MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIẾT VĂN MIÊU
TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA TIẾT TRẢ BÀI VIẾT
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH KHAI I
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Những lời chúng ta nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau gọi là ngôn
bản. Sản phẩm của Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết theo các
dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định, Ở Tiểu học phân môn Tập
làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao, rèn cho học sinh cả bốn kỹ năng
trong đó chú trọng vào kĩ năng nghe, nói, viết. Đối với phân môn này, học sinh
phải được hình thành và rèn luyện năng lực trình bày văn bản nói và viết ở nhiều
thể loại khác nhau.
Phân môn tập làm văn được nhìn nhận với tầm quan trọng đặc biệt vì nó
mang tính thực hành cao và rèn kĩ năng trình bày văn bản cho học sinh. Qua một
đề bài cụ thể thường trải qua các tiết học: Quan sát; lập dàn ý ; làm văn nói
(miệng) ; làm văn viết ; trả bài viết (chữa bài) . Theo quy trình dạy học tập làm
văn thì tiết trả bài viết nằm ở giai đoạn cuối, nghĩa là giai đoạn “ tổng kết đánh
giá sản phẩm” vì thế ở tiết học này đòi hỏi người giáo viên sự nổ lực không
ngừng để tìm ra cách dạy sao cho học sinh cảm nhận thấy sự lý thú , ham muốn
học. Người giáo viên làm được công đoạn “đánh giá sản phẩm công bằng ,
khách quan ” qua đó học sinh có điều kiện trau chuốt , gọt dũa “ tác phẩm ” của
mình và học cách viết tốt hơn .
Song xét về góc độ thực tiễn , có thể nói rằng có mấy giáo viên quan tâm chú
ý tiết dạy “Trả bài viết ” theo đúng yêu cầu ; cũng như có mấy học sinh ý thức
được qua tiết học đó em học được gì ? hay chỉ mong được biết điểm . Vì vậy ,
dạy chưa tốt , học chưa thông thì làm sao mang lại hiệu quả chất lượng được ?
Hệ quả là học sinh tiếp tục làm văn chưa tốt là điều không thể tránh khỏi ..
Trong giảng dạy, việc nâng cao chất lượng giờ dạy Tập làm văn trả bài viết
cho học sinh lớp 5 không phải là một vấn đề đơn giản. Các em chưa có ý thức
học tập tốt những tiết học này. Đó là điều băn khoăn trăn trở trong tôi và của
-Dự giờ thăm lớp
-Khảo sát tình hình thực tế lớp 5C
c. So sánh đối chiếu
d. Phương pháp thực hành
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sinh sản ngôn bản. Nó
có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì:
- Đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và
kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác: Học vần, Tập Viết, Chính
tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành.
- Phân môn TLV rèn cho học sinh kĩ năng sinh sản ngôn ngữ, nhờ đó tiếng
Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở
thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Như vậy, phân môn TLV đã thực hện
2
mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy HS sử dụng
được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập.
Trong chương trình tiểu học, các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn vị
học. Song song với các tiết làm văn luyện nói, luyện viết thì tiết Tập làm văn trả
bài có một vị trí quan trọng vì: giờ trả bài có mục đích rèn cho học sinh kĩ năng
kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết. Đây là kĩ năng quan trọng trong hoạt
động giao tiếp. Kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích
giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt. Để có kĩ
năng này , học sinh phải cần tập nhận xét văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa
chữa bài viết ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa( hoặc viết lại) bài văn đã được
GV chấm, luyện tập, hình thành kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập dể
luôn luôn tiến bộ. Đây chính là khâu cuối cùng để hoàn thiên kĩ năng làm văn
em còn rất hạn chế, chưa vận dụng tốt khi viết bài cho nên cách viết của các em
còn lủng củng.
- Phần lớn học sinh sau khi đọc tham khảo các bài văn mẫu, các bài văn hay
các em không chỉ ra được cái hay, cái tinh tế của bài văn để học tập và vận dụng.
- Có rất nhiều sách Tập làm văn cho học sinh tham khảo, điều này dẫn đến
các em lười suy nghĩ mà chỉ chép nguyên văn mẫu, làm hạn chế khả năng tư duy
của các em.
- Học sinh dùng từ, viết câu, diễn đạt chưa phù hợp, chưa biết sắp xếp ý một
cách logic và cũng không biết lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh hay để sử
dụng một cách hợp lí và sinh động.
Khi dạy phân môn Tập làm văn, tôi đã ra đề để khảo sát học sinh lớp 5C
năm học 2015-2016:
“Hãy tả một cây có bóng mát đã gắn bó với em trong nhiều năm qua.”
Số học sinh được khảo sát (39 em) đã phản ánh thực trạng này như sau:
*) Về nội dung bài Tập làm văn
- 10- 15% học sinh viết văn có bố cục rõ ràng, bài viết cô đọng xúc tích.
- 50% học sinh thực hiện được yêu cầu của đề nhưng diễn đạt ý còn chưa rõ
ràng, lôgic.
- 10% học sinh còn đôi chỗ dùng từ, đặt câu, liên kết câu, đoạn chưa đạt.
Văn viết gò bó thiếu tự nhiên, ít sáng tạo.
- 25% học sinh thì sao chép nguyên bản bài của bạn hoặc văn mẫu. Thậm chí
có em bài viết còn khô khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn.
*) Về kĩ năng:
- Trong bài văn của các em gần như cả bài nhiều em không có một dấu chấm
câu.
- Bài viết sai lỗi chính tả, đặc biệt là lỗi chính tả thông thường, bên cạnh
những lỗi chính tả vốn có của địa phương 50%.
- Diễn đạt vụng, luẩn quẩn, tối nghĩa do dùng từ viết sai, sai về nội dung do
dùng từ tối nghĩa 25%.
- Sở dĩ chất lượng bài viết của các em chưa cao do những nguyên nhân sau:
Tuy chấm bài là yếu tố quan trọng làm cơ sở cho tiết trả bài. Tiết trả bài có
thành công hay không ? Học sinh có thấy được đúng sai trong bài làm của em đó
hay không ? Đều được bắt đầu bằng việc chấm. Đó chính là phần chuẩn bị của
giáo viên.
Song song với việc chấm bài kỹ là sổ chấm bài. Sổ chấm bài có tác dụng
thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép những sai, đúng cụ thể của
từng học sinh làm tư liệu để phục vụ cho việc nhận xét và hướng dẫn chữa lỗi..
Nhưng trước hết muốn ghi chép đúng thì giáo viên phải chấm kỹ, bám sát yêu
cầu mà chuẩn kiến thức và kĩ năng đã đề ra, đưa ra một biểu điểm để đảm bảo
tính khoa học , khách quan, vô tư. Từ đó thấy được ưu và nhược điểm của bài
viết. Đồng thời sổ này giúp giáo viên so sánh đối chiếu những bài sau so với
những bài trước xem sự dứt điểm của từng loại lỗi đã làm được chưa ? Làm đến
5
đâu ? Sự tiến bộ của các em đạt đến mức độ nào? Số được trình bày theo bảng
sau:
Các loại lỗi sai
Tên học sinh Dẫn chứng
Hướng sửa lỗi
1. Bố cục
2. Không đúng yêu cầu
của đề bài
3.Lỗi chính tả, lỗi dùng từ
4. Lỗi diễn đạt
5. Lỗi viết câu
Cuối bảng giáo viên ghi rõ cần dứt điểm loại lỗi nào trong bài viết, kế tiếp
việc này được nêu ở tiết trả bài phần củng cố, học sinh sẽ thấy được để ở giờ
sau phấn đấu đạt kết quả tốt hơn. Như vậy việc làm từng bước ấy rõ ràng không
về vấn đề cần giải quyết trong tiết học.
- Giúp học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài để tự đối chiếu với kết quả
bài viết xem đã thực hiện được đến đâu.
Sau khi chép xong đề lên bảng thì tiến hành bước xác định đề mang tính
trực quan nối tiếp. Một lần nữa giúp các em nắm chắc yêu cầu của đề bài. Từ đó
các em có thể so sánh và đã có thể hình dung ra mình đúng như thế nào ? Mình
thiếu những gì? Để từ đó mà các em dễ dàng nắm được ưu và nhược điểm của
bản thân.
- Nêu rõ ưu khuyết điểm của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đê bài
( dẫn chứng cụ thể qua bài viết được giáo viên chấm và theo dõi qua sổ thống kê
lỗi của giáo viên); kết hợp với nhận xét về chữ viết và cách trình bày bài văn,
công bố kết quả điểm số và biểu dương học sinh có bài làm tốt hoặc bài làm có
tiến bộ. Giáo viên nên công bố tên học sinh có ưu điểm, không cần thiết nêu tên
học sinh có khuyết điểm.
b. Hướng dẫn học sinh chữa bài:
Căn cứ vào kết quả bài làm của học sinh, giáo viên có thể tiến hành việc
hướng dẫn học sinh chữa bài sao cho linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực theo
các cách sau:
- Trả bài làm cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lời
nhận xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết.
- Hướng dẫn học sinh chữa lỗi chung về nội dung( sai, thiếu ý hoặc chi
tiết, sự việc...) và hình thức( về bố cục, về cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả...)
- Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm
tra, giúp đỡ nhau về việc chữa lỗi.
- Đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay, bài văn hay, để
giúp các em vận dụng vào bài viết của mình từ đó giúp cho bài viết của các em
giàu hình ảnh, cô đọng, xúc tích. Gợi ý học sinh nhận xét, trao đổi để học tập
những ưu điểm trong bài văn của bạn (về bố cục, sắp xếp ý, diễn đạt, dùng từ đặt
câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật)
- Hướng dẫn học sinh chọn viết một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn (Đây
Ví dụ 1: Đề bài “Tả một cơn mưa”, SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết như
sau :
Sau cơn mưa, những luống rau sanh ngắt trông thật thích mắt.
Trong các câu trên, do học sinh viết sai chính tả từ sanh ngắt thay từ sanh
ngắt thành từ xanh ngắt.
Ví dụ 2 : “Tả một em be đang tuổi tập nói, tập đi”, SGK- TV5- tập 1, có học
sinh viết :
1. Bé Lan có đôi mắt chòn xe và đen láy như hai hột nhãn.
2. Bé Lan rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngả.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai trong các câu trên và yêu cầu
các em sửa lại cho đúng chính tả. Hai câu trên được sửa lại như sau:
1. Bé Lan có đôi mắt tròn xoe và đen láy như hai hột nhãn.
2. Bé Lan rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngã.
8
Khi chữa lỗi giáo viên kẻ bảng thành hai cột
Lỗi chính tả
Cách viết chính tả đúng
d.. Chữa lỗi về cách dùng từ:
Dạng 1 : Dùng từ không đúng nghĩa
Đó là việc sử dụng từ ngữ một cách tùy tiện do học sinh không hiểu rõ nghĩa của
các từ cần miêu tả, gây cho người đọc người nghe khó hiểu trước nội dung muốn
thể hiện của người viết. Nguyên nhân của việc dùng từ không đúng nghĩa là do các
em chưa hiểu được nghĩa của từ mình đang dùng, nhầm lẫn giữa các từ gần
nghĩa, không nắm được sắc thái biểu cảm của từ.
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người bạn than của em SGK- TV5- tập 1, có học
sinh viết : Mỗi khi cười, Hà để lộ hàm răng trắng xóa rất có duyên. Trong
trường hợp này, các em dùng từ trắng xóa là thiếu chính xác. Từ trắng xóa dùng
+ Sửa lại : Bác đồng hồ khoác trên mình bộ quần áo màu xanh nước biển.
Dạng 2 : Dùng từ sai do kết hợp
Khi viết, các em sử dụng sai từ ngữ khi kết hợp làm cho câu văn sai về
nghĩa hoặc vô nghĩa. Nguyên nhân của việc dùng sai từ là do học sinh không
nắm được nguyên tắc phối hợp từ, mối quan hệ giữa hai vế câu ghép, mối quan
hệ giữa các từ trong câu.
Ví dụ : Khi làm bài văn tả cảnh một số học sinh đã viết như sau:
a. Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nhưng em
chẳng muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân đã nô nức gặt lúa.
Trong ví dụ (a), do học sinh không nắm được ý nghĩa của câu ghép có cặp
quan hệ từ chỉ nguyên nhân – kết quả nên các em đã kết hợp sai từ nhưng với từ
vì (đã bị lược đi). Khi gặp lỗi trên, tôi yêu cầu học sinh nhắc lại ý nghĩa của các
cặp quan hệ từ, từ đó giải thích cho học sinh biết không có cặp quan hệ từ vì –
nhưng và sửa lại bằng cách thay từ nhưng thành từ nên.
Đối với câu (b), tôi tiếp tục cho học sinh nêu nghĩa của câu trên và yêu cầu
học sinh nêu cách dùng từ đã để học sinh nắm được đã dùng để nói về những sự
việc đã qua nên không thể viết đã gặt lúa trong khi đang vào mùa gặt. Tiếp theo
tôi cho học sinh tự sửa lại bằng cách bỏ từ đã hoặc thay từ đã bằng từ đang.
Hai câu văn trên được sửa lại như sau :
a. Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nên em
chẳng muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân nô nức gặt lúa.
Dạng 3 : Dùng từ sai do lặp từ
Do vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên các em chưa biết sử dụng các từ
đồng nghĩa để thay thế cho nhau. Vì vậy trong bài viết của mình các em thường
lặp lại từ ngữ làm cho câu văn lủng củng, không mạch lạc. Có hai dạng lặp từ đó
là: lặp từ hoàn toàn và lặp từ đồng nghĩa.
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em …) của
em”, SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết : “Khuôn mặt trái xoan bác rất đẹp, làn
+ Cánh đồng lúa quê em rộng bát ngát.
+ Cánh đồng lúa quê em rộng thẳng cánh cò bay.
Việc phát triển kỹ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn cho học sinh lớp 5 là
hết sức quan trọng và có ý nghĩa. Điều đó giúp các em không chỉ viết đúng mà
còn hướng tới việc viết văn hay, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân
môn Tập làm văn ở lớp 5.
e. Chữa lỗi về câu, đoạn văn, diễn đạt
Các lỗi về câu thường gặp ở tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu
chỉ có thành phần phụ chỉ địa điểm hoặc thời gian, nguyên nhân, kết quả... Thiếu
thành phần chính ( tức là cả cụm chủ vị ), nêu ý chưa chọn vẹn (câu cụt), câu có
nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng củng. Cách chữa: giáo viên kẻ bảng thành ba
cột.
CÂU SAI
LỖI NGỮ PHÁP
CÂU ĐÃ ĐƯỢC SỬA
THÀNH CÂU ĐÚNG
11
Ví dụ 1: Học sinh đọc câu lủng củng của mình lên.
Trong nhà em có một người mà em rất yêu mến, đó là bà em rất kính yêu.
Em có nhận xét gì về cách diễn đạt nội dung? ( diễn đạt nội dung rườm rà).
Em có thể sửa như thế nào? ( Trong nhà em, bà là người thật đáng kính).
Ví dụ 2: Đứng trước cảnh đẹp hùng vĩ của dãy núi Yên Phụ. Em cảm thấy
trong lòng đang cố gắng đưa quê hương Kinh Môn giàu đẹp hơn.
- Đoạn văn của em đã được chưa? Sai ở đâu?
( Chấm câu sai, sau từ "Yên Phụ" thay bằng dấu phẩy).
- Còn sai ở đâu nữa? (dùng từ chưa sát nghĩa " em cảm thấy...").
Cụm từ " em cảm thấy..." Cần phải thay bằng cụm từ nào cho sát nghĩa hơn?
đơn giản đến những lỗi khó, phức tạp.
Ví dụ: Trong một giờ trả bài
1- Chữa lỗi về bố cục.
2- Chữa lỗi về chính tả
3- Chữa lỗi về cách dùng từ
4- Chữa lỗi về câu, về đoạn văn, cách diễn đạt nội dung.
Về cách diễn đạt, nó là một loại lỗi bao quát nhiều vấn đề. Cho nên cần xắp
xếp nó ở bài tập thứ tư trở đi nó thuộc câu, đoạn, lỗi khó. Đôi khi chỗ này phải
kết hợp với phương pháp diễn dịch , giảng giải để làm sáng tỏ vấn đề cho học
sinh.
* Song song với việc chữa lỗi và đọc cho học sinh nghe những câu văn hay,
đoạn văn hay để giúp các em học tập. Đồng thời người giáo viên còn phải hướng
dẫn các em biết cách lựa chọn chi tiết diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh và sử
dụng một số biện pháp tu từ đã học để giúp các em những bài viết cô đọng, giàu
hình ảnh.
Ví dụ 1: Khi tả mái tóc, khuôn mặt:
- Mái tóc dài mượt mà buông thả thướt tha như dòng suối.
- Mái tóc đen nhánh mượt mà như dòng suối ôm lấy khuôn mặt trái xoan hồng
hào của cô, thật dễ mến.
Hoặc khi tả hàm răng, nước da, giọng nói tính hình thì giáo viên hướng dẫn
các em:
- Hàm răng trắng đều như hạt bắp.
- Nước da trắng như trứng gà bóc- Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích
- Giọng cô nói êm dịu như lời mẹ ru.
Ví dụ 2: Khi tả về vẻ đẹp của dòng sông quê hương:
- Nhìn từ xa, dòng sông như một dải lụa hiền hoà ôm ấp làng xóm quê em.
- Dòng sông quê em chảy hiền hoà, chở nặng phù sa…
3.3.2. Đọc đoạn văn hay cho học sinh tham khảo:
Bài văn, đoạn văn được đọc cho cả lớp nghe cần đảm bảo có chất lượng cả về
nội dung lẫn hình thức thể hiện. Bài được đọc trước lớp phải giúp học sinh học tập
3.3.3. Hướng dẫn học sinh viết lại đoạn văn cho hay hơn:
Để giúp học sinh biết viết lại một đoạn văn trong bài viết của mình cho hay
hơn, tôi hướng dẫn các em theo các bước sau:
- Học sinh đọc lời nhận xét của giáo viên và chọn ra một đoạn chưa hay trong
bài viết của mình (có thể là đoạn mở bài, đoạn kết bài hoặc một đoạn trong phần
thân bài) để viết lại cho hay hơn.
- Khi viết lại đoạn mở bài, kết bài, học sinh có thể viết theo kiểu mở bài gián
tiếp và kết bài theo kiểu mở rộng.
- Nếu viết lại đoạn văn ở phần thân bài thì đoạn văn phải có câu mở đầu nêu ý
bao trùm của đoạn. Các câu trong đoạn cùng làm nổi bật ý đó. Đoạn văn phải có
hình ảnh, có những chi tiết nổi bật, những liên tưởng thú vị, các biện pháp so sánh,
nhân hóa ... Đoạn văn cần thể hiện được cảm xúc của người viết.
Sau khi học sinh viết xong, giáo viên gọi một số em lên trình bày trước lớp
đoạn văn vừa viết lại. Giáo viên cần hướng dẫn các em nhận xét để tìm ra cái mới,
cái hay trong đoạn văn vừa viết lại để cả lớp học tập và rút kinh nghiệm cho những
bài viết sau.
14
4. Hiệu quả của SKKN:
a. Kiểm nghiệm:
Khảo sát bằng số liệu thống kê:
Với kinh nghiệm đã trình bày ở trên tôi tiến hành khảo sát chất lượng trên lớp
với hai đề bài.
Quá trình thực nghiệm theo các bước sau:
*Bước một: Tôi ra đề bài tập làm văn ở tuần 11, 20 trong chương trình lớp 5
(các em đang học thể loại văn này).
Đề bài 1: Hãy tả một cảnh đẹp quê hương
Đề bài 2: Hãy tả hoạt động của một người mà em yêu thích.
Ngược lại học sinh lớp 5 ở các năm về trước các em thụ động ngồi nghe cô
giảng. Khi yêu cầu các em tìm ra cái sai trong bài của mình thì các em tỏ ra lúng
túng và hoang mang. Khi cô chỉ ra được cái sai, yêu cầu các em sửa thì các em
lại rơi vào bế tắc. Do các em chưa hiểu mình sai như thế nào? Chữa lại ra sao?
Tại sao lại như thế?
b. Kết quả
Qua việc thực hiện tiến trình cải tiến bài giảng, thiết kế bài dạy, chấm bài và
lên lớp, với sự vận dụng linh hoạt và phương pháp phát huy trí tuệ và trí lực của
học sinh đã nêu, đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm thì chất lượng được tăng
lên rõ rệt.
- Số bài đạt tăng 37 %
15
- Không còn bài không đạt yêu cầu.
Đồng thời đối chiếu kết quả bài làm giữa hai lớp đối chứng và thực nghiệm
thì chất lượng của lớp thực nghiệm được nâng lên rõ rệt (nhìn vào bảng thống kê
kết quả, khảo sát ta sẽ thấy rõ).
Tôi tiếp tục đối chiếu với các bài viết hàng tháng và qua các bài khảo sát
chất lượng định kì các lần kiểm tra môn Tiếng Việt thì bài làm của lớp 5C tôi
chủ nhiệm đã có nhiều tiến bộ.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Qua kết quả thử nghiệm và quá trình vận dụng giảng dạy tiết trả bài theo
cách trên, tôi muốn khẳng định rằng, tiết trả bài là khâu rất quan trọng trong quá
trình hoàn thiện bài văn hay, diễn đạt gẫy gọn hơn cho tiết sau. Trong tiết này thì
khâu chấm bài, nhận xét của bài viết của học sinh lại rất quan trọng, làm sao chỉ
ra lỗi cho học sinh công nhận, khi hiểu được rồi học sinh sẽ biết cách sửa và
không mắc lại hoặc rất ít mắc lại. Người giáo viên phải biết kết hợp giữa thầy và
Trong năm học này, việc tập trung chỉ đạo quản lí, tổ chức dạy học và đánh
giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng, tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học là trọng tâm để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Thông qua phân môn Tiếng việt cụ thể là thông qua tiết Tập làm văn trả bài của
học sinh lớp 5. Kinh nghiệm của tôi được áp dụng cho học sinh trường tiểu học
tôi đang dạy và đặc biệt là học sinh lớp 5.
2- Kiến nghị :
Đối với giáo viên:
- Phải phân loại được các đối tượng học sinh, nắm được lỗi điển hình của
từng em, lỗi điển hình của lớp. Từ đó có hướng cụ thể, đề ra biện pháp cụ thể.
- Phải làm tốt khâu chấm bài, chỉ ra những lỗi sai của từng câu, từng bài thể
hiện trong bài làm của học sinh.
- Phải khen thưởng, động viên kịp thời những em có bài văn hay, để cho lớp
học tập bạn. Từ đó nhân điển hình của lớp lên.
- Thiết kế bài dạy phải có đổi mới. Trong bước bài mới phải thực hiện đúng
tiến trình như đã nêu, nhằm đảm bảo tính khoa học.
- Đặc biệt phải trú trọng đến tình hình chữa lỗi cho các em, phải biết kết hợp
các phương pháp dạy học với hệ thống câu hỏi mang tính gợi mở để thực hiện
tốt phần này.
- Giáo viên cần khuyến khích học sinh tích cực học tập, tích cực đào sâu suy
nghĩ để chủ động tiếp thu tri thức
- Giáo viên lên lớp và soạn bài không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn
vào sách hướng dẫn mà người giáo viên cần suy nghĩ tìm phương pháp giảng
dạy mới cho từng bài học phù hợp với sự nhận thức của học sinh lớp mình dạy
và tuân thủ theo cuốn chuẩn kiến thức kĩ năng đang hiện hành.
Cần kiểm tra kĩ giáo án phần Tập làm văn cụ thể ở tiết trả bài vì đây là vai trò
cuối cùng của phần giảng dạy môn Tập làm văn.
Bên cạnh đó nhà trường, gia đình, xã hội cần phải quan tâm tới tài liệu cho
phân môn này.
Trên đây là một vài kinh nghiệm của tôi về dạy Tập làm văn tiết trả bài viết
III.
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
4. Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận của kinh nghiệm
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của SKKN
a. Kiểm nghiệm
b. Kết quả
Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị
1
1
2
2
2
2
2
3
5
15
15
15