từ nhiều
nghĩa.
Từ nhiều nghĩa, trong đó chỉ có một nghĩa gốc, các nghĩa khác là nghĩa
chuyển, nghĩa chuyển bao giờ cũng có mối liên hệ với nghĩa gốc, nghĩa chuyển
được suy ra từ nghĩa gốc. Các từ mang nghĩa chuyển thì thường có thể nêu nghĩa
bằng cách thay thế bằng một từ khác (mang nghĩa phụ).
Ví dụ:
Mùa xuân(1) là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân(2).
Ta thấy rằng: “xuân”(2) được dùng theo nghĩa chuyển vì “xuân” có thể
thay thế bằng “tươi đẹp”.
3.3. Xây dựng phương pháp dạy về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Trong quá trình dạy học các bài Từ đồng âm, Từ nhiều nghĩa, giáo viên
cần kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học như: phương pháp hỏi đáp,
phương pháp giảng giải, phương pháp trực quan kết hợp với luyện tập thực hành
giúp học sinh nhận biết được và phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Khi dạy bài Từ đồng âm và Từ nhiều nghĩa, giáo viên cần thực hiện theo
quy trình các bước.
sao?
sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng.
Ở bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để
khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa. Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp
trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của từ “chỉ” trong mỗi trường hợp hoàn toàn
khác nhau, không có quan hệ về nghĩa.
3.4. Xây dựng hệ thống bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa giúp
học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.
Để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, ngoài các
bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên cần xây dựng hệ thống bài tập giúp học
sinh khắc sâu kiến thức của từng bài. Các bài tập này giáo viên có thể hướng dẫn
cho học sinh trong các tiết Thực hành Tiếng Việt. Với cùng một ngữ liệu song
giáo viên có thể chủ động đưa ra yêu cầu phù hợp với từng giai đoạn học tập hay
phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh giúp học sinh khắc sâu kiến thức,
giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa góp
phần làm giàu thêm vốn từ cho học sinh .
Dạng 1: Phân biệt nghĩa của các từ
Bài tập dạy bài: Từ đồng âm
Bài 1: Phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các cụm từ sau:
Cánh đồng (1) – tượng đồng (2) – một nghìn đồng(3).
Bài tập này, giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ “đồng” ở mỗi
trường hợp: “đồng”(1) chỉ khoảng đất rộng, bằng phẳng, dùng để cấy, trồng trọt.
“đồng” (2) là kim loại; “đồng” (3) là đơn vị tiền tệ Việt Nam
9
- Nghĩa của các từ “đồng” trong các trường hợp trên hoàn toàn khác nhau,
Vậy chúng là những từ đồng âm.
Bài 2: (yêu cầu như bài 1)
- Mẹ em đi chợ bán cam.
- Cô ấy là người cam chịu, không bao giờ kêu ca phàn nàn gì.
k) đông
- Mùa đông năm nay rất lạnh.
- Ngoài đường sáng nay thật đông người.
l) vàng
- Đồng lúa chín vàng.
- Lửa thử vàng, gian nan thử sức.
m) đậu
- Mẹ rất vui vì anh tôi thi đậu Đại học.
- Xôi này nhiều đậu nên rất ngon.
( Các từ in đậm trong các trường hợp trên có quan hệ là từ đồng âm)
10
* Một số trường hợp dùng từ đồng âm để chơi chữ.
Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5, bài “Dùng từ đồng âm để chơi
chữ” đã được cắt bỏ theo chương trình giảm tải, tuy nhiên ngoài các tiết dạy
chính khóa, nếu có điều kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm quen với dạng
bài tập này, giúp làm phong phú vốn từ của học sinh và khắc sâu hơn kiến thức
về từ đồng âm
Bài 1: Mỗi câu dưới đây có mấy cách hiểu? Hãy diễn đạt cho rõ nghĩa
từng cách hiểu ấy (có thể thêm một vài từ).
- Mời các anh chị ngồi vào bàn.
- Đem cá về kho.
- Hoa mua bên đường.
- Xe bò lên dốc.
Mỗi câu trên đều có 2 cách hiểu, vì mỗi từ in đậm trên đầu có thể hiểu
theo 2 nghĩa.
Ví dụ: Từ “kho” trong câu trên được hiểu theo 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất
11
Trong câu chuyện trên từ “chín” được hiểu theo 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất
“chín” là số tiếp theo số tám trong dãy số tự nhiên. Nghĩa thứ hai “chín” là (thức
ăn) được nấu nướng kĩ đến mức ăn được.
Bài 5: Chỉ ra những từ đồng âm được dùng để chơi chữ trong các câu sau:
- Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
- Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Bài 6: Đọc truyện vui sau:
Con rể nói với mẹ vợ:
- Nhà con dạo này không biết lây ai mà mắc bệnh than (1) mẹ ạ.
Mẹ vợ hốt hoảng:
- Thôi chết. Thế có nặng và nguy hiểm lắm không con?
- Chỉ nguy hiểm với con thôi.
- Sao thế?
- Vì cứ đi làm về là cô ấy la, còn tối đến thì cô ấy than.
Truyện vui trên gây cười bằng cách nào?
Từ “than” trong câu nói của người con rể có nghĩa là”kêu than, thốt ra lời
cảm thương”, đồng âm với từ “than” là tên một loại bệnh theo cách hiểu của
người mẹ vợ. Hai từ đồng âm này tạo sự bất ngừ và tạo nên yếu tố gây cười.
Bài 7: Câu chuyện vui sau đây tác giả đã sử dụng từ đồng âm nào để chơi
chữ?
Xưa, có anh chàng mượn của người hàng xóm một cái vạc đồng. ít lâu
sau anh ta trả cho người hàng xóm hai con cò, nói là vạc đã biến mất nên đền
hai con cò này. Người hàng xóm đi kiện. Quan gọi hai người đến xử. Người
hàng xóm thưa: “Bẩm quan, con cho hắn mượn vạc, hắn không trả”, anh chàng
nói “bẩm quan, con đã đền cho anh ta cò”.
- Nhưng vạc của con là vạc thật
- Dễ cò của tôi là cò giả đấy phỏng? – Anh chàng trả lời
- Lan có chân trong đội tuyển toán.
g) chạy
- Cầu thủ chạy đón quả bóng
- Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại
- Tàu chạy trên đường ray
- Đồng hồ này chạy chậm
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa phơi ngoài sân
- Nhà ấy chạy ăn từng bữa
- Con đường mới mở chạy qua làng tôi
h) quả
- Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
(Trần Đăng Khoa)
- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân
(ca dao)
- Trăng tròn như quả bóng
(Trần Đăng Khoa)
- Quả đất là ngôi nhà chung của chúng ta.
- Quả hồng như thể quả tim giữa đời.
i) cứng
- Lúa đã cứng cây
- Lí lẽ rất cứng
- Học lực loại cứng
- Cứng như thép.
- Thanh tre cứng quá, không uốn cong được
- Quai hàm cứng lại, chân tay tê cứng
- Cách giải quyết hơi cứng, thái độ cứng quá
k) ngọt
- Khế chua, cam ngọt.
- Trẻ em ưa nói ngọ, không ưa nói xẵng.
- Đàn ngot, hát hay.
- mũi súng
- mũi đất
- mũi quân bên trái đang thừa thắng xốc tới
- tiêm ba mũi
Bài 4: Tìm từ có thể thay thế từ “ăn” trong các câu sau:
- Cả nhà ăn tối chưa?
- Loại ô tô này ăn xăng lắm.
- Tàu ăn hàng ở cảng.
- Ông ấy ăn lương rất cao.
- Câu làm như vậy dễ ăn đòn lắm.
- Da cô ấy ăn nắng quá.
- Hồ dán không ăn.
- Hai màu này rất ăn với nhau.
- Rễ tre ăn ra tới ruộng.
- Mảnh đất này ăn về xã bên.
- Một đô la ăn mấy đồng Việt Nam.
Với các bài tập trên, sau khi học sinh đã học cả 2 bài Từ đồng âm và Từ
nhiều nghĩa, giáo viên có thể thay đổi yêu cầu, nâng cao mức độ của bài tập,
giúp học sinh khắc sâu kiến thức, khắc phục những nhầm lẫn về từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa.
Ví dụ: Có thể thay yêu cầu của bài tập như sau:
Phân biệt nghĩa của từ in đậm trong các trường hợp sau. Các từ trên có
mối quan hệ là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa? Vì sao?
14
Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hay phân biệt từ nhiều
nghĩa.
Bài 1: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước, chiếu, kén
Ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất
Nghĩa của từ “lá” trong các trường hợp trên có quan hệ là từ nhiều nghĩa.
Bài 3: Trong các câu dưới đây, từ chín trong câu nào không cùng nhóm
nghĩa với các từ còn lại?
- Ăn chín(1) uống sôi.
- Thời cơ đã chín(2) muồi.
- Tối nay chín (3)giờ mới có phim.
- Quả chín (4)mới ngon.
Từ chín (3) không cùng nhóm nghĩa với các từ còn lại.
15
Dạng 4: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho
Bài 1: Nối các cụm từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B
A
B
1. Sao trên trời có khi tỏ khi mờ
a. Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác
2. Sao lá đơn này thành ba bản
theo đúng bản chính
3. Sao tẩm chè
b. Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô
4. Sao ngồi lâu thế?
c. Nêu thắc mắc không biết rõ nguyên
5. Đồng lúa mượt mà sao
nhân
d. Nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên,
thán phục
e. Các thiên thể trong vũ trụ
Đáp án: 1 - e, 2 - a, 3 - b, 4 - c, 5 - d
rõ nét.
Kết quả cụ thể như sau:
Năm học 2013 – 2014, khi chưa ứng dụng kinh nghiệm vào dạy học, sau
phần kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, học sinh được làm một bài
kiểm tra, kết quả kiểm tra của học sinh lớp 5A như sau:
Sĩ số
Điểm 9, 10
Điểm 7,8
Điểm 5, 6
Điểm dưới 5
40
4 em (10 %) 10 em ( 25%) 27 em ( 67,5%) 3 em(7,5%)
Hai năm sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào chỉ đạo giáo viên
giảng dạy, kết quả học tập của học sinh về phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đã
16
chuyển biến. Với cùng đề kiểm tra năm 2013-2014, kết quả 2 năm sau khi giáo
viên thử nghiệm ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm, cụ thể như sau:
Năm học 2014 – 2015, kết qủa làm bài kiểm tra của lớp 5A6:
Sĩ số
Điểm 9, 10
Điểm 7,8
Điểm 5, 6
Điểm dưới 5
35
8 em (22,9%) 18 em (51,4%)
9 em (25,7%)
0
Năm học: 2015 - 2016, kết qủa làm bài kiểm tra của lớp 5A1:
nhằm giúp giáo viên tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình giảng dạy, giúp
giáo viên chủ động lựa chọn nội dung kiến thức thích hợp đưa vào trong mỗi tiết
dạy nếu thấy thực sự cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Cần tăng
cường chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn để việc dạy và học thực sự có chất lượng
và hiệu quả.
- Đối với giáo viên: Cần tăng cường tự học, tự bồi dưỡng, tích luỹ kiến
thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân đáp
ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời kì mới.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Thanh Hóa, ngày 21 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình
viết, không sao chép của người khác.
17
Hoàng Thị Phúc
.
18
19