MỤC
I
1
2
3
4
5
II
1
2
3
3.1
3.2
4
III
1
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
2
Đối tượng nghiên cứu
2
Phương pháp nghiên cứu
1
thuật hiện đại, biết và tận dụng tìm ra các giải pháp hợp lý cho những vấn đề
trong cuộc sống của bản thân và xã hội”[3]
Để đáp ứng được yêu cầu này thì việc đổi mới phương pháp dạy học là điều
cốt yếu. Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và
vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự
học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển
năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa
dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học...”[3]
Để góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu trên thì phải có sự đổi
mới đồng bộ của từng ngành học, cấp học, môn học...Trong đó có sự đổi mới
của môn Sinh học - Đây là môn khoa học thực nghiệm, nội dung kiến thức hết
sức sinh động, phong phú, hấp dẫn, dễ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của
học sinh. Các kiến thức về cấu tạo, sinh lý, sinh thái, giải phẫu, cũng như chức
năng và mối quan hệ giữa cơ thể sinh vật với môi trường…cơ bản được hình
thành trên cơ sở quan sát mẫu vật, mô hình, tranh ảnh, thí nghiệm…Vì thế trong
quá trình giảng dạy giáo viên không những trang bị cho học sinh những kiến
thức lý thuyết đơn thuần đã có sẵn trong chương trình SGK mà còn phải rèn cho
các em kỹ năng làm thí nghiệm, thực hành và đặc biệt giúp các em tìm tòi, vận
dụng linh hoạt vào thực tiễn đời sống. Có như thế mới đáp ứng được mục tiêu
giáo dục, đổi mới PPDH hiện nay là“ Tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh theo hướng tổ chức cho học sinh được tự lực, chủ động chiếm lĩnh tri thức
khoa học”
Tuy nhiên, hiện nay trong các nhà trường THCS đa số học sinh chưa thực sự
yêu thích, say mê môn học này, coi đây là môn học “phụ” nên học qua loa, đối
Chu Văn An một cách khoa học, hiệu quả, nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới
PPDH.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:
Nghiên cứu các Công văn, Thông tư, Nghị quyết… về đổi mới phương pháp
giáo dục. Các hiện tượng, mâu thuẫn hiện tại của giáo viên, học sinh và nhà
trường.
- Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin:
Sử dụng câu hỏi để điều tra, khảo sát mức độ học tập, ghi nhớ kiến thức, kĩ
năng cơ bản về quan sát thực hành và cách làm thí nghiệm, kỹ năng làm các bài
tập quan sát, xem băng hình,…của học sinh
- Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
Lắng nghe, trao đổi, rút kinh nghiệm từ những nhận xét, góp ý của đồng
nghiệp để trau rồi, nâng cao trình độ nghệp vụ sư phạm của bản thân.
- Thống kê, xử lý số liệu:
Để làm sáng tỏ hiệu quả của việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
trong việc thu thập và sử dụng đồ dùng dạy học, tôi đã tiến hành dạy thực
nghiệm, tổ chức kiểm tra, cuối cùng dùng phương pháp phân tích kết quả thực
nghiệm bằng thông kê toán học để rút ra những kết luận quan trọng.
5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiến này được làm, áp dụng lần đầu tại trường THCS Chu Văn An và đã
đem lại hiệu quả cao.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Luật giáo dục 2005 (Điều 5) quy định “ Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho
3
học ở trường THCS Chu Văn An.
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên giảng dạy số tiết trong tuần còn nhiều (Bình quân 18 tiết thực dạy).
Mặt khác nhà trường chưa có phụ tá thí nghiệm nên việc chuẩn bị cho một bài
thực hành, một thí nghiệm... rất vất vả và khó khăn.
- Do nội dung chương trình SGK mới biên soạn theo hướng ưu tiên thực hành,
giảm lý thuyết hàn lâm dẫn đến một số giáo viên chưa bắt nhịp kịp thời nên việc
vận dụng giảng dạy, hướng dẫn các em thao tác, kỹ năng thực hành còn lúng
túng, chưa thường xuyên, chưa có hiệu quả.
4
- Một số giáo viên vốn hiểu biết kiến thức thực tế tự nhiên còn hạn chế. Trình
độ sử dụng công nghệ thông tin để khai thác tài liệu phục vụ cho công tác giảng
dạy còn yếu nên việc hướng dẫn học sinh thu thập và sử dụng đồ dùng dạy học
chưa tốt.
*Về phía học sinh:
- Do đặc thù riêng của nhà trường, học sinh được tuyển chọn từ tất cả các xã
trong huyện, có những học sinh nhà xa phải ở trọ lại, nhiều học sinh con nhà
nông dân hoàn cảnh khó khăn các em phải vừa học, vừa lao động giúp đỡ bố mẹ
nên thời gian dành cho học tập còn ít. Điều này gây khó khăn cho giáo viên
trong việc phân công các cá nhân hoặc nhóm học sinh thu thập mẫu vật phục vụ
tiết học.
- Trình độ của HS không đồng đều (Do nhà trường vẫn phải nhận cả đối tượng
HS có hộ khẩu Thị Trấn nhưng không đủ điều kiện dự tuyển vào trường) nên
tính tự giác, khả năng tư duy của các em còn hạn chế. Do đó các em ngại trau
dồi kiến thức, học đối phó, miễn cưỡng, tư tưởng ỉ nại, dựa vào các tài liệu có sẵn,
các sách tham khảo…Điều này đã gây khó khăn cho giáo viên trong việc cung
cấp kiến thức, giao việc chuẩn bị đồ dùng, rèn kỹ năng thực hành trong các tiết
học.
Số lượng
Loại yếu
%
Số lượng
%
5
0
0
20
46,5
15
34,9
8
18,6
Từ chất lượng trên, cho thấy tỷ lệ học sinh yếu còn rất cao, điều này hoàn
toàn không xứng với một trường chất lượng cao của huyện. Nhận thức được tính
- Thí nghiệm 1: Xác định chất lá cây chế tạo được khi có ánh sáng.
Đây là thí nghiệm khó, tiến hành trong thời gian dài. Vì vậy để có kết quả cho
học sinh quan sát thì giáo viên cần làm thí nghiệm trước ở nhà mấy tiếng, chuẩn
6
bị lá cây bịt băng đen trước, đến lớp chỉ thao tác huỷ diệp lục và thử bằng iôt
rồi cho học sinh quan sát kết quả, sau đó rút ra kết luận.
- Thí nghiệm 2: Xác định chất khí thải ra khi cây quang hợp:
Giáo viên chuẩn bị làm thí nghiệm trước ở nhà, sao cho khí thu được hơn một
nửa ống nghiệm thì đem đến lớp cho học sinh quan sát hiện tượng và thử khí
trong lọ....
Từ kết quả thực tế của thí nghiệm GV làm thì các em sẽ rút ra được kết luận
kiến thức là khi có ánh sáng lá cây sẽ chế tạo ra tinh bột và nhả khí oxi. Nhưng
điều quan trọng là qua thí nghiệm này các em được phát huy kĩ năng quan sát,
tính tích cực, sáng tạo trong việc thu thập, sử dụng đồ dùng thí nghiệm. Mặt
khác kích thích tính tò mò, tạo hứng thú học tập, từ đó khắc sâu kiến thức cho
các em..
3.1.2. Đối với loại bài có thí nghiệm, bài tập thực hành yêu cầu học sinh
thực hiện:
3.1.2.1. Loại bài thực hành quan sát:
Loại bài thực hành này dễ tiến hành nên GV thường yêu cầu học sinh tiến
hành quan sát mẫu vật để nhận biết về dạng thân, các loại quả, dạng lá, tập tính
của động vật, môi trường sống của sinh vật ....
Đối với loại bài này, để tổ chức thành công giờ dạy thì giáo viên phải biết kích
thích, phát huy được tư duy, sáng tạo của học sinh trong việc thu thập, sưu tầm
mẫu vật. Bằng cách GV phân công nhóm HS về nhà sưu tầm trước mẫu vật để
chuẩn bị cho tiết thực hành. Điều lưu ý ở đây là GV phải biết cách phân công,
hướng dẫn, kích thích các nhóm để làm sao các em không những sưu tầm đầy đủ
Rễ Trầu không
8
Một số tranh ảnh mà các em sưu tầm được như:
Tầm gửi
Cây Bụt mọc
Cây Đước
Cây Bần
- Tương tự khi dạy bài 18- Tiết 18- Sinh 6: Quan sát biến dạng của thân
Bằng cách phân công cho các nhóm (Tổ) sưu tầm mẫu vật thật: Củ dong, Củ
Su hào, Củ gừng hoặc Riềng, xương rồng…để chuẩn bị cho tiết học. Có thể nói
các em rất tích cực, hào hứng và sáng tạo trong việc thu thập, sưu tầm mẫu vật.
Chúng tôi xin giới thiệu một số mẫu vật mà các em thu thập, sưu tầm được tại
địa phương phục vụ tiết học:
9
Củ Su hào
Củ Dong ta
Cây Xương rồng
Củ Riềng
đó các nhóm trao đổi tranh ảnh, tư liệu của nhóm mình với nhóm khác và tiếp
tục thảo luận. Qua đó các em sẽ nắm vững được các tập tính của Sâu bọ.
Chúng tôi xin giới thiệu một số tranh ảnh mà các em đã thu thập, sưu tầm
được.
- Tranh mô tả về tập tính bắt mồi và dinh dưỡng của một số sâu bọ:
Bọ Ngựa bắt mồi
Chuồn chuồn bắt mồi
Kiến bắt mồi
Sâu ăn tạp bắt mồi
- Tranh mô tả về tập tính làm tổ của một số sâu bọ:
11
Tổ Kiến Đen
Tổ Ong Mật
.
Tranh mô tả về tập tính tự vệ, tấn công của một số sâu bọ:
Sâu Rọm dựng lông tự vệ
Bọ ngựa tự vệ
khoanh vỏ ở cành cây và theo dõi sau mỗi tuần xem có hiện tượng gì khác
không, sau đó đến ngày học bài này yêu cầu các em chặt cành cây đó mang đến
lớp để học và chấm điểm.
Chú ý:
- Đối với thí nghiệm tìm hiểu sự vận chuyển nước và muối khoáng hoà tan:
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm theo nhóm như trên (nội dung
sách giáo khoa). Sau đó các nhóm nhận xét hiện tượng, thảo luận tìm ra nguyên
nhân bông hoa chuyển màu, từ đó rút ra kết luận về chức năng của mạch gỗ.
- Đối với thí nghiệm vận chuyển các chất hữu cơ: Giáo viên yêu cầu các nhóm
báo cáo cách tiến hành, kết quả và giải thích (Thí nghiệm giáo viên hướng dẫn
cắt khoanh vỏ trước một tháng). Sau đó tổ chức cho học sinh các nhóm nhận xét
kết quả của nhóm bạn, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thí nghiệm không thành
công (nếu có), thảo luận để rút ra kết luận về chức năng của mạch rây. Sau đó
giáo viên nhận xét, chốt lại kiến thức.
- Ngoài ra giáo viên cần lưu ý học sinh: Cần cắt cành hoa trong nước để tránh
không khí lọt vào rồi mới cắm vào cốc. Nước pha màu cần phải trong suốt
không có cặn, tốt nhất giáo viên pha dung dịch màu cho học sinh bằng loại
phẩm màu tan tốt, hoặc loại mực không có cặn.
2) Hoặc khi dạy bài 12-Tiết 12- Sinh học 8: Thực hành: Tập sơ cứu và băng bó
cho người gãy xương.
- Đề bài thực hành này đạt kết quả cao thì ngay ở tiết trước GV phải dặn dò học
sinh về nhà chuẩn bị dụng cụ: Mỗi em 2 thanh nẹp, bốn cuộn băng y tế, bốn
miếng vải sạch đảm bảo kích cỡ như yêu cầu của bài học.
- Khi đến bài học, GV sẽ chiếu các hình ảnh để giới thiệu một số nguyên nhân
dẫn đến bị gãy xương. Đồng thời hướng dẫn, làm mẫu cho các em cách thao tác
sơ cứu, băng bó khi gặp người bị thương. Sau đó GV yêu cầu mỗi nhóm gồm 2
em học sinh tiến hành.
Như vậy với cách giao việc, phân công nhiệm vụ cho học sinh, các em sẽ rất
tích cực, hào hứng, say sưa nghiên cứu…mặt khác bản thân các em được trực
tiếp làm thí nghiệm không chỉ một lần mà tiến hành nhiều lần. Điều này giúp
năm học.
Chúng tôi xin giới thiệu một số mẫu lá ép mà các em đã làm:
14
Lá Hoa Hồng
Lá cây Trắc Bách Diệp
Lá cây Rau Bợ
Lá Lốt
Chú ý:
- Đối với các thí nghiệm cần nhiều thời gian nhưng đơn giản dễ làm ở nhà,
giáo viên yêu cầu các em chuẩn bị trước ở nhà, lên lớp hoàn thành thí nghiệm
(hoặc đem kết quả đến lớp) để nghiên cứu (như một số thí nghiệm ở trên)...
- Đối với một số bài cần nhiều mẫu vật, tư liệu để học sinh quan sát, nghiên
cứu nhưng trong trường không có hoặc thiếu thì cuối bài học trước đó, hoặc
trước một thời gian giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm tranh ảnh, thông tin... để
tiết học thuận lợi và các em cũng có ý thức chuẩn bị bài học.
3.2. Tăng cường tổ chức các tiết học tập ngoại khóa.
3.2.1. Học tập ở vườn thực hành sinh học
Để nâng cao hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực, ngoài những đồ
dùng trực quan như tranh ảnh, mô hình, mẫu vật hiện có trong các thư viện
trường học thì vườn thực hành sinh học có vị trí đặc biệt quan trọng. Nó là một
hình ảnh thu nhỏ của thế giới động, thực vật hết sức phong phú và đa dạng. Nó
là nơi để học sinh học tập, vận dụng các kiến thức khoa học vào thực tiễn sản
xuất. Ngoài ra vườn thực hành sinh học còn có tác dụng bổ sung cho phòng thí
Nga Thủy…
Để tổ chức cho học sinh học tập tham quan thiên nhiên an toàn và hiệu quả
thì giáo viên cần phải bàn bạc, xin ý kiến góp ý của giáo viên trong tổ bộ môn,
sự chỉ đạo, góp ý và cho phép của ban giám hiệu nhà trường. Hướng dẫn, giao
việc cho học sinh chuẩn bị các dụng cụ cần thiết để thu thập mẫu vật…
16
Lợi ích của học tập tham quan thiên nhiên rất lớn, giúp các em không những
ôn tập lại toàn bộ kiến thức đã học ở chương trình mà còn góp phần nâng cao ý
thức hơn trong việc gìn giữ bảo vệ thiên nhiên.
Chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh của lớp 6B trong buổi học tập ngoại
khóa: Tham quan Rừng ngập mặn và Đê chắn mặn Tại xã Nga Tân.
3.3. Tổ chức thi tự làm và sử dụng đồ dùng học tập môn Sinh học cấp
trường (Phối hợp với các GV dạy môn Sinh trong nhà trường)
- Đối tượng dự thi: Học sinh các lớp của trường THCS Chu Văn An.
- Yêu cầu đồ dùng học tập tự làm dự thi:
+ Tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng...
+ Mô hình, mẫu vật, tiêu bản...
- Tiêu chuẩn về sản phẩm dự thi:
+ Phù hợp với nội dung chương trình học tập
+ Đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học, tính thẩm mỹ.
+ Sử dụng thuận tiện, an toàn, hiệu quả.
+ Đảm bảo chất lượng và độ bền để có thể sử dụng nhiều lần.
- Đánh giá: GV tổ Sinh cùng đánh giá đồ dùng học tập tự làm của các em.
- Lựa chọn những đồ dùng đẹp, sáng tạo có tính ứng dụng cao để bổ sung vào
phòng thiết bị đồ dùng dạy học của nhà trường. Công bố kết quả và trao thưởng
cho học sinh trước toàn trường.
Việc tổ chức thi tự làm và sử dụng đồ dùng học tập cho học sinh có ý nghĩa
học kì II của 43 học sinh lớp 6B, thu được như sau:
18
Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
6
- Biện pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong việc thu thập và
sử dụng đồ dùng dạy học môn sinh học không những được duy trì áp dụng
thường xuyên đối với môn học mà còn nhân rộng ở nhiều bộ môn có nội dung
học tập liên quan đến thực hành, nhờ đó chất lượng giáo dục của nhà trường
được nâng lên rõ rệt so với nhiều năm học trước.
- Bổ sung, làm phong phú, đa dạng thêm đồ dùng dạy học cho nhà trường.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ kết quả của quá trình thực hiện, chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:
1.1. Trong quá trình giảng dạy việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh trong việc thu thập và sử dụng đồ dùng dạy học là một việc làm vô
cùng cần thiết, hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu dạy học đổi mới hiện nay là lấy
học sinh làm trung tâm.
19
1.2. Trên cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, chủ động của học sinh trong việc thu thập và sử dụng đồ dùng
dạy học môn sinh học ở trường THCS Chu Văn An nói riêng, tôi đã thực hiện
nhóm giải pháp cơ bản, mang lại hiệu quả cao. Đó là:
- Tăng cường thực hành thí nghiệm trong các bài học chính khóa
- Tăng cường tổ chức các tiết học tập ngoại khóa.
- Tổ chức thi tự làm và sử dụng đồ dùng học tập môn Sinh học cấp trường
Từ hiệu quả của đề tài, bản thân nhận thấy sẽ tiếp tục học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi
vận dụng phương pháp dạy học này vào nhiều bài, chương, phần học của bộ môn và
nhièu khối lớp. Mặt khác tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp để
nhân rộng ở các môn học khác, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà
trường.
2. Kiến nghị:
2.1.Đối với nhà Trường:
Những tài liệu tham khảo:
1.Bộ sách giáo khoa Sinh học 6,7,8,9 của nhà xuất bản giáo dục
2.Bộ sách giáo giáo viên Sinh học 6,7,8,9 của nhà xuất bản giáo dục
3.Thông qua nguồn internet
21
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD & ĐT, CẤP SỞ GD & ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trần Văn Dậu
Chức vụ và đơn vị công tác: Hiệu trưởng trường THCS Chu Văn An – Huyện
Nga Sơn
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
Kết quả
Năm học
giá xếp loại đánh giá
đánh giá
22
Phòng GD&
ĐT
-Phòng
GD& ĐT
-Sở
GD&ĐT
Tỉnh Thanh
Hóa
Phòng GD&
ĐT
-Phòng
GD& ĐT
-Sở
GD&ĐT
Tỉnh Thanh
Hóa
xếp loại
(A, B,
xếp loại
C, D)
A
2000– 2001
A