Xây dựng kế hoạch hoạt động của công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi tiên lãng - Pdf 44

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Quản lý có bốn chức năng đó là lập kế hoạch, lãnh đạo, tổ chức và kiểm tra.
Trong đó chức năng đầu tiên đó là lập kế hoạch. Đối với người quản lý thì nó có
vai trò rất quan trọng bởi nó là kim chỉ nam đề ra mục tiêu cũng như phương
hướng, chương trình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Đối với một doanh nghiệp, một tổ chức thì nhiệm vụ đầu tiên đó là lập kế
hoạch. Trong quá trình quản lý, nhiệm vụ này có vai trò và chức năng rất quan
trọng, nó là cơ sở để đạt được hiệu quả cao trong quá trình hoạt động sản xuất,
giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Các nhà quản lý phải lập kế hoạch bởi vì lập kế hoạch đề ra những phương
hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi
trường, tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực, và thiết lập nên những tiêu
chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra. Xây dựng kế hoạch là một trong những
công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong
một doanh nghiệp. Xây dựng kế hoạch cho biết mục tiêu của doanh nghiệp. Khi tất
cả các cán bộ, công nhân trong một doanh nghiệp biết được mục tiêu và nhiệm vụ
của doanh nghiệp, biết được mình phải làm gì, cống hiến những gì để giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu, thì họ sẽ có phương hướng để hợp tác, tổ chức và phối
hợp chặt chẽ với nhau để hoàn thành công việc một cách có hiệu quả nhất. Nếu
không có kế hoạch thì con đường đi tới mục tiêu của doanh nghiệp sẽ không thể
đạt được hiệu quả và thời gian như mong muốn.
Ngoài ra lập kế hoạch còn giúp làm làm tăng tính ổn định cho doanh nghiệp
hoặc tổ chức. Môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp luôn có sự bất ổn
định và dễ thay đổi, do đó công tác lập kế hoạch trở thành tất yếu và là một mắt
xích quan trọng đối với mỗi nhà quản lý, mỗi doanh nghiệp. Việc xây dựng kế
hoạch buộc các nhà quản lý phải có tầm nhìn xa, dự đoán trước được những biến
động trong nội bộ doanh nghiệp và môi trường bên ngoài, từ đó xem xét đánh giá
những ảnh hưởng có thể xảy ra để có những biện pháp và nhiệm vụ thích hợp.
Với những lý do trên, tôi xin lựa chọn đề tài: “Xây dựng kế hoạch hoạt động
của công ty TNHH Một thành viên khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng”

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, các chữ viết tắt, các tài
liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp dịch vụ
công ích.
Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch của công ty
TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng.
Chƣơng 3: Xây dựng kế hoạch hoạt động của công ty TNHH MTV Khai
thác công trình thủy lợi Tiên Lãng trong năm 2017.

2


CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG
KẾ HOẠCH CỦA DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG ÍCH
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến kế hoạch hoạt động của doanh
nghiệp cung ứng dịch vụ công ích.
1.1.1. Khái niệm về kinh doanh
- Dưới góc độ pháp lý thì kinh doanh được hiểu là: "Việc thực hiện liên tục
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi".
Còn đối với các nhà kinh tế học và các doanh nhân thì có cách định nghĩa khác
nhau về việc kinh doanh. Tuy nhiên, hầu hết đều đồng ý rằng kinh doanh là công
việc sống còn để giúp nền kinh tế tăng trưởng và tạo ra cơ hội việc làm trong mọi
xã hội. Điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển, nơi mà các doanh
nghiệp nhỏ thành công là động cơ chính tạo ra công ăn việc làm và giúp giảm đói
nghèo.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ công
1.1.2.1. Khái niệm
Dịch vụ công và hàng hóa công cộng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong
kinh tế học, ý nghĩa và đặc tính cơ bản của hàng hóa công đó là: Là hàng hóa dành

yếu của xã hội. Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ
công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự
công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị
trường.
Từ những tính chất trên đây, “dịch vụ công” được hiểu theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can
thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ
công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính
phủ, bao gồm từ các hoạt động bah hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến
những hoạt động y tế, giáo dục, thủy nông; giao thông công công.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ
trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc
cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
1.1.2.2. Đặc trƣng cơ bản của dịch vụ công
- Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu, các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
- Thứ hai, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp cung ứng hoặc
uỷ nhiệm việc cung ứng). Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư
4


nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự
công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các điểm khuyền khuyết của
thị trường.
- Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu,
quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân.
- Thứ tư, mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cung
ứng dịch vụ.
1.1.2.3. Các loại dịch vụ công

nhà nước. Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước.
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội
thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể
dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,… Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là
nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được
hoặc không muốn làm nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại
dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội.
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản,
thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp
nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai… chủ yếu do các doanh
nghiệp nhà nước thực hiện. Có một số hoạt đọng ở địa bàn cơ sở do khu vực tư
nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở
một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…
1.1.2.4. Các đặc điểm của dịch vụ công
Các lại hình dịch vụ công có những đặc điểm chung cơ bản sau đây:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính phục vụ lợi ích cộng đồng
đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo
đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi. Mọi người đều
có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng
phục vụ của nhà nước. Từ đó, có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều
kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công.
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng
hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm do tổ chức cá nhân thực hiện,
đáp ứng nhu cầu toàn xã hội bất kể sản phầm được tạo ra có hình thái hiện vật hay
phi hiện vật.
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.
Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn
là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước, Cũng có những
dịch vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song
6

chức năng cơ bản của quá trình quản lý thì lập kế hoạch được xem như là phần gốc
của một cái cây lớn, và từ đó mới phát triển lên các “nhánh” tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra. Nếu đứng trên phương diện này thì xây dựng kế hoạch có thể nói là chức
năng nền tảng và cực kì quan trọng đối với những người làm quản lý.
7


Với cách tiếp cận theo quá trình: kế hoạch sản xuất kinh doanh có thể coi là
quá trình liên tục xoáy trôn ốc với chất lượng ngày càng tăng lên kể từ khi chuẩn bị
xây dựng kế hoạch cho tới lúc chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch nhằm đưa hoạt
động của doanh nghiệp theo đúng mục tiêu đã đề ra. Theo cách tiếp cận này thì lập
kế hoạch được xem là một quá trình tiếp diễn phản ánh và thích ứng được với
những biến động diễn ra trong môi trường của mỗi tổ chức, đó là quá trình thích
ứng với sự không chắc chắn của môi trường bằng việc xác định trước các phương
án hành động để đạt được mục tiêu cụ thể của tổ chức.
Còn dưới góc độ định nghĩa theo nội dung và vai trò: “Lập kế hoạch là một
trong những hoạt động cơ bản của quá trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản
chất thì hoạt động này nhằm mục đích xem xét các mục tiêu, các phương án kinh
doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh” HENRYPAYH.
Như vậy, lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các
phương thức để đạt được các mục tiêu đó. Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định
mục tiêu cần phải đạt được là cái gì? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó
như thế nào? Tức là, lập kế hoạch bao gồm việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt
được, xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc
triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động.
1.1.4. Vai trò của kế hoạch kinh doanh.
Lập kế hoạch có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản lý và sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đối với một tổ chức hay một doanh nghiệp thì việc đầu
tiên phải làm của quá trình quản lý đó là lập kế hoạch, nó là cơ sở, là then chốt, là
kim chỉ nam để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đi đúng hướng và

sắp xếp rõ ràng, các phương thức hiệu quả nhất để tiếp cận mục tiêu cũng như thực
hiện mục tiêu cũng đã được lựa chọn, từ đó người quản lý doanh nghiệp sẽ tận
dụng được các nguồn lực hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
- Đối với một doanh nghiệp, không có công tác kế hoạch thì doanh nghiệp đó
sẽ không có một mục tiêu, một hướng phát triển cụ thể nào cũng như không xác
định được mình cần phải đạt tới cái gì, thực hiện nó bằng cách nào. Từ đó, doanh
nghiệp cũng sẽ không có cơ sở để đánh giá những việc mình đã làm được, chưa
làm được, những ưu điểm cần phát huy hay hạn chế và khắc phục. Và khi có
những bước đi lệch lạc thì cũng không thể phát hiện và có biện pháp khắc phục
đúng đắn, kịp thời.
Tóm lại có thể thấy, công tác xây dựng kế hoạch đối với mỗi nhà quản lý, mỗi
doanh nghiệp hay mỗi tổ chức đều là tất yếu và vô cùng quan trọng. Nếu không có
công tác này, doanh nghiệp sẽ không thể khai thác triệt để nguồn lực của mình một
9


cách hiệu quả nhất. Thậm chí, cả ý tưởng và mục tiêu phấn đấu doanh nghiệp cũng
không có được. Và việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp sẽ là rất khó khăn.
Kết luận lại, trong mọi quá trình quản lý, chức năng đầu tiên và cũng là quan trọng
nhất đó là chức năng xây dựng kế hoạch. Dù là quản lý ở cấp thấp hay cao thì việc
xây dựng những kế hoạch hoạt động khoa học và có hiệu quả sẽ là mấu chốt cho sự
thành công của doanh nghiệp.
1.1.5. Hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp
Hệ thống kế hoạch của một doanh nghiệp là tổng hợp của nhiều loại kế hoạch
khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng nhất định
nhằm thực hiện mục tiêu tối cao của doanh nghiệp.
Các kế hoạch của một doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau. Theo mỗi tiêu thức phân loại thì lại có một hệ thống kế hoạch khác nhau.
Theo mức độ tổng quát


lược, nó trình bày rõ chi tiết tổ chức cần phải làm như thế nào để đạt được những
mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch chiến lược. Kế hoạch tác nghiệp thể hiện chi tiết
kế hoạch chiến lược thành những hoạt động hàng năm, hàng quý, hàng tháng bao
gồm các kế hoạch nguyên vật liệu, kế hoạch nhân công, kế hoạch tiền lương, kế
hoạch sản phẩm ….Kế hoạch tác nghiệp nhằm mục đích bảo đảm cho mọi người
trong tổ chức đều hiểu về các mục tiêu của tổ chức và xác định rõ ràng trách nhiệm
của họ trong việc thực hiện mục tiêu chung đó và các hoạt động cần được tiến hành
ra sao để đạt được những kết quả dự định trước. Các kế hoạch tác nghiệp chỉ liên
11


quan đến những người trong cùng một tổ chức. Các kế hoạch tác nghiệp được chia
thành hai nhóm sau:
Các kế hoạch tác nghiệp xây dựng một lần sử dụng một lần: là những kế hoạch
cho những hoạt động không lặp lại.Bao gồm:
-Chương trình: Là một tổ hợp các chính sách, các thủ tục, các quy tắc và các
nguồn lực cần thiết có thể huy động nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định mang
tính độc lập tương đối. Mục tiêu của chương trình là mục tiêu quan trọng, ưu tiên
nhưng lại mang tính độc lập tương đối vì thế trong quá trình thực hiện nó đòi hỏi
phải có sự phối hợp của các bộ phận khác. Chương trình được hỗ trợ bởi những
ngân quĩ cần thiết.Một chương trình tương đối lớn, quan trọng thường bao gồm
trong nó nhiều chương trình nhỏ phụ trợ. Ví dụ chương trình xoá đói giảm nghèo
của chính phủ bao gồm có các chương trình phụ trợ như chương trình hỗ trợ phát
triển kinh tế, chương trình cho vay vốn, …
-Dự án : Thường có mục tiêu cụ thể, quan trọng, mang tính độc lập tương đối.
Nguồn lực để thực hiện mục tiêu của dự án phải rõ ràng bao gồm cả hình thái
nguồn lực theo thời gian và không gian.
-Các ngân quĩ: Là kế hoạch tác nghiệp được thể hiện bằng số. Ngân quĩ không
chỉ đơn thuần là ngân quĩ bằng tiền mà còn có ngân quĩ phi tiền tệ như ngân quĩ
nhân công, ngân quĩ nguyên vật liệu, ngân quĩ máy móc thiết bị …

sáng tạo trong khi áp dụng chúng. Như vậy, chính sách có độ linh hoạt cao hơn so
với quy tắc và thủ tục.
Theo thời gian thực hiện kế hoạch
Các kế hoạch được phân ra thành kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
- Kế hoạch dài hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ từ 5 năm trở lên nhằm xác định
các lĩnh vực hoạt động của tổ chức,xác định các mục tiêu,chính sách giải pháp dài
hạn về tài chính, đầu tư, nghiên cứu phát triển …do những nhà quản lý cấp cao lập
mang tính tập trung cao và linh hoạt.
- Kế hoạch trung hạn: Là kế hoạch cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm nhằm phác thảo
các chính sách, chương tình trung hạn để thực hiện các mục tiêu được hoạch định
trong chiến lược của tổ chức.Kế hoạch trung hạn được lập bởi các chuyên gia quản
lý cấp cao, chuyên gia quản lý điều hành đồng thời nó ít tập trung và ít uyển
chuyển hơn kế hoạch dài hạn.
- Kế hoạch ngắn hạn : Là kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm, là sự cụ thể hoá
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh dựa vào mục tiêu chiến lược, kế hoạch, kết quả
nghiên cứu thị trường, các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện năm kế
hoạch do các chuyên gia quản lý điều hành và chuyên gia quản lý thực hiện lập

13


nên.Kế hoạch này không mang tính chất tập trung và thường rất cứng nhắc, ít linh
hoạt.
Ba loại kế hoạch trên có quan hệ hữu cơ với nhau. Trong đó, kế hoạch dài hạn
giữ vai trò trung tâm, chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và kế hoạch hằng năm.
Theo mức cụ thể
Bao gồm kế hoạch cụ thể và kế hoạch định hướng.
-Kế hoạch cụ thể : Là những kế hoạch mà mục tiêu đã được xác định rất rõ
ràng, không có sự mập mờ và hiểu nhầm trong loại kế hoạch này.

Môi trường nội bộ doanh nghiệp là tất cả những gì thuộc về bản thân doanh
nghiệp, liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cảu doanh nghiệp đẻ
việc nhận biết được những điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình tạo cơ sở cho
việc hoạch định chiến lược và thực thi chiến lược kinh doanh. Những nhân tố đó
là: nguồn lực, tài chính, kế toán, marketing, hệ thống thông tin, hệ thống tổ
chức,…
1.2.2. Yêu cầu của công tác xây dựng kế hoạch hoạt động của doanh
nghiệp
- Một trong những yêu cầu hàng đầu và quan trọng nhất trong công tác xây
dựng kế hoạch hoạt động cho một doanh nghiệp đó là tính hiệu quả. Nó là phương
hướng và mục tiêu mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng nhắm tới. Là tiêu chí để
xây dựng, chọn lựa và quyết định phương án kế hoạch hoạt động cho doanh
nghiệp.
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu
hệ thống đồng bộ. Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống thống nhất, gồm nhiều
phân hệ là các doanh nghiệp. Thực hiện yêu cầu này, trong các khâu của công tác
lập kế hoạch phải đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đồng hướng
và góp phần thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán
triệt yêu cầu “vừa tham vọng vừa khả thi “.Trong nền kinh tế thị trường đối với các
doanh nghiệp thì mục tiêu lợi nhuận là tối cao,do vậy để thực hiện được mục tiêu
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch để thực hiện các phương án
đó.Tuy nhiên, các kế hoạch được đề ra phải có khả năng thực thi.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán
triệt yêu cầu “kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế “. Tức là hệ thống
mục tiêu kế hoạch phải được xây dựng và điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay
đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh.

15


Một bước quan trọng mà bất cứ nhà lập kế hoạch nào cũng phải xây dựng cho
bản kế hoạch của mình đó là thiết lập nên các mục tiêu để doanh nghiệp hướng
đến. Các mục tiêu này được xác định đến mức cao nhất có thể và giới hạn trong
16


một thời gian xác định để thực hiện. Thông thường người lập kế hoạch thường đưa
ra nhiều mục tiêu, chia làm hai loại. Loại 1 là mục tiêu hàng đầu, đây là mục tiêu
mà đạt được nó hay không mang tính chất sống còn và thành công của doanh
nghiệp. Thông thường mục tiêu đó thường là lợi nhuận hoặc doanh thu. Nếu không
đạt được đến một tiêu chí nào đó của mục tiêu này, doanh nghiệp có thể sẽ bị phá
sản. Mục tiêu thứ hai ít quan trọng hơn nhưng ở một mức độ nào đó nó cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng
đến sự phát triển toàn vẹn và lâu dài. Những mục tiêu này thường là về sự quan
tâm, tín nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp, hay là sự hiệu quả của cơ chế
quản lý trong doanh nghiệp, phát triển con người, sản phẩm…
1.2.3.3. Phát triển các tiền đề
Tiền đề để lập kế hoạch là các dự báo, các chính sách cơ bản có thể áp dụng, là các
giả thiết cho việc lập kế hoạch. Đó có thể là địa bàn hoạt động, quy mô hoạt động
của doanh nghiệp, mức giá, sản phẩm gì, triển khai công nghệ gì, mức chi phí, mức
lương, mức cổ tức và các khía cạnh tài chính, xã hội, chính trị khác.
Tiền đề còn có thể là những dự báo hay các chính sách còn chưa được ban hành.Ví
dụ như, nếu một công ty đưa ra chương trình phát triển sản phẩm mới thì khi lập kế
hoạch phải dự báo được những phản ứng của khách hàng đối với sản phẩm mới
này.Các tiền đề được giới hạn theo các giả thiết có tính chất chiến lược hoặc cấp
thiết để đưa đến một kế hoạch. Sự hoạt động của các kế hoạch này sẽ chịu nhiều
ảnh hưởng cuả các tiền đề.Sự nhất trí về các tiền đề chính là điều kiện quan trọng
để lập kế hoạch phối hợp.Vì vậy không nên đòi hỏi những kế hoạch và ngân quĩ từ
cấp dưới khi chưa có, trước hết, nên có những chỉ dẫn cho những người đứng đầu
các bộ phận của mình.

hoạch.
- Kế hoạch bán hàng: Đối với một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích,
khách hàng là những đối tượng xác định và khó có thể loại trừ một đối tượng nào
thì sản phẩm của doanh nghiệp thường không phải chịu sự cạnh tranh từ đối thủ
khác. Tuy nhiên mục tiêu của hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng như các
doanh nghiệp thương mại khác, đó là phải tạo được nguồn hàng hóa có sức thu hút
tốt, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng…
- Kế hoạch mua hàng : Mua hàng là điều kiên tiên quyết để thực hiện kế hoạch
bán ra và dự trữ hàng hoá. Mua hàng đòi hỏi hàng hoá phải phù hợp với nhu cầu
của khách hàng, phải mua hàng kịp thời, đúng với yêu cầu, giá cả hợp lý là yếu tố
quan trọng quyết định kinh doanh có lãi. Vì vậy trong kế hoạch mua hàng phải tính
toán, cân nhắc lựa chọn các loại hàng và bạn hàng tin cậy để bảo đảm an toàn vốn
kinh doanh và đáp ứng yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
Các nguồn hàng mà doanh nghiệp có thể lựa chọn: nguồn hàng nhập khẩu, nguồn

18


hàng sản xuất trong nước, nguồn hàng tự khai thác chế biến, nguồn hàng liên
doanh, liên kết, các nguồn hàng khác...
- Kế hoạch sản xuất kinh doanh: Song song với việc đạt được mục tiêu cho đầu
vào và đầu ra thì kế hoạch sản xuất sản phẩm cũng là rất quan trọng. Người lập kế
hoạch phải xây dựng cho doanh nghiệp của mình một kế hoạch sản xuất hoàn
chỉnh, từ việc sản xuất như thế nào để tiết kiệm chi phí nhất cũng như cho ra một
sản phẩm hoàn thiện nhất, số lượng, chất lượng của từng loại sản phẩm cụ thể phù
hợp với nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng đã được phân tích ở bước
nghiên cứu và phân tích ban đầu.
- Kế hoạch hàng hóa dự trữ ở đầu và cuối kỳ : Sự bất ổn của môi trường ngoài
doanh nghiệp cũng như thị hiếu và nhu cầu của khác hàng trong một năm luôn luôn
thay đổi, vì thế người quản lý khi xây dựng kế hoạch phải tiên đoán trước để có

Phƣơng pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kế hoạch theo
một tỷ lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó. Theo phương pháp này
doanh nghiệp sẽ coi tình hình của năm lập kế hoạch giống như tình hình của năm
báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó.
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác, vì thế chỉ nên sử
dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao, và thời gian thực hiện kế
hoạch không kéo dài.
Phƣơng pháp lập kế hoạch từ việc phân tích các nhân tố tác động
Đây là một phương pháp lập kế hoạch có tính chất truyền thống và vẫn được sử
dụng rộng rãi.Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà quản lý phải có cách
xem xét,phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề. Phải biết đặt tình trạng của
doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu tố ngoại lai.Cần xem xét các yếu
tố sau :
-Các yếu tố kinh tế như: Tổng sản phẩm quốc dân, mức cung ứng tiền tệ…
-Sự phát triển về dân số, nhóm lứa tuổi, tình hình thay đổi thói quen trong cuộc
sống.
-Các yếu tố chính trị và pháp luật như luật canh tranh, luật thuế..
-Sự biến động của thị trường và thái độ của khách hàng, quy mô thị trường, chu kỳ
vận động của thị trường, sự trung thành của khách hàng, sức mua.
-Sự thay đổi của khoa học công nghệ, cấu trúc ngành nghề như loại sản phẩm, cấu
trúc giá, chi phí của các đối thủ cạnh tranh.
-Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp như phần thị trường, chu kỳ sống
của sản phẩm,trình độ lao động, chi phí tiền lương, tình hình doanh thu, chất lượng
sản phẩm.
20


Phƣơng pháp lợi thế vƣợt trội
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi lập kế hoạch phải xem xét khai

Phương pháp này nhằm xác định tỷ suất lợi nhuận so với tổng vốn kinh doanh của
từng đơn vị sản xuất chiến lược của doanh nghiệp đẻ lập kế hoạch trên cơ sở phân
tích các vấn đề trên.
Phƣơng pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi nó được đưa ra thị trường
cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường. Chu kỳ sống của sản phẩm được
đặc trưng bởi 4 giai đoạn chủ yếu : Triển khai, tăng trưởng, bão hoà và suy
thoái.Tương ứng với mỗi giai đoạn là các vấn đề và cả cơ hội kinh doanh.Do
vậy,doanh nghiệp cần nắm vững đặc điểm của từng giai đoạn để lập kế hoạch sản
xuất phù hợp vì mỗi giai đoạn của chu kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trường
khác nhau.
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến kế hoạch kinh doanh
1.3.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp.
- Cấp quản lý: cấp quản lý càng cao thì việc lập kế hoạch càng mang tính chiến
lược. Kế hoạch tác nghiệp chiếm ưu thế trong công tác lập kế hoạch của các nhà
quản trị kinh doanh.
- Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp: Có bốn giai đoạn trong chu kỳ sống và
chu kỳ kinh doanh mà doanh nghiệp trải qua là hình thành, tăng trưởng, chín muồi
và suy thoái. Việc lập kế hoạch không đồng nhất qua các giai đoạn này được thể
hiện qua hình: Độ dài qua các giai đoạn khác nhau và tính cụ thể của các kế hoạch
cũng khác nhau.
+ Trong giai đoạn hình thành (giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kỳ kinh doanh)
những người quản trị thường phải lập kế hoạch định hướng. Thời kỳ này rất cần tới
sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có tính chất thăm dò, nguồn chưa được xác
định rõ, thị trường chưa có gì chắc chắn.
+ Trong giai đoạn tăng trưởng: các kế hoạch thường ngắn hạn và có xu thế
thiên về cụ thể vì ở giai đoạn này các mục tiêu đã được xác định rõ hơn, các nguồn
đang được đưa vào thị trường cho đầu ra đang phát triển.
+ Giai đoạn chín muồi: Ở giai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của
tổ chức hay doanh nghiệp là lớn nhất, vì thế nên kế hoạch dài hạn và cụ thể ở giai

trường và số liệu kinh doanh trong những năm vừa qua.
Ở bước xác định mục tiêu cho doanh nghiệp cũng có nhiều điểm mà doanh
nghiệp cần phải chú trọng và lưu ý. Người lập kế hoạch cần phải xác định được
mục tiêu cho doanh nghiệp dựa trên các phân tích môi trường bên ngoài, dựa trên
các đặc thù riêng của lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang hướng tới. Các
mục tiêu của doanh nghiệp phải mềm dẻo, linh hoạt khi đã xác định các mục tiêu
dài hạn dưới dạng định tính.
23


Bước đánh giá và điều chỉnh bản kế hoạch là rất quan trọng. Ở bước này
thường có sự điều chỉnh, tham gia ý kiến của các nhà lãnh đạo, nó là sự đảm bảo
các nhu cầu cần thiết cho các hoạt động mà các doanh nghiệp cần tiến hành để thực
hiện các mục tiêu của kế hoạch. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần lưu ý là sự can
thiệp của các nhà lãnh đạo không nên quá sâu. Vì những thành viên tham gia lập kế
hoạch là những người hiểu sâu sát thị trường nhất, hiểu về môi trường mà doanh
nghiệp đang chịu tác động nhất nên các mục tiêu đưa ra cho bản kế hoạch sẽ phần
nào hợp lý hơn. Để bước đánh giá và điều chỉnh kế hoạch này được tốt nhất, thì
các doanh nghiệp nên tổ chức họp giữa các phòng ban chuyên môn cùng với các
nhà lãnh đạo, qua đó thống nhất được các mục tiêu của lãnh đạo với ý kiến của các
thành viên và khả năng của doanh nghiệp.
b/ Giải pháp về nội dung của kế hoạch: Đối với một doanh nghiệp kinh doanh
thì việc quảng bá cho hình ảnh của doanh nghiệp là cực kì quan trọng. Ngoài việc
giả thiết các khả năng cho sự phát triển của doanh nghiệp và giải thích cho các khả
năng đó, thì trong kế hoạch quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp cũng cần phải
được cụ thể hóa, ví dụ thời gian và địa điểm mà doanh nghiệp tham dự các hội chợ,
hay số lần tổ chức các hội nghị khách hàng, một năm tiến hành bao nhiêu các hoạt
động như vậy. Khi đã cụ thể hóa các hoạt động này, doanh nghiệp sẽ có sự chủ
động và sẽ có sự chuẩn bị chu đáo hơn, qua đó nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi
phí cho hoạt động.

kết và thanh lý hợp đồng với các đơn vị sử dụng nguồn nước mà công ty phục vụ,
thời kì khó khăn còn phải trả lương, thưởng cho công nhân bằng các sản phẩm
nông nghiệp thì đến nay, công ty đã vươn ra quản lý toàn bộ hệ thống cống đập
điều tiết, trạm bơm, kênh rạch cũng như là đơn vị chủ đạo cung cấp nước thô phục
vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, dân sinh kinh tế, có uy tín cao trong huyện,
đóng góp một phần quan trọng trong đời sống sản xuất của một huyện thuần nông.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động.
Công ty TNHH Một thành viên khai thác công trình Thuỷ lợi Tiên Lãng được
thành lập theo luật doanh nghiệp, tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và
điều lệ của công ty. Thực hiện chế độ hạch toán kế toán theo quy định, có con dấu
riêng và mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Được
ngân sách nhà nước cấp bù kinh phí do miễn thủy lợi phí theo quy định tại nghị
định 115/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2008.
- Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là quản lý và vận hành, khai thác hệ thống
công trình thủy lợi, bao gồm tất cả các cống đập điều tiết, các trạm bơm điện cũng
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status