Kinh nghiệm rèn luyện cho học sinh lớp 7 sử dụng thành ngữ trong khi nói và viết - Pdf 44

PHỤ LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

NỘI DUNG
Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lý luận
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo
Danh mục sáng kiến kinh nghiệm đã được xếp loại.


tộc mình. Có hiểu rõ, hiểu sâu sắc Tiếng Việt mới tiếp thu tốt được những kiến
thức các môn học trong chương trình quy định nhất là môn Ngữ văn. Đây cũng
là một vấn đề đặt ra không những đối với giáo viên mà trong toàn xã hội cần
phải quan tâm. Vì vậy, giáo viên Ngữ văn đóng một trò quan trọng trong việc
giúp học sinh hiểu đúng nghĩa Tiếng Việt.
Trong kho tàng phong phú của dân tộc ta về ngôn ngữ có một bộ phận
không thể thiếu được, nó gắn bó với con người với cha ông ta từ xa xưa, phản
ánh đời sống văn hoá tinh thần. Đó là thành ngữ. Đây chính là lời ăn tiếng nói sử
dụng hàng ngày của nhân dân ta. Nó là tinh hoa văn hoá dân tộc. Đây là cách nói
bằng hình tượng, lời ít nhưng ý nhiều, là cách giao tiếp rất hiệu quả mà ông cha
ta đã sử dụng hàng nghìn đời nay. Vì vậy là người Việt Nam chúng ta phải hiểu
được vốn ngôn ngữ vô cùng quý giá này.
Trong chương trình môn Ngữ Văn THCS, thành ngữ được đưa vào
chương trình Ngữ Văn lớp 7, nhằm cung cấp vốn thành ngữ cho học sinh. Tuy
nhiên hiện nay đại bộ phận học sinh nhất là học sinh trung học cơ sở vốn thành
ngữ tiếng Việt rất ít, rất nghèo nàn. Ngoài những thành ngữ cung cấp trong sách
giáo khoa, học sinh không có thêm vốn thành ngữ khác. Không những thế, học
sinh còn nhớ không chính xác và hiểu không đúng ý nghĩa của thành ngữ. Chính
vì vậy việc trang bị cho các em một vốn thành ngữ nhất định để giúp cho việc
tiếp thu kiến thức nói chung và kiến thức Tiếng Việt nói riêng là một điều rất cần
thiết.
Từ lý do trên, bản thân là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn trong quá
trình giảng dạy tôi đã tìm tòi thử nghiệm và rút ra được một vài kinh nghiệm:
“Kinh nghiệm rèn luyện cho sinh lớp 7 sử dụng thành ngữ trong khi nói và
viết.”.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp học sinh nắm chắc thành ngữ, hiểu được ý nghĩa của thành ngữ,
vận dụng thành thạo thành ngữ khi nói cũng như tạo lập văn bản.
- Rèn luyện học sinh vận dụng thành ngữ, sử dụng thành thạo Tiếng Việt
trong học tập cũng như giao tiếp.

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN:
1. Cơ sở lý luận:
“Thành ngữ là một loại tổ hợp từ (cụm từ) cố định. Nói như vậy có nghĩa
là các từ trong thành ngữ khó thay đổi, thêm bớt, vị trí của các từ cũng không
thay đổi. Thành ngữ là một vật liệu định hình có sẵn trong kho tàng từ ngữ, dùng
để cấu tạo câu. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp trong sử dụng người ta có
thể thay đổi chút ít kết cấu của thành ngữ.
Có những thành ngữ mà nghĩa của nó có thể dễ dàng suy ra, trực tiếp từ
nghĩa đen, nghĩa bề mặt của các từ tạo nên nó như: bùn lầy nước đọng, năm
châu bốn biển, mẹ góa con côi..nhưng phần lớn thành ngữ mang nghĩa hàm ẩn
như: ruột để ngoài da, đi guốc trong bụng, rán sành ra mỡ… Học thành ngữ
quan trọng là để biết các nghĩa hàm ẩn, để nắm được các mối quan hệ liên tưởng
giữa nghĩa bề mặt và nghĩa hàm ẩn, giữa hình tượng cụ thể và nghĩa hàm ẩn.
Chưa nắm được nghĩa hàm ẩn là chưa nắm được cái thần của thành ngữ.
Giá trị của thành ngữ là ngắn gọn, hàm súc và có tính hình tượng cao.
Ngắn gọn, hàm súc thì kiệm lời mà nhiều ý, có tính hình tượng cao thì lời nói
sinh động, gây ấn tượng mạnh mẽ, tăng thêm hiệu quả giao tiếp”. [1]
Vì vậy, dạy thành ngữ để giúp học sinh thực sự cảm được cái hay, cái đẹp,
sự tinh tế, độc đáo của tiếng mẹ đẻ. Đồng thời, học sinh thấy được vốn ngôn ngữ
3


dồi dào và phong phú của ông cha ta; bồi dưỡng cho học sinh năng lực sử dụng
tiếng Việt đúng và hay; chú trọng rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt giản dị,
trong sáng, chính xác. Căn cứ vào Luật Giáo dục (12/1998), Điều 242 ghi
“Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tính cảm đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho từng học sinh”. Dạy tốt thành ngữ sẽ giúp cho lời ăn, tiếng nói
của các em sinh động, hấp dẫn; đồng thời các em sẽ vận dụng được thành ngữ

thành ngữ và nhận diện thành ngữ. Giáo viên chưa chú trọng, quan tâm rèn
luyện sử dụng thành ngữ cho học sinh. Sau khi học xong bài học “Thành ngữ”,
học sinh ít vận dụng được thành ngữ khi nói và viết. Học mà không vận dụng thì
chẳng khác nào “Nước đổ lá khoai”.
4


- Bên cạnh đó, các hoạt động của tổ chức Đoàn- Đội chưa tạo ra các sân
chơi tạo hứng thú cho học sinh học tập sáng tạo và tự giác cho bộ môn Ngữ văn.
Chính vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng vận dụng thành ngữ khi nói và khi viết là
một việc làm cần thiết của giáo viên dạy Ngữ văn.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Để thực hiện việc trang bị cho học sinh vốn thành ngữ cần thiết cũng như
việc sử dụng vốn thành ngữ đó vào việc giao tiếp tôi đã phải sử dụng nhiều
phương pháp phối kết hợp như phương pháp cung cấp cho học sinh số vốn
thành ngữ nhất định, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của các thành ngữ,
hướng dẫn học sinh vận dụng thành ngữ khi nói cũng như tạo lập văn bản
vv..trong đó có phương pháp điều tra đối thoại là những phương pháp chủ yếu
được áp dụng.
3.1. Giúp học sinh phân biệt thành ngữ và tục ngữ:
Có nhiều cách để phân sự biệt khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, phổ
thông nhất chúng ta căn cứ vào nội dung và hình thức của tục ngữ và thành ngữ.
* Về nội dung:
Tục ngữ diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một sự phê phán, một kinh
nghiệm, một tâm lí, một phong tục tập quán, một chân lí phổ biến. Tục ngữ đúc
kết những kinh nghiệm nhằm giáo dục khuyên răn, hướng dẫn con người trong
quan hệ tự nhiên, xã hội và tư duy, là hiện tượng rõ nét về ý thức xã hội.
Do nội dung mà không ít tục ngữ sâu sắc, có lúc mang tính triết lí, phải trải
kinh nghiệm sống, hiểu biết thưc tiễn hoặc phải nghiên cứu chu đáo mới hiểu hết
nội dung của nó.

h.Tấc đất tấc vàng
i. Ở hiền gặp lành
k. Gần nhà, xa ngõ.
* Lưu ý: Thành ngữ trong các trường hợp trên là: c,e, g,k. Còn lại: a,b,d,h,i là
tục ngữ.
3.2. Giúp học sinh có vốn kiến thức về thành ngữ.
Trước hết là giáo viên dạy ngữ văn phải có nhiệm vụ cung cấp trang bị
cho học sinh một vốn kiến thức về thành ngữ nhất định thông qua các tiết học
trên lớp. Ở đây người thầy phải luôn có ý thức lồng ghép trong việc giảng dạy
bằng cách luôn có ý thức sử dụng thành ngữ trong khi giao tiếp với học sinh
cũng như trong khi giảng dạy.
Ví dụ khi khuyên học sinh có ý thức tích luỹ dần kiến thức tôi đã sử dụng
thành ngữ “Các em không nên nóng vội muốn mình có đủ ngay những thành
ngữ mà cần có thời gian nhất định “Mưa dầm thấm lâu”, “Kiến tha lâu cũng đầy
tổ” hay khi có nhiều ý kiến trái ngược nhau về một vấn đề trong lớp tôi dùng
câu “Bách nhân bách khẩu “ vv...Cứ như vậy học sinh mỗi ngày được trang bị
dần những thành ngữ chẳng bao lâu vốn thành ngữ của các em đã khá hẳn lên.
Mặt khác tôi còn cho học sinh sưu tầm thành ngữ theo các chủ đề như Nông
nghiệp, Nhà trường, Quân đội, Gia đình và những thành ngữ thể hiện cách đối
nhân xử thế vv...
Ngoài việc cung cấp vốn kiến thức về thành ngữ trong các tiết học, người
thầy giáo còn phải hướng đẫn học sinh sưu tầm các thành ngữ trong dân gian,
trong sách vở đặc biệt là sưu tầm trong các tác phẩm văn học .
Để thực hiện được điều này, tôi đã giúp học sinh có thói quen sưu tầm
thành ngữ trong sách vở, trong giao tiếp với mọi người và trong đời sống xã
hội.Tôi đã hướng đẫn học sinh sưu tầm các thành ngữ được sử dụng trong giao
tiếp hàng ngày của ông bà, bố mẹ, của nhân dân .
Ví dụ “Gãi đúng chỗ ngứa”,“Gà tức nhau tiếng gáy”, “Gan cóc tía”, “Gạo
chợ nước sông”, “Gạn đục khơi trong”,“Giàu nứt đố đổ vách”,“Kính lão đắc
thọ”, “Mặt se mày sém” vv...

lối sống, tính cách của dân tộc Việt Nam.
Để hiểu nghĩa bóng trong thành ngữ, trước hết giáo viên phải hướng dẫn
học sinh tìm hiểu nghĩa của thành ngữ. Nếu cứ hướng dẫn học sinh tìm hiểu
ngay nghĩa của cả thành ngữ thì học sinh rất khó tiếp nhận vì vậy tôi đã tiến
hành cho học sinh tìm hiểu về nghĩa của từng yếu tố trong thành ngữ đó.
Ví dụ: Thành ngữ “Voi điếc dạn súng”. Để tìm hiểu thành ngữ này tôi đã cho
học sinh tìm hiểu từng yếu tố :
-Voi : loài vật to lớn
-Điếc : Loại bệnh mất cảm giác âm thanh
-Dạn : Quen, coi thường nguy hiểm
-Súng: Loại vũ khí bắn bằng đạn phát ra tiếng nổ.
Từ việc hiểu được nghĩa của từng yếu tố đó, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết
được định nghĩa bao quát, nghĩa đen của thành ngữ.
Sau khi học sinh đã nắm được nghĩa đen giáo viên gợi mở cho học sinh để
hiểu được nghĩa bóng, nghĩa chuyển của thành ngữ đó.
Voi : Chỉ người cao thượng.
Điếc: Không để ý tới
Dạn súng: Không sợ những lời châm chọc
Vậy nghĩa của thành ngữ này là: Người cao thượng không sợ gì những lời
châm chọc của kẻ hèn mọn.
Hoặc thành ngữ: “Châu chấu đá voi”. Để tìm hiểu thành ngữ này, tôi cũng
lần lượt cho học sinh tìm hiểu từng yếu tố.
7


Về nghĩa đen:
Châu chấu: bọ cánh thẳng, đầu tròn, sống thành bầy, đàn, nhảy giỏi.
Voi: con vật to lớn.
Từ đó, học sinh sẽ nắm được nghĩa bóng: Kẻ sức yếu nhưng có ý chí kiên
quyết chống lại kẻ mạnh. Sự đối địch không cân xứng, không cân sức.

“Bánh trôi nước” (Hồ xuân Hương), nhà thơ có viết:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi, ba chìm với nước non.
Học sinh sẽ nhận ra thành ngữ trong hai câu thơ là “Bảy nổi ba chìm”.
Thành ngữ trong câu này diễn tả sự chìm nổi, bấp bênh của một sự vật. Qua câu
thành ngữ quen thuộc của dân gian, tác giả Hồ Xuân Hương đã làm rõ được
cuộc đời, số phận chìm nổi, bấp bênh, luôn phải đối mặt với sóng gió của cuộc
đời, bị ách trị của người phụ nữ. Đó là một cuộc đời đau khổ, đầy gian nan.
Đồng thời, nhà thơ thể hiện sự đồng cảm, cảm thông với số phận của họ. Nhờ
8


thành ngữ này đã chứng tỏ được nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đỉnh cao
của nền văn học trung đại Việt Nam.
3.4. Hướng dẫn học sinh vận dụng thành ngữ khi nói và tạo lập văn bản:
Sau khi học sinh đã có vốn thành ngữ và hiểu rõ nghĩa của các thành ngữ,
tôi tiếp tục hướng dẫn các em vận dụng vào trong khi nói và tạo lập văn bản.
Giúp học sinh sau khi đã nắm được thành ngữ và nghĩa của nó sẽ ứng
dụng vào việc tạo văn bản và sử dụng thành ngữ trong đời sống giao tiếp hàng
ngày. Đó chính là việc thực hiện “Học đi đôi với hành”. Đây là một bước rất
quan trọng. Bởi vì có vốn thành ngữ mà không đem vào sử dụng cũng như
không có, đồng thời nếu không được sử dụng hoặc không biết sử dụng thì vốn
kiến thức đó cũng dần dần bị mai một và đến một ngày nào đó sẽ không còn.
Chính vì vậy người thầy phải hết sức coi trọng bước này.
a. Trước hết là hướng dẫn học sinh ứng dụng thành ngữ vào việc tạo văn bản
Đây là một vấn đề đặt ra nếu biết sử dụng thành ngữ vào việc tạo văn bản
là một vấn đề cần thiết vì nó ngắn gọn, xúc tích và mang tính nghệ thuật cao.
Sử dụng thành ngữ vào việc tạo văn bản sẽ làm cho văn bản trở lên sinh
động hơn, có hồn hơn. Người đọc dễ nhớ, dễ thuộc.
Để thực hiện được điều này, tôi đã cho học sinh viết những đoạn văn có

sinh không những được sử dụng trong học tập mà còn được sử dụng trong cuộc
sống thường nhật chính vì lẽ đó mà vốn ngôn ngữ của các em ngày càng được
bổ sung .
Muốn làm tốt được điều này tôi đã cho các em được tham gia trải nghiệm
tiếp xúc với nhiều đối tượng. Bởi vì càng tiếp xúc được nhiều đối tượng các em
càng có nhiều điều kiện để sử dụng ngôn ngữ của mình đồng thời tạo ra thói
quen sử dụng thành ngữ. Qua đó mà vốn thành ngữ của học sinh ngày càng được
củng cố và khắc sâu.
Cụ thể là tôi đã hướng dẫn các em nếu đối tượng giao tiếp là nông dân có
thể dùng những thành ngữ gần gũi với nông nghiệp như việc cày bừa đồng áng.
Ví dụ: “Đầu tắt mặt tối”: Nghĩa của thành ngữ là làm lụng quần quận suốt ngày.
“Bán mặt cho đất bán lưng cho giời”: Nghĩa của thành ngữ là làm ruộng
vất vả cực nhọc.
Hoặc thành ngữ: “Ngày rộng tháng dài”: Chỉ thời gian nhiều, nhàn rỗi.
Hay “Bóc áo tháo cày”: chỉ việc bóc lột hoặc tìm cách chèn ép ăn cướp ăn
chặn của người khác.
Nếu đối tượng giao tiếp là bộ đội có thể sử dụng những thành ngữ như:
“Chân cứng đá mềm”: chỉ trí bền lực khoẻ vượt qua mọi gian khổ hiểm
nguy.
“Băng rừng vượt suối”: chỉ sự quyết tâm vượt qua gian khó nguy hiểm.
“Bom rơi đạn nổ”: chỉ sự nguy hiểm dễ bị chết chóc vì có chiến sự.
“Tiến thoái lưỡng nan”: chỉ tình thế tiến hay lùi cũng khó.
Nếu đối tượng giao tiếp là học sinh có thể sử dụng những thành ngữ :
“Bia đá tượng đồng”: chỉ người thi cử đỗ đạt được mọi người ngưỡng mộ
ghi nhớ.
Thành ngữ “Vinh quy bái tổ”: chỉ người được vua ban cờ biểu mũ áo sau
khi thi đậu tiến sĩ trở về cúng gia tiên trong sự đón rước của dân làng.
Hay “Học một biết mười” nghĩa là thông minh đầu óc sáng tạo,
“Học như vẹt” học thuộc làu mà không hiểu gì như con vẹt bắt chước nói
theo người mà không hiểu gì.vv...

thích hơn bộ môn ngữ văn. Mỗi học kì, tôi lựa chọn chủ đề, hình thức tổ chức.
Năm học 2016-2017, tôi đã cho học sinh ngoại khóa về thành ngữ.Trong buổi
hoạt động ngoại khóa, tôi tổ chức cho học sinh các hoạt động nhằm nâng cao
vốn kiến thức về thành ngữ cũng như kĩ năng sử dụng thành ngữ:
a. Thi đọc nhanh các câu thành ngữ:
Học sinh đọc nhanh các câu thành ngữ được sử dụng trong chương trình
ngữ văn lớp 6,7. Hai đội thi bằng cách viết lên bảng các câu thành ngữ trong
thời gian qui định. Đội nào viết được nhiều thành ngữ đúng sẽ thắng.
Ví dụ: Học sinh sẽ tìm được các thành ngữ: Nem công chả phượng, Sơn
hào hải vị (Bánh chưng, bánh giầy); Khỏe như voi; Tứ cố vô thân (Thạch Sanh);
Bảy nổi ba chìm (“Bánh trôi nước” Hồ Xuân Hương); Mèo mả, gà đồng (Chèo
“Quan âm Thị Kính”)…
b. Thi hái hoa dân chủ:
Tìm năm thành ngữ có sử dụng hình ảnh con chuột và năm thành ngữ có
sử dụng hình ảnh con voi. Hai đội thi viết lên bảng các câu thành ngữ trong 2
phút, đội nào viết đúng và đủ và nhanh hơn sẽ thắng.
Gợi ý:
* 5 thành ngữ có sử dụng hình ảnh con chuột:
- Chuột sa chĩnh gạo.
- Chuột chạy cùng sào.
- Chuột gặm chân mèo.
- Chuột chù lại có xạ hương.
- Cháy nhà ra mặt chuột.
*5 thành ngữ có hình ảnh con voi:
- Mười voi không được bát nước xáo.
- Theo voi hít bã mía.
11


- Đầu voi đuôi chuột.

33,3
40/45
88,9
thành ngữ nhất
2-Học sinh tìm được ít
30/45
66,7
5/45
11,1
thành ngữ nhất
3-Số thành ngữ được giải
7/15
46,6%
35/40
87,5
nghĩa nhiều nhất
4-Số thành ngữ không được
8/15
53,4
5/40
12,5
giải nghĩa
5-Số học sinh biết sử dụng
7/45
15,5
45/45
100%
thành ngữ
Qua bảng thống kê trên, ta thấy sau khi thực hiện phương pháp này kết
quả của học sinh tăng lên rõ rệt. Số thành ngữ của các em tích luỹ được đã tăng

Hai là: Phải hiểu được học sinh, nắm được vốn ngôn ngữ nói chung và
vốn thành ngữ nói riêng của từng học sinh có như vậy mới có những biện pháp
thích hợp để giáo dục học sinh có hiệu quả.
Ba là : Người thầy phải biết kích thích học sinh tạo được lòng ham mê tìm
hiểu ngôn ngữ cũng như việc sử dụng thành ngữ Tiếng Việt. Đồng thời phải có ý
thức trau dồi tích luỹ thường xuyên trong quá trình học tập không dừng lại ở
một cấp nào.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Bỉm Sơn, ngày 12 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Hương

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

13


TT

1
2
3
4
5
6

3 Một số suy nghĩ khi dạy Tiếng Việt cho
học sinh lớp 6
4 Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh
lớp 6
5 Một số phương pháp dạy làm văn tự sự
lớp 8
6 Phương pháp dạy truyện dân gian cho học
sinh lớp 6
7 Rèn kĩ năng miêu tả cảnh cho học sinh
lớp 6
8 Dạy làm văn biểu cảm cho học sinh lớp 7
9 Dạy làm văn biểu cảm cho học sinh lớp 7
10 Kinh nghiệm dạy cho học sinh lớp 9 viết
văn nghị luận xã hội
11 Kinh nghiệm dạy viết đoạn văn tự sự cho
học sinh lớp 6

15

Năm học

Xếp
loại

Cấp đánh
giá

2002-2003

A


Cấp thị xã

2011-2012

B

Cấp thị xã

2012-2013
2012-2013
2014-2015

A
C
B

Cấp thị xã
Cấp tỉnh
Cấp thị xã

2015-2016

B

Cấp thị xã





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status