A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng là sự biểu hiện thế giới chủ quan
của con người trước cuộc đời. Tuy nhiên, do phương thức tổ chức, do kiểu tái hiện
đời sống và do sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu hiện đó ở những loại
tác phẩm văn học cũng khác nhau. Thơ trữ tình là một loại hình nghệ thuật đặc
biệt: nghệ thuật của cảm xúc.
Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhà
thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đời sống, thể hiện
tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung. Nội dung của thơ trữ tình là
biểu hiện tư tưởng, tình cảm làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách
quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗi niềm.
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình
về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. Hay nói cách khác, nghị luận
thơ là cảm thụ được thế giới cảm xúc của nhân vật trữ tình, chạm được vào những
rung động sâu xa của tác giả được gửi gắm trong bài thơ qua nghệ thuật ngôn từ.
Trong bài nghị luận thơ, học sinh phải vận dụng tổng hợp rất nhiều kĩ năng: lập bố
cục, xây dựng luận điểm, tìm luận cứ; diễn đạt gợi cảm, cuốn hút…tất cả hoà
quyện trong một mạch văn tuôn chảy để làm sáng tỏ một vấn đề. Bởi vậy làm được
một bài văn nghị luận thơ đúng và hay quả thật rất khó. Đây chính là kiểu bài với
những yêu cầu cao nhất trong chương trình THCS. Để có thể làm được và làm tốt
một bài nghị luận thơ thì trước hết cần hiểu về đặc trưng thể loại, sau đó phải có sự
cảm hiểu thật sâu sắc tác phẩm tiến tới đồng sáng tạo với nhà thơ.
Cũng như các kiểu bài khác, để làm tốt bài văn nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ cần phải trải qua bốn bước: tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài và sửa lỗi.
Trong bốn bước trên, bước nào cũng cần thiết song bước có tính quan trọng làm
khung nền cho bài làm là bước lập dàn bài.
Lập dàn ý cho một đề bài là khâu bắt buộc cần phải có trong quá trình giải
quyết một đề văn. Nếu làm một bài văn mà không lập dàn bài thì chẳng khác nào
chúng ta đi giữa đêm tối mà không có ngọn đuốc soi đường. Vì vậy, có thể nói đây
là công đoạn quyết định giá trị của một bài viết. Nhưng thực tế cho thấy, khi gặp
một bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9.
Đề tài tập trung nghiên cứu ba nội dung:
- Hướng dẫn học sinh phân loại các dạng đề nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ;
- Hướng dẫn học sinh cách làm dàn ý chung của một bài nghị luận về một đoạn
thơ, bài thơ;
- Hướng dẫn học sinh vận dụng dàn ý chung đã biết vào việc lập dàn ý cho từng
dạng bài cụ thể.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp tôi đã sử dụng:
- Phương pháp quan sát khoa học: Là phương pháp quan sát đối tượng một cách có
hệ thống để thu thập thông tin. Có 2 cách quan sát khoa học là quan sát trực tiếp và
quan sát gián tiếp.
- Phương pháp điều tra: Là phương pháp mà giáo viên khảo sát đối tượng học sinh
trong nhà trường THCS Vân Du để phát hiện những đặc điểm, cách học, khả năng
làm bài.
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp giáo viên chủ động vào đối tượng
học sinh và quá trình diễn biến mà học sinh tham gia học để thực hiện theo mục
tiêu, dự kiến của mình.
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: Là phương pháp nghiên cứu và
xem xét lại những thành quả thực tiễn để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Phương pháp giáo dục THCS là phải phát huy được tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh. Mục
tiêu dạy học Ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú
trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Một trong ba mục tiêu của môn Ngữ
2
bản thích hợp với các yêu cầu nêu ra trong đề bài. Các ý lớn nhỏ phải được lựa
chọn, sắp xếp cho chặt chẽ, logic. Các bộ phận trong dàn ý phải cân đối, hài hoà,
trình bày đề cương phải sáng sủa, mạch lạc( dùng các ký hiệu).
Bởi vậy, lập dàn ý là thao tác tư duy rất quan trọng và bắt buộc nhằm định
hướng cho quá trình làm văn. Kĩ năng làm dàn bài cần cho tất cả những ai muốn
truyền đạt (nói và viết) trước người khác. Hướng dẫn học sinh biết cách làm dàn ý
trước mỗi đề bài là việc quan trọng góp phần nâng cao chất lượng bài làm.
II. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm.
1. Thực trạng
Thông thường khi viết một bài văn nói chung, bài nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ nói riêng công việc tiếp theo sau khâu tìm hiểu đề, tìm ý là khâu lập dàn ý.
Lập dàn ý có vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thành một bài văn nhưng chưa
được giáo viên và học sinh coi trọng. Thực trạng này diễn ra ở số đông dẫn đến
chất lượng làm bài thấp. Vậy nguyên nhân của thực trạng do đâu?
3
1.1. Về phía người dạy:
Dạy Tập làm văn là phân môn khó nhất trong ba phân môn của bộ môn ngữ
văn. Tập làm văn được xem là kết quả của hai môn còn lại. Trong đó, kiểu bài nghị
luận về một đoạn thơ bài thơ lại được xem là kiểu bài khó, với yêu cầu cao nhất về
kiến thức và kĩ năng. Trong chương trình Ngữ văn 9, thời lượng cho việc tìm hiểu
kiểu bài, hướng dẫn làm bài chỉ có tổng 4 tiết (Tiết 124,125,139,140). Như vậy,
lượng thời gian để giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu và thực hành về kiểu bài
là rất ít.
Tuy nhiên đây lại là kiểu bài chiếm đa số và thang điểm nhiều nhất trong các
kì thi lớn của lớp 9. Hơn nữa, lập dàn ý cho một bài nghị luận thơ cũng đòi hỏi
người dạy phải đầu tư suy nghĩ, bỏ nhiều công sức mới có thể làm được một dàn ý
(chính là đáp án) một cách đầy đủ, chính xác và đúng yêu cầu. Thực tế, một bộ
phận giáo viên chưa nhận thức hết được vai trò của việc lập dàn ý hoặc nhận thức
4
Mức độ
của đề Số
bài
HS
Dễ (HS
đại trà) 50
Khó (HS
giỏi)
11
Làm tốt
Biết
làm Thiếu nhiều ý Chưa
biết
nhưng
chưa hoặc xa đề, lạc làm
đầy đủ
đề
SL TL % SL
TL %
SL
TL %
SL
TL %
4
Nhìn vào bảng số liệu khảo sát ta thấy: Số học sinh làm tốt và làm khá dàn bài
còn ít ( chỉ khoảng 8,0 - 27,3 %). Trong khi đó số HS lạc đề, xa đề hoặc không xác
định được hướng làm bài rất lớn (chiếm 63,5 - 74,0 %). Như vậy, với 4 tiết học
chính khoá (124,125,139,140), trong đó có hai tiết luyện nói là khoảng thời gian
khiêm tốn, khó để hướng dẫn học sinh thành thục kiểu bài này. Vì vậy, để rèn tốt kĩ
năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đòi hỏi giáo viên phải sắp xếp thời
gian để hướng dẫn, rèn kĩ năng cho học trò; tranh thủ thời gian của các giờ tự chọn,
các giờ ôn luyện, phụ đạo; lên phương án khoa học để cùng với học sinh khám phá,
giải quyết các dạng đề cơ bản một cách bài bản và đúng hướng.
III. Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề.
1. Phân loại dạng đề.
Sau đây là một số đề bài Tập làm văn đại diện cho một số dạng cơ bản trong
chương trình Ngữ văn 9:
Đề 1: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
…
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
(Đồng chí – Chính Hữu; đề thi vào lớp 10 năm học 2015 - 2016)
Đề 2: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
…
Vắt nửa mình sang thu.
(Sang Thu – Hữu Thỉnh; đề thi vào lớp 10 năm học 2015 - 2016)
Đề 3: Suy nghĩ về những điều người cha nói với con trong bài thơ “ Nói với con”
của nhà thơ Y Phương.
Đề 4. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của
Phạm Tiến Duật.
Đề 5: “Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện
lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoáng
qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại.” (Hoài Thanh)
Dạng 1 : Nghị luận về một đoạn thơ: Đề 1, 2
Dạng 2 : Nghị luận cả bài thơ: Đề 3,4
Dạng 3 : Nghị luận về bài thơ thông qua một nhận định: Đề 5,6,7 (Trong đó đề 7
làm rõ đồng thời hai nhận định trong cùng một bài thơ).
Dạng 4 : Nghị luận về một vấn đề lí luận văn học qua tác phẩm thơ: Đề 8,9
Dạng 5 : Đề tổng hợp từ hai bài thơ trở lên: Đề 10,11
Trong các đề trên thì dạng 1,2 thường được vận dụng làm bài kiểm tra định
kì và thi vào lớp 10. Còn dạng 3,4,5 khó hơn thường vận dụng trong các kì thi học
sinh giỏi các cấp. Tuỳ từng giai đoạn trong năm học và từng đối tượng học sinh mà
người dạy cần cho học sinh nhận rõ dạng đề và luyện cách làm bài cho từng
dạng. Muốn thành thạo trong làm bài thì trước hết học sinh cần nắm chắc dàn ý của
bài nghị luận thơ nói chung và dàn ý cho từng dạng bài nói riêng.
Việc chia dạng đề trên đây chỉ mang tính tương đối. Đây là các dạng có tính
chất cơ bản, phổ biến. Thực tế kiểu bài nghị luận thơ khá đa dạng và phong phú.
Trong khuôn khổ chương trình với đối tượng học sinh lớp 9 thì chúng ta chỉ nên
hướng dẫn các dạng 1,2 (cho HS đại trà và thi vào 10), dạng 3,4,5 cho đội tuyển
học sinh giỏi. Mục đích của việc phân loại dạng đề nhằm hướng dẫn sát đối tượng
học sinh.Tránh trường hợp dạy tràn lan dẫn đến hiệu quả ngược.
2. Hướng dẫn các kĩ năng lập dàn ý chung về kiểu bài.
2.1. Nắm vững dàn ý chung và cụ thể hoá dàn ý.
6
Sách giáo khoa (tiết 125) đã hướng dẫn bố cục của một bài văn nghị luận thơ.
Tuy nhiên bố cục này còn khá khái quát. Cần cụ thể thành một dàn ý mang tính
định hướng để học sinh dễ dàng hơn trong cách làm bài. Sau đây là dàn bài chung
và dàn bài cụ thể hoá:
Phần Dàn ý chung
Dàn ý cụ thể
Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và - Giới thiệu tác giả, tác phẩm (vị trí
- Khái quát vấn đề nghị luận và giới hạn phạm vi bài làm.
Ở ý thứ nhất, cần giới thiệu ngắn gọn, khái quát; chú ý đến phong cách nghệ
thuật, sự nghiệp sáng tác của nhà văn và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Ở ý thứ hai, cần xác định rõ vấn đề nghị luận là gì và phạm vi giải quyết vấn đề
ra sao:
Nếu đề là dạng đề ẩn tức là đề chưa lộ rõ luận điểm (đề 1,2,3,4...) thì học
sinh phải tự tìm vấn đề nghị luận. Vấn đề nghị luận dựa vào yêu cầu cụ thể của đề
bài, tuy nhiên cơ sở để xác định luận điểm cho dạng đề này chính là giá trị nội
dung của đoạn thơ, bài thơ.
Ví dụ: Ở đề 4, luận điểm chính là nội dung cảm xúc cơ bản của hai khổ thơ
đầu bài Sang thu: Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước khoảnh khắc giao
mùa và những biến đổi của đất trời lúc cuối hạ sang thu.
7
Nếu đề là dạng đề nổi tức là luận điểm được nêu rõ thông qua một ý kiến,
nhận định ở đề bài (đề 5,6,7,8...) thì học sinh cần phải dẫn lại các ý kiến đó vào mở
bài.
2.2.2. Hướng dẫn xây dựng hệ thống luận điểm phần Thân bài:
* Dựa vào mạch cảm xúc, bố cục của bài thơ để xây dựng hệ thống luận điểm.
Bài văn rất khoát phải có ý rành mạch và phải có lớp lang. Một bài văn
không thể nói đạt yêu cầu nếu các ý được sắp xếp lộn xộn, tuỳ tiện. Vậy nên, xây
dựng hệ thống luận điểm là cách để học sinh tránh được lỗi này. Cách đơn giản
nhất là bám sát vào văn bản thơ, tiến hành chia đoạn và tìm ra ý chính (nội dung,
nghệ thuật )của mỗi đoạn.
Chẳng hạn, với bài thơ Đồng chí cần chia bố cục 3 phần như sau:
+ Phần 1: 7 dòng thơ đầu
+ Phần 2: Khổ thơ giữa
+ Phần 3: 3 dòng thơ cuối bài
Căn cứ bố cục, xác định ý chính mỗi đoạn, xây dựng các ý chính thành các
8
- Một vẻ đẹp làm nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ chính
là tinh thần lạc quan sôi nổi, bất chấp gian khổ, hiểm nguy (Phân tích khổ 3,4).
- Bằng ống kính điện ảnh của người nghệ sĩ, vẻ đẹp của người lính trở nên sâu sắc
hơn qua tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe Trường Sơn (Phân
tích khổ 5,6).
- Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người lính, đó là lòng yêu nước, ý chí
quyết tâm giải phóng Miền Nam.
Thành thạo cách xây dựng luận điểm theo hai cách trên, học sinh có thể linh
hoạt vận dụng vào từng bài với từng đề cụ thể mà không bị lúng túng.
Với bài Bếp lửa: Đề về Vẻ đẹp tình bà cháu trong bài thơ thì ta nên xây
dựng luận điểm theo bố cục. Nhưng nếu là đề Hình ảnh người bà trong bài thơ thì
nên xây dựng luận điểm theo hình tượng (tức là lựa chọn hình ảnh theo chiều dọc
của bài).
*Căn cứ vào luận điểm cho sẵn ở đề bài để xây dựng hệ thống luận điểm.
Nếu đề bài là một nhận định, ý kiến thì việc xây dựng hệ thống luận điểm
vẫn trên cơ sở mạch cảm xúc và bố cục của bài thơ. Tuy nhiên, trước hết phải giải
thích vấn đề, sau đó chứng minh nhận định bằng các luận điểm thành phần. Các
luận điểm này phải xuất phát từ luận điểm đã cho ở đề bài. Nếu nhận định nhiều
hơn một ý thì mỗi một ý là một luận điểm.
Ví dụ ở đề 5: “Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc, suy nghĩ trước những
chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện
thoáng qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại.” (Hoài Thanh)
Bằng hiểu biết của em về bài thơ Ánh trăng, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Ngoài ý giải thích và đánh giá, Có 2 luận điểm lớn chính là hai ý trong nhận định:
Luận điểm 1: Đến với bài thơ Ánh trăng, chúng ta cảm nhận được dường như
Nguyễn Duy hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh
mình.
đề bài thì bài viết sẽ không sâu sắc, không đảm bảo tính hệ thống và toàn vẹn của
bài. Hơn nữa, dù là chỉ nghị luận một đoạn thơ thi cũng nên truyền tải thông điệp
của cả thi phẩm mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc. Điều khó ở dạng đề này là phải
xây dựng được hệ thống các ý lớn, ý nhỏ cho bài viết. Muốn làm được, học sinh
phải hiểu, cảm được cặn kẽ nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ; thiết lập ý và chia
các câu thơ làm dẫn chứng phù hợp với ý. Dạng đề này, nếu không hướng dẫn kĩ,
học sinh sẽ khó viết đủ ý, bài làm quá ngắn gọn, thậm chí cả phần thân bài chỉ có
một đoạn văn. Vậy nên, giáo viên nên quan tâm hướng dẫn thật kĩ phương pháp lập
dàn bài (vì đây còn là dạng đề phổ biến cho học sinh thi vào lớp 10).
Sau đây là dàn ý chung và dàn ý minh hoạ cho đề văn: Cảm nhận của em về
vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
“ Mùa xuân người cầm súng
...
Cứ đi lên phía trước”.
(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
Phần Dàn ý chung
Dàn ý minh hoạ
MB - Giới thiệu tác giả, tác - Thanh Hải tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê
phẩm
ở Thừa Thiên – Huế. Ông là một trong những cây
- Giới thiệu vị trí của bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở
khổ thơ và nội dung Miền Nam từ những ngày đầu. Thơ ông bình dị,
chính của nó
đôn hậu, tình cảm chân thành, thiết tha.
- Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ra đời 1980 khi nhà
thơ đang nằm trên giường bệnh, không bao lâu
trước khi qua đời. Bài thơ thể hiện niềm yêu mến
thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện của
tác giả.
- Khổ thơ thứ hai và ba thể hiện niềm cảm xúc
mùa xuân cho đất nước.
+ Hoà cùng nhịp sống của mùa xuân đất nước,
các từ láy hối hả, xôn xao đã khắc hoạ tâm trạng
nôn nao, náo nức của con người.
+ Nhà thơ có những suy nghĩ về lịch sử dân tộc
bằng niềm tin tưởng, tự hào qua hình ảnh nhân
hoá “ Đất nước bốn nghìn năm/ Vất vả và gian
lao”
+ Tác giả đã khái quát được cả một thờ đại đang
đi lên của dân tộc bằng một hình ảnh so sánh đẹp
“ Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước”
- Đánh giá, nâng cao: (ý 3)
+ Đánh giá:
* Nghệ thuật: thể thơ, giọng điệu, hình ảnh.
* Đoạn thơ đã tái hiện lại không khí của cả dân
tộc trong một thời kì dựng xây hối hả, khẩn
trương của dân tộc trong điều kiện đất nước còn
bao gian khó...
+ Nâng cao:
* Cảm nhận vẻ đẹp trong cảm xúc của nhà thơ.
* Đặt bài thơ trong cảm xúc toàn bài; hoàn cảnh
ra đời của bài thơ.
- Khái quát giá trị của - Khẳng định lại nội dung của đoạn thơ.
khổ thơ đặt trong mối - Suy nghĩ của người viết.
quan hệ toàn bài.
- Liên hệ.
3.2. Xây dựng dàn ý cho kiểu bài nghị luận cả bài thơ
Phương pháp lập dàn ý cho dạng bài này về cơ bản giống dạng trên. Tuy
nhiên hệ thống luận điểm được xây dựng dựa vào bố cục và mạch cảm xúc toàn
thuần là phân tích bài thơ. Đây là điều cần tránh mà người dạy phải hướng dẫn các
em một cách tỉ mỉ, cụ thể, thông qua thực hành làm bài thì học sinh mới thật sự
thành thục khi giải quyết một đề văn dạng này.
Ở ý thứ 3 - Đánh giá lại nhận định, mở rộng vấn đề (Đánh giá, nâng cao):
Cần hướng dẫn học sinh sau khi phân tích bài thơ phải quay lại đánh giá tính đúng
đắn cũng như giá trị của nhận định. Nhiều học sinh thường bỏ quên ý này khiến
cho bài làm thiếu chặt chẽ, cụt ý, thiếu sâu sắc.
Ví dụ ở Đề 5:
Ý thứ nhất: cần giải thích Những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình là tất
cả những gì đang diễn ra, đang hiện hữu hàng ngày xung quanh cuộc sống con
người. Chuyện thoáng qua là những điều không mấy ai quan tâm, để ý; lắng sâu,
đọng lại chỉ sự thấm sâu, in đậm trong trí nhớ, trong tâm tưởng người đọc. Ý kiến
khẳng định: Nguyễn Duy thường hướng cảm xúc, suy nghĩ tới tất cả những gì đang
diễn ra xung quang cuộc sống của con người, kể cả những điều không mấy ai quan
tâm. Tuy nhiên, qua thơ ông, những cái tưởng như thoáng qua ấy lại trở thành
những điều sâu sắc, in đậm trong tâm tưởng người đọc buộc ta phải trăn trở, suy
ngẫm.
Ý thứ 2: chứng minh nhận định: (đã trình bày ở phần 2.2.2).
Ý thứ 3: Đánh giá, nâng cao: việc đánh giá vẫn phải xuất phát từ giá trị của
bài thơ ( nội dung và nghệ thuật). Song luôn gắn chặt dưới quan điểm của nhận
đinh. Sau đây là một vài ý định hướng:
12
- Những điều giản dị mà sâu sắc ấy được Nguyễn Duy thể hiện qua một bài thơ 5
chữ với giọng điệu tâm tình như một câu chuyện nhỏ; sự sáng tạo hình ảnh vầng
trăng mang nhiều tầng ý nghĩa...
- Điều suy ngẫm và đọng lại ở bài thơ Ánh trăng là lời tự nhắc nhở của nhà thơ về
những năm tháng gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu, ân tình; gợi
Điều cuối cùng và quan trọng nhất là cần làm rõ các yếu tố nghệ thuật ấy lầm
rõ cho nội dung tư tưởng nào mà tác giả muốn gửi gắm. Nếu tách rời phương diện
nội dung thì sự phân tích nghệ thuật trở nên vô nghĩa.
3.5. Xây dựng dàn ý cho kiểu bài nghị luận thơ xuất phát từ một vấn đề
lí luận văn học.
Dàn ý chung cho kiểu bài này như sau:
MB: - Dẫn dắt từ vấn đề lí luận văn học
- Trích dẫn ý kiến
- Giới thiệu tác phẩm cần chứng minh và phạm vi bài làm
TB: Ý 1. Giải thích ý kiến
13
Ý 2. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Ý 3. Chứng minh, làm rõ vấn đề lí luận thông qua việc phân tích tác phẩm
Ý 4. Đánh giá, nâng cao.
KB: - Khẳng định lại vấn đề
- Suy nghĩ bản thân.
Đây là dạng đề khó, thông thường chỉ học sinh đội tuyển mới tiếp cận và giải
quyết các dạng đề này. Nhiều giáo viên khi dạy học sinh mũi nhọn thường rất ngại
dạy dạng để này hoặc dạy nhưng vẫn còn lúng túng nên chưa hình thành cho các
em một kĩ năng thành thục để làm bài. Xây dựng dàn ý cho kiểu bài này cần hướng
dẫn các em từng bước một.
Đối với phần Mở bài, không nên áp dụng máy móc như các dạng đề khác là
giới thiệu tác giả, tác phẩm mà phải dẫn dắt từ một vấn đề lí luận liên quan. Bởi lẽ,
nhận định về một vấn đề lí luận thường có tính đánh giá một đặc tính, một bản chất
của văn học cho nên nó có thể áp dụng cho mọi tác phẩm cùng thể loại. Nếu dẫn
dắt về tác giả, tác phẩm (phạm vi hẹp) sang vấn đề lí luận cần bàn (phạm vi rộng
hơn) thì bài làm sẽ khập khiễng, khó thuyết phục người đọc. Sau khi dẫn dắt từ vấn
đề nghị luận liên quan, cần trích dẫn nguyên văn ý kiến và giới thiệu tên tác phẩm
- Giới thiệu bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
TB:
Ý 1: Giải thích:
- Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, là nơi nhà văn gửi
gắm những tình cảm sâu sắc nhất, những cảm xúc chân thành nhất, những khát
vọng mãnh liệt nhất về con người và cuộc sống. Nói đến thơ trữ tình là nói đến thế
giới của tình cảm, cảm xúc. Chỉ khi thực sự thăng hoa, cảm xúc đang chất chứa
trong lòng thì người nghệ sĩ mới sáng tạo thành thơ.
- Sự gặp gỡ tâm hồn con người là sự gặp gỡ của độc giả với thế giới nội tâm của
nhân vật trữ tình thông qua tác phẩm thơ. Thế giới tâm hồn có thể là niềm vui, nỗi
buồn, sự trăn trở, niềm yêu thích… trước một vấn đề nào đó của cuộc sống xã hội;
tâm hồn trong thơ có thể là thế giới nội tâm của chính tác giả được bộc lộ thầm kín
qua lăng kính ngôn từ…
- Thế giới tâm hồn mà bạn đọc gặp gỡ dường như không được bộc lộ một cách
trực tiếp, giản đơn mà thông qua các hình thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm.
Đó là hệ thống hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu, các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu…
- Bạn đọc phải đặt mình vào nhà thơ để rung lên những cảm xúc đồng điệu thì mới
có thể gặp gỡ được tâm hồn vô cùng tinh tế mà thi sĩ gửi gắm trong tác phẩm của
mình.
=> Đánh giá của nhà văn Pháp Ana- tôn Prăng- xơ hướng bạn đọc đến thế giới
cảm xúc của tác giả và sự đồng điệu trong tâm hồn giữa nhà thơ và bạn đọc.
Ý 2: Chứng minh qua bài thơ “Bếp lửa”
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Đến với bài thơ Bếp lửa là ta gặp gỡ nỗi lòng của người cháu xa quê nhớ về
người bà kính yêu.
- Nỗi lòng của nhà thơ là sự hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, bên
bếp lửa.
- Từ hồi ức kỉ niệm mà người cháu đã có những suy ngẫm và liên tưởng về cuộc
đời bà về bếp lửa, ngọn lửa.
Việt Nam và hai tác phẩm Bếp lửa và Ánh trăng
TB: Ý 1: Giới thiệu chung về truyền thống ân tình thủy chung của người Việt
Nam.
Ý 2: Sự gặp gỡ của vẻ đẹp truyền thống ân tình, thuỷ chung thể hiện
trong hai thi phẩm.
- Coi trọng quá khứ, kỉ niệm : đó là những tình cảm nghĩa tình, quý giá giúp con
người vượt qua những khó khăn của cuộc sống (phân tích qua 2 tác phẩm).
- Hai tác phẩm đều được viết bởi thực tại hồi tưởng về quá khứ để từ đó suy ngẫm
về những giá trị thiêng liêng của tình người.
- Từ những cảm xúc, hoàn cảnh khác nhau, hai bài thơ đều đề cập đến một giá trị
sống, một đạo lý trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là : ân tình, chung
thủy của con người.
Ý 3: Nét đẹp của truyền thống ân tình, thủy chung trong từng bài thơ.
- Trong bài thơ Bếp lửa, truyền thống ân tình, thủy chung được thể hiện trong tấm
lòng của người cháu yêu thương và nhớ ơn bà khi đã khôn lớn trưởng thành.
- Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, truyền thống ân tình, thủy chung được
thể hiện qua tâm tình người chiến sĩ bước ra từ chiến tranh trở về với cuộc sống
hoà bình.
- Những sáng tạo về nghệ thuật thể hiện ở mỗi bài.
Ý 4: Đánh giá, nâng cao.
- Đánh giá về điểm tương đồng và lí do khác biệt trong hai bài thơ.
- Đánh giá về giá trị của hai bài thơ trong việc thể hiện một truyền thống tốt đẹp
của dân tộc.
KB: - Khái quát vấn đề nghị luận.
- Liên hệ, suy ngẫm.
IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.
Sau hai năm nghiên cứu và vận dụng đề tài vào trong thực tiễn giảng dạy, tôi
thấy hiệu quả của đề tài đã thể hiện rõ rệt. Học sinh lớp 9 đã chủ động trước một đề
bài nghị luận thơ. Tuỳ vào khả năng diễn đạt và cảm thụ ở những mức độ khác
nhau, nhưng các bài làm của các em đều có chung một ưu điểm là đủ ý, làm đúng
34,5
6
10,3
2
3,4
Khó(HS 10
giỏi)
2
20
0
0
0
0
8
80
Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy số học sinh làm được và làm tốt
công nào đến một cách dễ dàng. Sản phẩm của người thầy chính là kết quả học tập
của học sinh. Có được kết quả tốt cần phải coi trọng cả quá trình dạy học, công
phu, kiên nhẫn, từng bước một. Chắc chắn sự tận tâm của người thầy là chìa khoá
trao cho các em mở cánh cửa tương lại. Đối với những người dạy văn, học trò viết
được những bài văn đúng và cao hơn là những bài văn hay là phần thưởng vô giá
của mỗi người giáo viên trong sự nghiệp trồng người.
2. Kiến nghị :
Về phía Sở giáo dục và Phòng giáo dục: Nên có những đợt tập huấn về
phương pháp, kinh nghiệm dạy Tập làm văn; chúng tôi mong được chia sẻ kinh
nghiệm và học tập nhiều hơn nữa từ các đồng chí có năng lực giỏi, có bề dày thành
tích và kinh nghiệm.
Về phía Nhà trường: Các tổ chuyên môn nên thảo luận sâu về phương pháp,
cách làm trong quá trình dạy học; chia sẻ kinh nghiệm để cùng nhau học tập, nâng
cao chất lượng dạy và học.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong quá trình hướng
dẫn học sinh lớp 9 lập dàn ý cho bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Do thời
gian có hạn cùng với khả năng của bản thân còn hạn chế chắc chắn không tránh
khỏi thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến từ Hội đồng khoa học, các đồng
chí đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn và có hiệu quả cao trong quá trình
giảng dạy.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Vân Du, ngày 15 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan SKKN là do tôi tự làm,
không sao chép của người khác.
Người viết SKKN
Trần Thị Liên