I-PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, ở mọi thời đại, bất cứ hoàn
cảnh nào, đất nước ta cũng luôn quan tâm đến đào tạo và phát triển nhân tài, coi
hiền tài là nguyên khí quốc gia.
Bước vào thế kỷ 21- Thế kỷ của nền văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức. Việt
Nam bước vào thềm hội nhập thế giới. Giáo dục đào tạo, phát triển nhân tài lại
càng là nhiệm vụ trọng yếu mà Đảng, nhà nước ta đã xác định gắn với chiến
lược Quốc gia tại nghị quyết TW 2 khoá 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng.
Những năm gần đây, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, Bộ giáo dục
và đào tạo đã thổi thêm luống gió mới vào các nhà trường bằng sự định hướng
rõ nét: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Lấy học sinh làm
trung tâm. Học sinh được giữ vai trò chủ động trong lĩnh hội kiến thức. Người
thầy giữ vai trò chủ đạo, là trọng tài điều khiển học sinh chủ động nghiên cứu
chiếm lĩnh kiến thức mới. Điều này giúp trò phát huy được năng lực cá nhân,
tính năng động sáng tạo và nhiều cơ hội khám phá tri thức; mặt khác, giúp người
thầy phân loại đối tượng, phát hiện tài năng từ khi các em còn ở bậc học THCS.
Một lần nữa, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng
định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, và "Giáo dục và đào
tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
góp phần quan trọng trong xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam".
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển
biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày
càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân
dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng
bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược giáo dục mang tính quốc gia, chất lượng học
sinh giỏi gắn với nâng cao chất lượng đại trà đã là mục tiêu gắn liền với nhiệm
trong đó có chất lượng học sinh giỏi. Góp một tiếng nói chung trong lĩnh vực
bồi dưỡng học sinh giỏi ở cấp THCS hiện nay.
2.Mục đích nghiên cứu
Đề tài Biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi
ở trường trung học cơ sở Vạn Thắng nhằm đánh giá thực trạng biện pháp chỉ
đạo, kết quả đạt được trong 2 nămhọc 2011-2012; 2012-2013 để nghiên cứu đề
tài; vận dụng trong 2 năm học 2013-2014; 2014-2015; để tìm ra một số nguyên
nhân, rút ra kinh nghiệm, đề xuất một số biện pháp về công tác chỉ đạo bồi
dưỡng học sinh giỏi của trường Trung học cơ sở Vạn Thắng. Góp phần nâng cao
chất lượng học sinh đại trà nói chung, nâng cao chất lượng học sinh giỏi nói
riêng, đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay và duy trì chất lượng giáo dục của
trường Trung học cơ sở Vạn Thắng đạt chuẩn Quốc gia đã được công nhận.
3.Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường trung học cơ sở Vạn Thắng nhằm nghiên cứu, tổng kết kết quả bồi
dưỡng học sinh giỏi thông qua đội ngũ nhà giáo, học sinh và các điều kiện liên
quan đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường Trung học cơ sở Vạn
Thắng.
4.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, kiểm nghiệm thực tế, so sánh đối chứng rút ra bài học
kinh nghiệm gồm:
-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nhận thức về vai trò bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần thiêt thực đào tạo nhân
tài cho đất nước.
Một số lý luận liên quan đến chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi: Năng lực, năng
khiếu, tài năng…
2
-Phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
năng dạy và học, đồng thời đảm bảo mối liên hệ hai chiều thường xuyên, bền
vững.
Quản lý quá trình dạy học là quản lý tập thể giáo viên và học sinh để chính họ
tự quản lý hoạt động của mình. Quản lý hoạt động dạy và học bằng cách tác
động tới từng giáo viên và cả tập thế sư phạm. Mỗi giáo viên lại quản lý việc
học tập, rèn luyện của mỗi lớp, nhóm, đến từng học sinh. Mỗi học sinh lại tự
quản từ bên trong cá thể. Cuối cùng sản phẩm thu được trong nhà trường qua
quá trình quản lý là con người được đào tạo bài bản, toàn diện, nhân cách được
hình thành và phát triển.
3
Sự quản lý trong nhà trường đối với giáo viên và học sinh vừa là tác động
mang tính dân chủ nhằm tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện cho học sinh phát huy
năng lực cá nhân ở mức độ cao nhất, vừa mang tính mệnh lệnh. Như vậy trong
công tác quản lý trường học, người quản lý có vị trí trung tâm trong việc chỉ đạo
dạy và học. Trong đó, nhiệm vụ chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong
những nhiệm vụ quan trọng xuyên suốt mỗi năm học.
1.3/ Một số khái niệm có tính chất lý luận có liên quan đến vấn đề học sinh
giỏi
-Năng lực và tài năng: Năng lực là những vấn đề đặc điểm tâm lý riêng biệt của
mỗi con người. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình phát triển, vận động của hoạt
động cụ thể. Nó là sản phẩm của hoạt động thực tiễn tích cực của con người
không thể tách rời hoàn cảnh xã hội sự tham gia phục vụ cho sự phát triển xã
hội. Người có năng lực thường có đầy đủvốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách
sáng tạo,có khả năng thích ứng và giải quyết những yêu cầu mới.
Năng lực chỉ tồn tại và được khẳng định trong sự vận động của một hoạt động
cụ thể. Nó là sản phẩm của một hoạt động thực tiễn tích cực của con người,
không tách rời hoàn cảnh xã hội và sự tham gia phục vụ cho sự phát triển của xã
được qua quá trình học tập, đồng thời thể hiện qua quá trình tư duy, thái độ và
cách ứng xử, cách vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành, vận dụng kiến
thức kỹ năng vào các hoạt động, tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Nghị quyết trung ương 2 khóa 8 đã chỉ rõ: “ Mục tiêu chủ yếu là giáo dục
toàn diện: Đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học…”. Việc bồi dưỡng học sinh
giỏi không thể tách rời nền tảng giáo dục phổ thông toàn diện, vững chắc. Vấn
đề là phát hiện ra khi nào, học sinh nào và giỏi mặt nào. Hiện nay chưa có một
công thức tối ưu nào cho vấn đề trên. Điều đó chủ yếu phụ thuộc năng lực, nghệ
thuật của nhà sư phạm- Người kỹ sư tâm hồn! Chính vì vậy, chất lượng học sinh
nói chung, và học sinh giỏi nói riêng không chỉ đánh giá bằng điểm số thông qua
các bài kiểm tra, mà quan trọng hơn, cơ bản hơn là các em có năng khiếu bẩm
sinh gì, phẩm chất nào trong nhân cách đang hình thành, các em trưởng thành và
phát triển như thế nào, các em có năng lực gì để tiếp tục bồi dưỡng và phát triển.
-Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
-Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất định.
-Biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi là giải pháp, cách thức giải quyết,
hướng dẫn của quản lý nhà trường cho giáo viên thực hiện việc phát hiện, bồi
dưỡng, đánh giá học sinh giỏi. Chế độ đãi ngộ học sinh giỏi và giáo viên giảng
dạy theo mục tiêu, kế hoạch đã định. Phù hợp với thực tiễn nhà trường, mục tiêu
cấp học, mục tiêu giáo dục quốc gia. Đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triển đất
nước.
2.Thực trạng chất lượng học sinh giỏi trước khi áp dụng đề tài Biện pháp
chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học
cơ sở Vạn Thắng
2.1-Thuận lợi: Trên thực tế, những năm gần đây, chính phủ đã đầu tư thích
đáng cho giáo dục trên tầm vĩ mô, có chiến lược giáo dục lâu dài, do đó nền giáo
dục Việt Nam đã thu được nhiều thành công rực rỡ trong lĩnh vực học sinh giỏi
trong nước và quốc tế.
Sở giáo dục đào tạo Thanh Hóa, Phòng giáo dục đào tạo Nông Cống những
năm gần đây đặc biệt quan tâm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nên đã đưa
tnh, cp huyn v cỏc thnh tớch khỏc v phong tro th dc th thao,vn hoỏ
vn ngh v cụng tỏc on i.
trng trung hc c s Vn Thng, nhn thc c nhim v trc mt v
lõu di trc yờu cu ca giỏo dc hin nay, Ban giỏm hiu ó a vo mt
trong nhng nhim v chin lc trng tõm hng u trong l trỡnh thc hin
ngh quyt 29 ca ban bớ th trung ng ng: Nõng cao cht lng i ngduy trỡ cht lng i tr- Nõng cao cht lng hc sinh gii t 2010 n 2015,
tm nhỡn n 2020. Mc tiờu ny c i ng hng ng tớch cc v ng lũng
thc hin. C s h tng cng c BGH quan tõm tham mu cỏc cp lónh o
u t thớch ỏng. Cht lng i ng, kt qu giỏo dc nhng nm va qua
cho thy thnh cụng bc u ca nh trng l ỏng khớch l: Cht lng i
tr c ci thin thc cht vi t l hng nm bỡnh quõn 98% trung bỡnh tr
lờn. Trong ú, hc sinh khỏ gii 35%, hc sinh yu 3%. Khụng cú hc sinh kộm.
Bờn canh ú, n np k cng ngy cng n nh. Hc sinh xp loi hanh kim
khỏ tr lờn 96%. Khụng cú hc sinh hnh kim yu.
Vi quỏ trỡnh phn u v mi mt ca tp th Chi b, nh trng, nhiu nm
lin trng THCS Vn Thng ó c cụng nhn tp th lao ng hon thnh
xut sc nhim v c UBND huyn Nụng Cng tng giy khen. Thỏng 6 nm
2014, UBND tnh Thanh Húa cp bng cụng nhn trng THCS Vn Thng t
chun Quc gia. Nm 2015, t danh hiu tp th lao ng xut sc cp tnh
c UBND tinh Thanh Húa tng bng khen cựng vi nhiu thnh tớch khỏc ó
to v th cho tp th s phm v ng lc phn u cho giỏo viờn, hc sinh tớch
cc hng ng v t k qu cao trong cỏc phong tro thi ua 2 tt, hc tp v
lm theo tm gng o c H Chớ Minh, xõy dng trng hc thõn thin hc
sinh tớch cc, mi thy cụ giỏo l tm gng o c, t hc v sỏng to .
2.2- Khú khn:
6
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chất lượng giáo dục, nhất là bồi dưỡng
ủng hộ đề án này để tạo môi trường học tập tốt cho đối tượng học sinh có năng
khiếu các môn học ở cấp THCS trên địa bàn huyện. Do đó, học sinh tuyển vào
lớp 6 của trường Vạn Thắng hàng năm cũng chỉ đạt mức trung bình trở xuống,
số học sinh đầu cấp giảm. Đây là khó khăn lớn nhất của nhà trường trong nhiệm
vụ duy trì chất lượng dạy và học cũng như xây dựng chất lượng học sinh giỏi.
Với những nguyên nhân trên, cho dù đã rất nỗ lực tìm tòi hướng đi cho chất
lượng học sinh giỏi, song công sức đội ngũ đầu tư vào chất lượng giáo dục và
kết quả đạt được các năm học thường không tương đồng với nhau. Khảo sát qua
các kỳ thi và học sinh giỏi toàn diện qua đánh giá chất lượng cuối năm học trước
khi nghiên cứu và áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp chỉ đạo
nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học cơ sở
Vạn Thắng vẫn chỉ ở mức trong bảng thống kế dưới đây:
7
Học sinh
Năm học
toàn trường
20112012
20122013
272
280
Học sinh
giỏi toàn
diện
14 em
(5,1%)
15 em
tác chuyên môn, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, quỹ thi đua khen thưởng gắn
nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi vào tiêu chí thi đua và đánh giá chất lượng
giáo viên trong mỗi năm học. Nghị quyết hội nghị CBGV dầu năm học 20132014 đã quy định:
-Mỗi giáo viên, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo phân phối
chương trình, hoàn thành chỉ tiêu khoán chất lượng đại trà, phải tham gia ít nhất
một chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở khối lớp được giao giảng dạy trong
năm học.
-Trong 2 năm học mỗi giáo viên phải nghiên cứu thành công một sáng kiến kinh
nghiệm có chất lượng để dạy thử nghiệm.
-Giáo viên đứng lớp phải đạt ít nhất 10% học sinh giỏi môn cấp trường. 100%
các môn dự thi học sinh giỏi phải có giải cấp huyện trở lên.
-Chọn và xây dựng phương án cho các môn học có bề dày thành tích học sinh
giỏi qua các năm học để phấn đấu có học sinh giỏi lọt vào đội tuyển thi tỉnh.
-Mỗi môn văn hóa phải tổ chức ít nhất 1 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi
trong năm học.
3.2/ Chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi.
-Xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên trước hết đủ về số lượng và chất
lượng; có phẩm chất chính trị, có năng lực chuyên môn khá, giỏi, có trình độ tin
học, hiểu biết về ngoại ngữ, có phong ách sư phạm chuẩn mực, có uy tín cao với
học sinh và phụ huynh; đoàn kết, tâm huyết, gắn bó với nhà trường, hợp tác giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ.
-Nâng cao nhận thức của đội ngũ đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
8
Thầy nào-trò ấy! Mỗi đồng chí giáo viên phải nhận thức thấu đáo được sứ mệnh
nhà trường, danh hiệu tập thể sư phạm, uy tín nhà giáo gắn liền với chất lượng
giáo dục. Trong đó khách quan nhất là kết qủa học sinh giỏi qua các kỳ thi do
các cấp quản lý giáo dục tổ chức. Để từ đó, mỗi giaó viên phải biết tự hào nghề
nghiệp, biết hy sinh “ vì lợi ích trăm năm trồng người” như Bác Hồ đã dạy.
chiến đấu”! Người quản lý nhà trường đễ dàng nhận biết và phân công “đúng
người-đúng việc”. Lựa chọn giáo viên dạy đội tuyển phải là người thầy “vừa
hồng- vừa chuyên”. Đó là các phẩm chất: năng lực, kinh nghiệm chuyên môn,
nhất là kinh nghiệm trong lĩnh vực bồi dưỡng học sinh giỏi; chuyên tâm; đam
mê chuyên môn, có trách nhiệm, không nề hà khó khăn để vào cuộc.
3.3/ Chỉ đạo phát hiện nhân tố, lựa chọn học sinh
-Phát hiện nhân tố là khâu quan trọng số 1. Người thầy giỏi là người thầy trong
quá trình dạy phát hiện ra học sinh có tư chất. Tư chất của học trò là yếu tố
9
mang tính chủ quan và ảnh hướng căn bản đến chất lượng đội tuyển học sinh
giỏi. Người thầy giỏi có thể đào tạo được nhân tài. Nhưng nhân tài không thể
đào tạo được tư chất!
-Đánh giá năng lực học sinh.
Thầy thường xuyên kiểm tra học sinh bằng các hình thức: Bài về nhà, bài tại
lớp, chất vấn. Tìm cách khai thác vấn đề mới từ kiến thức đã có. Cho trò nhìn
nhận vấn đề từ nhiều phí để có cách đánh giá linh hoạt. Cho học sinh tự ra đề bài
theo yêu cầu của giáo viên, chấm bài của bạn cũng là cách rèn luyện kỹ năng
làm bài gây nhiều hứng thú cho học sinh. Cho học sinh học theo nhóm để tìm
con đường chung từ tư duy cá nhân cũng là biện pháp tích cực trong công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi. Tổ chức câu lạc bộ năng khiếu các môn học hàng tuần,
hàng tháng, niêm yết công khai trên bảng tin để tất cả học sinh được tham khảo.
và khen thưởng các bài làm xuất sắc vào thứ 2 đầu tuần. Từ đó, đánh giá năng
lực học sinh một cách toàn diện, chính xác.
-Thăm dò thái độ, mức độ ham mê môn học.
Một học sinh thông minh mà không tích cực học tập, rèn luyện; học tài tử,
chắc chắn kết quả học tật sẽ không được như mong đợi. Sự say mê cũng sẽ tạo
cho người học sáng tạo, phát hiện vấn đề tinh tế hơn. Điều này không thể thiếu
đối với học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi. Câu nói của nhà hiền triết
quản lý nhà trường có trách nhiệm tư vấn, định hướng cho học sinh lựa chọn
phù hợp khả năng tiếp thu, lợi thế của mình, để quá trình ôn luyện thuận lợi,
hiệu quả cao. Học sinh và kể cả phụ huynh thường có nguyện vọng cho các em
được vào đội tuyển các môn Toán, lý, Hóa, Ngoại ngữ. Các môn học còn lại,
nguyện vọng đăng ký rất thấp, thậm chí học sinh, phụ huynh còn từ chối khi
giáo viên chọn các em vào đội tuyển. Như trong phần khó khăn của trường đã
nêu, để chọn được học sinh có năng khiếu thực sự vào các đội tuyển ở trường
chúng tôi là rất khó do chất lượng đầu vào thấp. Do đó định hướng cho học sinh
đăng ký môn ôn luyện là một vấn đề mang tính sách lược. Tránh cho học sinh
đăng ký nhiều môn, làm tăng áp lực và giảm hiệu quả học tập.
3.4/ Chỉ đạo xây dựng mức thưởng, chế độ đãi ngộ, tôn vinh giáo viên và học
sinh trong các kỳ thi học sinh giỏi.
-Khen thưởng là động lực tất yếu trong công tác thi đua. Cần có chế độ khen
thưởng công khai ngay từ đầu năm học cho giáo viên và học sinh có thành tích
trong năm học. Tùy theo khả năng tài chính hiện có được trích từ học phí, ngân
sách nhà nước và huy động ngoài ngân sách theo quy định hiện hành.
Mức thưởng được định ra như sau:(đơn vị tính ngàn đồng)
Nhất
HS
80
Cấp
trường
Cấp
300
huyện
Cấp
500
Tỉnh
Cấp
250
200
200
100
100
500
350
350
300
300
200
200
1000
700
700
chủ, người quản lý cần có cách đánh giá thi đua mang tính nhân văn, tế nhị:
Giáo viên đứng đội tuyển đạt thành tích thì được khen thưởng, nhưng không có
nghĩa giáo viên không đứng đội tuyển thì không có công trong thành tích đạt
được. Thực ra họ cũng vẫn âm thầm cống hiến trên cương vị khác để tạo nên sự
thành công cho đồng nghiệp và nhà trường: Tạo nề nếp, môi trường học tập, tạo
nền kiến thức cơ bản tiếp sức cho giáo viên dạy đội tuyển, rồi gánh vác những
nhiệm vụ khác để dành thời gian tối đa cho giáo viên dạy đội tuyển ôn luyện. Họ
xứng đáng được tôn vinh trong tập thể nhà trường tuy không có phần thưởng.
3.5/ Chỉ đạo xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
-Chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi nhất thiết phải đảm bảo các yêu cầu từ dễ
đến khó. Thực hiện theo các chuyên đề, tìm ra con đường liên kết giữa chúng để
thấy sự đan xen giữa các chuyên đề đó.
+Kiến thức cơ bản: Kiến thức cơ bản được coi là gốc của môn học. Kiến thức cơ
bản chưa đầy đủ gọi là “ mất gốc”. Trong các buổi học chính khóa, nắm vững,
hiểu sâu kiến thức cơ bản trong hệ thống kiến thức, có kỹ năng tư duy phân tíchtổng hợp sáng tạo, suy diễn chặt chẽ là điều kiện bắt buộc đối với một học sinh
được lựa chọn để bồi dưỡng kiến thức nâng cao.
+Kiến thức nâng cao: Đây là phần kiến thức quan trọng mang tính trọng tâm
trong chương trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. Do đó, phải có sự thống nhất
giữa quản lý nhà trường, tổ chuyên môn và giáo viên dạy để xác định nội dung
nâng cao sao cho có cơ sở, logic, mạch lạc phù hợp với yêu cầu đặt ra.
+Rèn luyện kỹ năng làm bài. Khi học sinh được lĩnh hội kiến thức nâng cao, kỹ
năng làm bài phải được rèn luyện thông qua quá trình quan sát để phát hiện vấn
đề, tư duy để tìm những con đường đến đích và biết lựa chọn con đường hợp lý
nhất! Người thầy phải hướng học sinh quan sát đánh giá vấn đề dưới nhiều góc
độ khác nhau, tìm được mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống kiến thức đã có
và vấn đề mới
-Định hướng tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi.
Giáo viên dạy đội tuyển phải có đầy đủ tài liệu liên quan đến kế hoạch giảng
dạy gồm: Sách giáo khoa, sách bài tập; Chuẩn kiến thức kỹ năng của Bộ giáo
dục và đào tạo; Sách bồi dưỡng nâng cao kiến thức của các tác giả có tên tuổi và
tổ chức, đồng thời phát hiện, tạo nguồn cho năm sau.
Tháng 11: Tập trung nước rút chuẩn bị tốt điều kiện cho học sinh khối 9 dự thi
cấp huyện.
Tháng 12: Hội thảo rút kinh nghiệm sau khi có kết quả của giai đoạn 1. Có
phương án bố trí giáo viên hỗ trợ học sinh được chọn vào đội tuyển tỉnh(nếu có).
Tiếp tục tập trung bồi dưỡng học sinh giỏi các khối 6,7,8 cho đến hết tháng 3.
Các tháng cuối năm học: Thực hiện công tác tạo nguồn học sinh giỏi và bồi
dưỡng chuyên đề, tổ chức hội thảo cho giáo viên và cán bộ quản lý rút kinh
nghiệm sau giai đoạn một năm thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Trong quá trình thực hiện, BGH thường xuyên kiểm tra giám sát để kịp thời
vào cuộc giúp giáo viên tháo gỡ vướng mắc. Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi có đặc thù không như dạy chính khóa, BGH không nên gò ép về thời
gian, mà cần tạo cho giáo viên chủ động lồng ghép nội dung vào các tiết dạy, tập
trung ôn luyện hoặc giao bài về nhà với kế hoạch đã được thống nhất.
3.7/ Chỉ đạo tăng cường CSVC, huy động nguồn lực hỗ trợ từ nhiều phía, động
viên và tôn vinh kịp thời giáo viên và học sinh có thành tích qua các kỳ thi học
sinh giỏi, để tạo không khí thi đua sôi nổi trong công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi.
-Trang thiết bị phục vụ giảng dạy được ưu tiên hàng đầu trong khâu cơ sở vật
chất nhà trường: Thư viện điện tử có tủ sách tham khảo phong phú, đầu năm
13
học có kế hoạch bổ sung theo đề nghị của giáo viên và học sinh. Trang bị bảng
tin để công khai kết quả bài làm xuất sắc hàng tháng, hàng tuần…của câu lạc bộ
kiến thức bộ môn tổ chức. Hệ thống máy tính nối mạng để giáo viên và học sinh
tra cứu tài liệu luôn được bảo trì để hoạt động. Máy chiếu điện tử phục vụ các
tiết dạy giúp giáo viên đưa được lượng thông tin kịp thời đến học sinh trong thời
gian ngắn một cách sinh động hiệu quả.
-Giáo viên dạy đội tuyển được nhà trường hỗ trợ về thời gian, bằng tài
4.120
3950
6.300
8.650
Tổng thu
10.320
10.900
18.750
28.450
Tổng chi
thưởng
10.320
10.900
18.750
28.450
Ngoài kết quả huy động tài trợ bằng tài chính, đội ngũ giáo viên còn tình
nguyện dạy bồi dưỡng học sinh giỏi không thu tiền vào các buổi học ngoài giờ.
Kết quả trong 4 năm học, có 48 lượt thầy cô dạy 720 buổi dạy bồi dưỡng học
sinh giỏi miễn phí.
4. Hiệu quả của Biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng
học sinh giỏi ở trường trung học cơ sở Vạn Thắng.
Sau thời gian nghiên cứu, vận dụng thực nghiệm Biện pháp chỉ đạo nhằm
nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học cơ sở Vạn
14
Thắng, được sự đồng tình ủng hộ của đội ngũ giáo viên, học sinh cũng như phụ
Quốc gia
32 em
31 em
2em
(0%)
(12,2% ) (11,9 %) (0,8%)
35 em
36 em
5em
2em
(13,2%) (13,58%) (1,9%)
(7,6%)
Bên cạnh kết quả chất lượng học sinh giỏi đạt được trên đây, học sinh trung
bình trở lên cũng đã được nâng cao rõ rệt trong 2 năm học ở mức 97% ; Những
học sinh giỏi qua thi cũng hầu như đều phấn đấu được là học sinh giỏi toàn diện
với tỷ lệ 18,5 %; các em cũng đã tự tin kèm cặp các bạn học yếu hơn mình trong
hoạt động nhóm, làm bài và học bài ở nhà và thay giáo viên giải quyết đáng kể
tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp. Do đó, học sinh yếu chỉ còn ở mức 3% trong
năm học 2013-2014; 2,4 % trong năm học 2014-2015; không có tình trạng học
sinh kém và ngồi nhầm lớp như trước kia. Đối với học sinh cuối cấp thi vào
THPT cũng đạt tỷ lệ bình quân 85% hàng năm.
Chất lượng rèn lyện đạo đức của học sinh từ đó cũng duy trì tốt với 96% học
sinh đạt hạnh kiểm tốt, khá. Không có học sinh hạnh kiểm yếu.
Phấn khởi trước kết quả đạt được, trong toàn trường đã tạo được không khí thi
đua sôi nổi thực hiện phong trào thi đua “Hai tốt”, học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh… một cách thiết thực. Trong quá trình rèn luyện
chuyên môn, đội ngũ cũng đã tạo được sự gần gũi, thân thiện, đoàn kết giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ. Với tỷ lệ 60% giáo viên giỏi cấp trường, đã xuất hiện nhiều
giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh qua các đợt thao giảng với kết quả xuất sắc.
2014-2015 với sự quyết tâm ở vị thế mới, đội ngũ giáo viên cũng đã vượt lên với
thành tích 2 em học sinh giỏi Quốc gia. Năm học 2015-2016, tính đến thời điểm
báo cáo sáng kiến kinh nghiệm trước Hội đồng khoa học nhà trường và cấp trên,
chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục cũng như kết quả học sinh giỏi đã duy
trì tốt. Qua kỳ thi giáo viên cấp tỉnh, đã có thêm 1 giáo viên đứng trong danh
sách giáo viên giỏi. có 2 em học sinh giỏi cấp Tỉnh, kết quả thi học sinh giỏi cấp
huyện được xếp trong tốp đầu của huyện.
Trong kế hoạch chiến lược giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo cho đến
năm 2020, nhà trường cũng đã xác định sứ mệnh: “Xây dựng môi trường học tập
nề nếp - kỷ cương – An toàn-thân thiện, mang đến cho học sinh tri thức toàn
diện cùng khát vọng phát huy mọi tiềm năng để trở thành những công dân tốt”.
Với hệ thống giá trị:
“Đoàn kết – Kỷ cương – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển -Thích ứng”.
Trong đó, phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng giáo dục, mục tiêu chất lượng
học sinh giỏi được ưu tiên hàng đầu.
III- PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận.
Giáo dục luôn là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của mỗi đất nước.
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển. Thực tế ngày càng khẳng định công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm
vụ quan trọng trong chiến lược đào tạo nhân tài của đất nước. Trong đó, học sinh
giỏi là yếu tố thúc đẩy chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục của mỗi nhà
trường.
Để đạt được mục tiêu chất lượng bồ dưỡng học sinh giỏi, đội ngũ giáo viên
“vừa hồng vừa chuyên” là yếu tố cơ bản quyết định. Giáo viên chủ động thực
16
hiện từ bước quan sát đánh giá một cách tinh tế để lựa chọn đối tượng học sinh
chủ động đề xuất nội dung chương trình, chủ động vận dụng phương pháp tích
nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục,
đào tạo. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên
chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa
phương để xây dựng nhà trường.
Thường xuyên tham mưu cho các cấp lãnh đạo, chủ động phối hợp với các
ban, ngành, đoàn thể trong và ngoài nhà trường để thực hiện tốt chức năng quản
lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Luôn tranh thủ sự quan tâm, tạo điều kiện
của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, sự giúp đỡ của phòng GD&ĐT,
Huyện ủy, UBND huyện, của các tổ chức ban ngành, đoàn thể; tạo được lòng tin
đối với nhân dân đặc biệt là phụ huynh học sinh từ kết quả đạt được.
17
Nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi CBGV đối với quá trình xây dựng
thương hiệu tập thể, thương hiệu cá nhân. Đẩy mạnh tuyên truyền, xây dựng
truyền thống nhà trường.
Qua thực tiễn nghiên cứu và áp dụng đê tài SKKN “ Biện pháp chỉ đạo nhằm
nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học cơ sở Vạn
Thắng”, thành công bước đầu đánh giá quá trình nỗ lực không ngừng của tập
thể CBGV. Tuy nhiên, với yêu cầu ngày càng cao trong công cuộc đổi mới căn
bản, toàn diện của giáo dục, nhà trường không được phép tự mãn mà phải khiêm
tốn học hỏi, lấy đó là niềm tự hào để phát huy thành tích cao hơn nữa. Góp phần
giữ vững danh hiệu trường Trung học đạt chuẩn Quốc gia.
2.Kiến nghị.
2.1 Đối với nhà trường. Cần tiếp tục đổi mới quản lý, tổ chức đúc rút kinh
nghiệm chỉ đạo công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đưa giải pháp phù hợp với tình
hình đội ngũ, chất lượng học sinh đầu vào mỗi năm học. Tăng cường công tác
kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả theo từng giai đoạn của mỗi giáo viên giảng
dạy để chất lượng học sinh giỏi duy trì bền vững.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Hoàng Thị Thanh
19