SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRIỆU SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY
PHÂN MÔN VẼ TRANG TRÍ CHO HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THCS TIẾN NÔNG
Người thực hiện: Trương Văn Cường
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Tiến Nông
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Mĩ thuật
THANH HOÁ NĂM 2017
1. Mở đầu:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Với kinh nghiệm hơn mười năm giảng dạy môn mĩ thuật tại trường THCS
Tiến Nông, từ học kì II năm học 2011 - 2012 tôi được phân công điều động làm
công tác giảng dạy liên trường tại trường THCS Nông Trường, huyện Triệu Sơn;
do được tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh của cả 2 trường tôi cũng rút ra
được cho bản thân mình những kinh nghiệm quý báu. Trong môn học mĩ thuật ở
cấp THCS ngay từ những bài học đầu tiên tôi luôn hướng dẫn, định hướng cho
học sinh phân biệt 4 phân môn trong môn mĩ thuật: Thường thức mĩ thuật; vẽ
theo mẫu, vẽ tranh, vẽ trang trí. Thường thì phải đến gần giữa học kì I hoặc hết
học kì I năm lớp 6 học sinh mới có thể nắm bắt chắc chắn về các phân môn
được, với học sinh khối 7, 8, 9 thì các em đã hiểu và phân biệt được. Trong các
dạng bài học này ngay tiêu đề của bài cũng đã định hướng cho học sinh các
nhiệm vụ của mình trong giờ học, qua từng phân môn, cụ thể là:
yếu tố đòi hỏi nhiều đến năng khiếu thì phân môn vẽ trang trí cốt yếu là học sinh
2
phân biệt được 2 loại hình (2 dạng) của trang trí: Trang trí cơ bản và Trang trí
ứng dụng. Phân môn vẽ trang trí đòi hỏi yếu tố cơ bản là sự phù hợp giữa họa
tiết, màu sắc, chỗ đặt hoạt tiết với hình, đồ vật trang trí.
Trong 1 tiết học phân môn vẽ trang trí ngoài việc gây hứng thú cho học
sinh bằng cách sử dụng phương pháp dạy học linh hoạt và hợp lí giáo viên còn
phải có khả năng diễn đạt gợi mở, khả năng đặt học sinh vào các tình huống “có
vấn đề” một cách tự nhiên, khả năng thị phạm trên bảng và một số hình ảnh so
sánh, đối chiếu sinh động, các giáo cụ trực quan cho các bài vẽ trang trí do giáo
viên được cấp hoặc sưu tầm, tự làm để sử dụng trong giảng dạy... Nói như vậy
để thấy để đạt được mục tiêu bài học cần rất nhiều yếu tố.
Để làm rõ thêm một số vấn đề, giúp học sinh phân biệt nhanh, rõ về 2 dạng
chính của phân môn vẽ trang trí là trang trí cơ bản và trang trí ứng dụng, nâng
cao hơn nữa chất lượng giảng dạy, chất lượng các bài vẽ trang trí của học sinh,
giúp các em có thể áp dụng kiến thức để trang trí một số đồ dùng, đồ vật, tham
gia có ích vào các công việc của lớp, của trường hoặc tại gia đình mà tôi chọn đề
tài “Một số kinh nghiệm giảng dạy phân môn vẽ trang trí cho học sinh tại
trường THCS Tiến Nông”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Học sinh hiểu hệ thống kiến thức khoa học, đầy đủ và chính xác về nội
dung bài học, các kĩ năng được luyện tập trong bài học, biết vận dụng kiến thức,
kĩ năng cùng sự sáng tạo của mình để tạo ra các sản phẩm trong các bài thực
hành. Biết phương pháp, cách thức để lĩnh hội kiến thức; thêm yêu quý, trân
trọng những sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật của tinh hoa văn hoá của dân tộc và
các giá trị nghệ thuật của nhân loại, biết phân tích, tổng hợp và nhìn nhận, đánh
giá… qua các hình ảnh, vật mẫu, ví dụ ... Qua từng bài học học sinh biết tích lũy
kinh nghiệm để dần dần hình thành cho mình thói quen khi tiến hành bài vẽ,
học sinh và kiến thức về xây dựng chương trình dạy học áp dụng trong đề tài ở
một số thời điểm trong khi nghiên cứu đề tài.
- Sau khi nghiên cứu đề tài, nếu khả thi đề tài sẽ được áp dụng từ năm học 2017
– 2018 và các năm học tiếp theo.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh trường THCS Tiến Nông.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Sưu tầm các bài vẽ mẫu, bài vẽ của họa sĩ, bài vẽ của học sinh các khóa trước
về trang trí hình tròn, hình vuông, đường diềm, hình chữ nhật... để làm phong
phú kênh hình ảnh đến với học sinh. Ngoài ra tùy theo nội dung bài dạy, điều
kiện cụ thể mà giáo viên chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp như: Chuẩn bị các
kiểu khăn để đặt lọ hoa (lớp 6: Trang trí chiếc khăn để đặt lọ hoa), chuẩn bị một
số cái đĩa tròn với họa tiết (lớp 7: Trang trí đĩa tròn), màu sắc khác nhau, chuẩn
bị một số đồ vật hình chữ nhật: khăn, khay, thảm... được trang trí đa dạng (lớp 8:
Trang trí đồ vật có dạng hình chữ nhật), chuẩn bị 4 đến 5 cái túi xách với các vật
liệu, họa tiết, màu sắc khác nhau (lớp 9: Tạo dáng và trang trí túi xách) .v.v.
- Sưu tầm các bài dạy mẫu về phân môn vẽ trang trí của các đồng nghiệp trong
Tỉnh, trong Huyện hoặc trên mạng Internet…
- Phối hợp cùng cán bộ phụ trách thư viện - Thiết bị trường học.
- Phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm; cán bộ lớp.
- Tự kiểm tra, đánh giá chất lượng thường xuyên, chủ yếu dùng kiểm tra vẽ
trang trí thực hành trên lớp (trong các tiết bồi dưỡng đối với học sinh giỏi), qua
việc giao bài tập về nhà...
- Phối hợp cùng Đội TNTP nhà trường trong các hoạt động: Thi báo tường, làm
băng rôn, khẩu hiệu, thi vẽ tranh cổ động hoặc các cuộc thi vẽ tranh...
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Nhiều năm qua vấn đề đổi mới phương pháp luôn là vấn đề được ngành
giáo dục quan tâm. Đã có nhiều ý kiến khác nhau về đổi mới phương pháp và tất
cả đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học. Theo tôi đổi mới
tươi sáng... nếu là bài trang trí ứng dụng thì hình vẽ, họa tiết, màu sắc đều phù
hợp với đồ vật được tạo dáng và trang trí.
Cơ sở lí luận chung nhất khi tôi chọn và giải quyết đề tài nghiên cứu này
như đã giới thiệu ở phần đặt vấn đề chính là nhận thức đúng đắn đặc điểm của
môn học: “Mĩ thuật là cách tạo ra cái đẹp”[3], “Mĩ thuật là nghệ thuật của thị
giác”[3] (theo lời danh họa Nguyễn Phan Chánh) nên cơ sở lí luận của đề tài
nghiên cứu này chính là kích thích vào thị giác của học sinh bằng kênh hình
trong quá trình lên lớp. Với trang trí hình cơ bản: Điểm cốt yếu là dạy cho học
sinh sử dụng thành thục, linh hoạt các cách sắp xếp, cho học sinh quan sát nhiều
ví dụ về đối xứng, xen kẽ, lặp lại, mảng hình không đều ... qua các bài mẫu của
họa sĩ, của học sinh khóa trước... (chủ yếu dùng cho học sinh lớp 6). Với trang
trí ứng dụng: Cho học sinh tiếp xúc với nhiều hình ảnh thực tế các đồ dùng, vật
dụng... song song với việc cung cấp kiến thức để học sinh có thể tự tạo ra các
sản phẩm ứng dụng mang đậm dấu ấn bản thân.
Trong bố cục 1 bài dạy phân môn vẽ trang trí có 5 bước thì có tới 4 bước
có thể sử dụng kênh hình đó là các bước: Kiểm tra bài cũ, quan sát nhận xét,
cách vẽ, củng cố kiến thức trọng tâm. Nếu giáo viên biết phát huy tối đa tác
dụng và hiệu quả của kênh hình trong giảng dạy theo tôi đó là con đường ngắn
nhất để có thể phát huy tối đa khả năng sáng tạo và tư duy của học sinh trong
phân môn vẽ trang trí.
Trong trang này: Đoạn từ “ Trong bố cục ... đến ... kiến thức trọng tâm” được tham khảo từ
TLTK số 4. Đoạn tiếp theo tác giả tự viết.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
5
Nhiều năm học qua với thực tế giảng dạy phân môn vẽ trang trí trong
trường THCS tôi nhận thấy nhờ kinh nghiệm tích lũy, phương pháp, kĩ thuật dạy
học hợp lí và cách tiếp cận ngày càng tốt hơn của giáo viên đã giúp học sinh có
ra sự khác nhau nhưng cách giải quyết 2 dạng bài này còn chung chung, chưa có
dấu ấn riêng với từng dạng bài.
Học sinh khối 7, 8, 9 còn chưa phân biệt rõ ràng giữa trang trí ứng dụng
theo các hình có sẵn: Hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật (Trang trí chiếc khăn
đặt lọ hoa, trang trí đĩa tròn, trang trí đồ vật có dạng hình chữ nhật...) với tạo
dáng và trang trí các đồ vật (Lọ họa, chậu cảnh, thời trang ...)
2.2.1. Thực trạng của giáo viên khi nghiên cứu đề tài:
- Là giáo viên được đào tạo chính quy, được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận và
thực tiễn đủ đáp ứng nhu cầu giảng dạy; hoàn thành chương trình BDTX các
năm học theo quy định. Tham gia đầy đủ các lớp học chuyên đề do phòng
GDĐT Triệu Sơn tổ chức và được tham dự chuyên đề “Dạy học, kiểm tra, đánh
6
giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh” hè năm 2014; Tập huấn “Xây
dựng chương trình nhà trường” tháng 12/2016 do Sở giáo dục và đào tạo Thanh
Hóa tổ chức… với các kiến thức rất mới mẻ và hữu ích.
- Được tham gia dự thi trong các kì thi giáo viên giỏi các cấp.
- Được tham gia chấm thi học sinh giỏi, giáo viên giỏi trong nhiều năm học nên
có dịp tiếp xúc, học hỏi với nhiều đồng nghiệp cùng giảng dạy môn mĩ thuật
trong các hội thi, được tiếp xúc với các đối tượng học sinh của nhiều trường trên
địa bàn huyện Triệu Sơn.
- Được sự chỉ bảo dìu dắt tận tình của các đồng chí chuyên viên và cốt cán
bộ môn Mĩ thuật của phòng GD&ĐT Triệu Sơn trong công tác chuyên môn.
- Trong các năm học vừa qua năm học nào tôi cũng tham gia viết SKKN,
và đã có 06 SKKN xếp loại A, 02 SKKN xếp loại B, 01 SKKN xếp loại C cấp
trường, 01 SKKN được HĐKH cấp Huyện xếp loại C (năm học 2012 - 2013).
- Được ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn tạo điều kiện, giúp
đỡ nhiệt tình.
- Thường xuyên sưu tầm các hình ảnh, tài liệu có liên quan và có thời gian
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, dụng cụ học tập theo quy định
nhưng sách tham khảo không có.
2.2.4. Thực trạng chỉ đạo của cấp trên khi nghiên cứu đề tài:
- Ban giám hiệu nhà trường, công đoàn và tổ khoa học xã hội đã tạo điều
kiện tốt nhất có thể để giáo viên và học sinh có thể dạy và học trong điều kiện
nhà trường chưa có phòng học chức năng. Ngoài ra do đây là môn học đặc thù
nên lãnh đạo nhà trường rất quan tâm tới các cuộc thi vẽ tranh, các bài thực hành
của học sinh. Môn học mĩ thuật được tạo mọi điều kiện tốt nhất trong dạy và
học.
2.2.5. Thực trạng đối tượng nghiên cứu đề tài:
Cuối năm học 2015 - 2016 toàn trường chỉ có 1 học sinh xếp loại chưa
đạt. Đa số học sinh đều đủ khả năng để tự làm bài tập và được xếp loại đạt yêu
cầu.
Phấn đấu đến cuối năm học 2016 - 2017 có 100% học sinh được xếp loại đạt yêu
cầu. 100% hoàn thành các bài thực hành thuộc phân môn vẽ trang trí hiệu quả,
đạt mục tiêu giáo viên đề ra.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài tài “Một số kinh nghiệm giảng dạy phân
môn vẽ trang trí cho học sinh tại trường THCS Tiến Nông”. tôi xin nêu một số
giải pháp sau:
2.3.1. Giải pháp đối với Giáo viên:
Chuẩn bị kĩ càng các bước lên lớp, giáo áo, giáo cụ trực quan, phiếu học
tập và các công cụ hỗ trợ khác (Máy chiếu đa năng, bảng phụ, mẫu vật thật,
tranh trực quan …)
2
Tìm chọn các cách truyền đạt cho học sinh các kiến thức phải cô đọng,
dễ hiểu, từ đó hướng dẫn các kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi của học
sinh. Với mục tiêu là mang đến cho học sinh một sự định hướng thẩm mĩ, thái
xuyên kiểm tra việc chuẩn bị đồ dùng học tập của học sinh, luôn đặt học sinh
vào tình huống “có vấn đề” để học sinh sẵn sàng tư duy, sẵn sàng hành động.
Chuẩn bị đầy đủ các giáo cụ trực quan: Đồ dùng, vật dụng trong các bài trang trí
ứng dụng (tối thiểu 3,4 đồ dùng trong 1 tiết học để học sinh quan sát) ví dụ như:
Chiếc khăn để đặt lọ hoa, đĩa tròn, hộp bánh, hộp kẹo, hộp mứt, túi xách, quần
áo thời trang... sắp xếp thời gian hợp lí, sử dụng các kĩ thuật dạy học linh hoạt,
không để thời gian “chết”, chọn phương pháp phù hợp cho đối tượng phù hợp.
Chọn những hình ảnh trực qua sinh động, ấn tượng thay vì những lí giải dài
dòng. Giáo viên cũng cần làm cho không khí của giờ học mĩ thuật luôn thân
thiện, sôi nổi và hào hứng, tạo không khí vui vẻ. Cuối mỗi tiết học phân môn vẽ
trang trí giáo viên phải nhận xét ưu, nhược điểm, của một số bài để cả lớp cùng
nhau rút kinh nghiệm.
Khi hoạt động cá nhân là khi học sinh thể hiện vai trò tích cực, chủ động
nhiều nhất nên giáo viên tập cho học sinh tư duy và sáng tạo độc lập.
Với đề tài “Một số kinh nghiệm giảng dạy phân môn vẽ trang trí cho học
sinh tại trường THCS Tiến Nông” tôi chia học sinh thành 2 nhóm:
Nhóm thứ nhất là học sinh khối 6: Phân môn vẽ trang trí ở lớp 6 các em
được học tất cả là 9 tiết trong đó có 1 tiết chép họa tiết, 2 tiết về màu sắc, 2 tiết
trang trí cơ bản (đường diềm và hình vuông - kiểm tra HK I), hai bài kẻ chữ, 1
bài trang trí ứng dụng (trang trí chiếc khăn để đặt lọ hoa). Trong đề tài nghiên
cứu ở đối tượng này tôi tập trung giúp học sinh lớp 6 nắm bắt đầy đủ nội dung
cách sắp xếp trong trang trí, biết cách vận dụng linh hoạt kiến thức để vẽ được
bài trang trí cơ bản có trọng tâm, đạt yêu cầu. Về màu sắc: giúp học sinh phân
biệt được: màu gốc, màu nhị hợp, màu bổ túc, màu tương phản, màu nóng, màu
lạnh ... biết cách phân biệt các kiểu chữ, cách sắp xếp dòng chữ. Về trang trí ứng
dụng chỉ có 1 bài nhưng rất quan trọng đó là giúp các em phân biệt được 2 dạng
trang trí, bước đầu tiếp cận với trang trí ứng dụng. Học sinh phải nhận thức được
rằng: Trang trí cơ bản là trang trí vào các hình cơ bản như hình tròn, hình vuông,
hình chữ nhật... Trang trí ứng dụng là trang trí các sản phẩm ứng dụng dùng
trong gia đình và cuộc sống: cái khăn, cái khay, cái thảm, hộp bánh, cái đĩa, cái
chữa nhật... hoặc có thể trang trí ứng dụng hoàn toàn sáng tạo trong tạo dáng và
trang trí: Tạo dáng và trang trí lọ hoa, chậu cảnh, túi xách, thời trang ... Có thể
xem dạng bài tạo dáng và trang trí là dạng bài thể hiện sự sáng tạo cao nhất
trong phân môn vẽ trang trí đối với học sinh bởi ở đó học sinh được tự mình
định ra kích thước, tỉ lệ, vị trí, hình dáng của các đồ vật được trang trí cũng như
việc tô màu hoàn thiện, tạo ra 1 đồ vật như thật.
Về bồi dưỡng học sinh giỏi trong các tiết học vẽ trang trí: Giáo viên yêu
cầu học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi môn mĩ thuật của toàn trường trong
từng tiết học nâng cao ý thức tự chủ trong công việc, có 1 cuốn vở nháp để thể
hiện nhiều phác thảo họa tiết, cách thể hiện trước khi giáo viên định hướng.
Giáo viên cũng yêu cầu học sinh trong 1 bài vẽ trang trí phải làm tối thiểu 2
dạng bài, khi có thời gian giáo viên sẽ nhận xét, đánh giá bài ngay tại lớp để các
học sinh khác có thể nghe và rút kinh nghiệm cho mình, khi tập trung đội tuyển
thì cho học sinh này nhận xét bài của học sinh kia trước khi giáo viên kết luận về
từng bài. Số bài vẽ của học sinh giáo viên phải lưu giữ lại làm giáo cụ để giảng
dạy cho các học sinh khác, theo tôi đây chính là những hình ảnh quan trọng
trong quá trình học sinh tiếp cận với kênh hình. Ngoài các chủ đề trang trí theo
khối lớp trong sách giáo khoa giáo viên cần ra thêm các chủ đề quen thuộc với
cuộc sống của các em, các chủ đề mang tính chất thời sự để cho học sinh vẽ.
Một điều quan trọng nữa là giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm tài liệu liên quan
đến môn học, khi các em đã có ý thức rồi thì đi đâu, làm gì hễ thấy có 1 họa tiết,
1 hình ảnh nào đẹp các em cũng giữ lại làm tư liệu cho bản thân.
Sắp xếp lại chỗ ngồi của học sinh (nếu thấy cần thiết) trong thời gian đầu
giờ để các học sinh khá giỏi kèm cặp học sinh yếu kém nếu thấy cần thiết.
Thường xuyên bổ sung kiến thức trên mạng Internet đặc biệt là những
hình ảnh có thể trình chiếu được để phục vụ quá trình dạy học lâu dài. Đây là
10
vấn đề rất quan trọng bởi mỗi một hình ảnh giáo viên sưu tầm được là thêm một
khi sử dụng máy chiếu đa năng để trình chiếu cần chọ lựa và nên là bản gốc
hoặc là phiên bản chuẩn đáp ứng phải thật màu, rõ nét. Cũng chỉ nên xem máy
chiếu đa năng là công cụ thay thế cho bảng phụ vì với học sinh trong môn mĩ
thuật vẫn thích nhất là được nhìn tự tay thầy giáo thị phạm.
- Nếu có điều kiện cần trang bị đầy đủ các bộ tranh - ĐDDH lớp 6, 7, 8, 9
trước hết để đồng bộ với SGK và chuẩn các kiến thức kĩ năng và để học sinh dễ
dàng quan sát, đối chiếu, nhận xét.
- Phải chọn lọc các hình ảnh được chọn để phóng to làm giáo cụ.
- Sưu tầm và yêu cầu học sinh cùng sưu tầm nhiều họa tiết, nhiều bài
trang trí về các đồ dùng, vật dụng trong gia đình, trong cuộc sống, sưu tầm cả
những đồ vật được trang trí đẹp, lưu giữ lại bài trang trí của các học sinh khóa
trước, của các học sinh giỏi đã ôn các năm học trước.
3
Trong trang này: Mục 2.2.3: Đoạn từ “Chuẩn bị mẫu vật ... đến ... cách trang trí” được tham
khảo từ TLTK số 5. Đoạn tiếp theo tác giả tự viết.
11
- Khi sử dụng phiếu học tập trong dạng phân môn vẽ tranh tốt nhất nên dùng
phiếu học tập dạng hình ảnh có sẵn: Phiếu học tập về hoàn thiện họa tiết, phiếu
học tập về tô màu cho đồ dùng đã được tạo dáng, phiếu học tập dạng có 1 kích
thước chung yêu cầu thay đổi vị trí, tỉ lệ; ví dụ tạo dáng và trang trí lọ hoa:
chung 1 kích thước yêu cầu học sinh thay đổi vị trí, tỉ lệ của miệng, cổ, vai, thân,
đáy lọ để có từ 3 đến 5 hình dáng khác nhau...
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã được sử
dụng để giải quyết vấn đề:
Trong quá trình học tập các chuyên đề nâng cao kiến thức và kĩ năng dạy
học và qua tự học, nghiên cứu cùng đồng nghiệp, qua sách báo, băng hình, tài
bản trong trang trí hình cơ bản. Học sinh giỏi khối 7, 8, 9 hiện nay có thể tự
mình triển khai 3 cách làm bài ở tất cả các hình cơ bản hoặc bài trang trí ứng
dụng với họa tiết, màu sắc đa dạng, hài hòa. Riêng với dạng bài tạo dáng và
12
trang trí ứng dụng học sinh đã có thể tự định ra kích thước, tỉ lệ, vị trí các đồ vật
theo ý tưởng của mình, tự tìm, sắp xếp họa tiết và tìm những màu sắc thích hợp
để hoàn thiện bài vẽ vừa đảm bảo yêu cầu giáo viên đưa ra vừa mang đậm dấu
ấn cá nhân.
3. Kết luận, kiến nghị:
3.1 Kết luận:
Sau thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài tôi nhận thấy chất lượng của
học sinh được nâng cao rõ rệt thông qua các bài thực hành vẽ trang trí. Năm học
2016 - 2017 tuy chất lượng dạy và học của cả thầy và trò chưa được kiểm định
qua các kì thi học sinh giỏi do các cấp tổ chức nhưng qua công tác kiểm tra đánh
giá định kì trên 8 lớp của nhà trường, qua các hoạt động ngoại khóa mà học sinh
tham gia, qua thái độ học tập trên lớp... tôi thấy chất lượng học sinh có những
chuyển biến theo chiều hướng rất tích cực. Trong các bài thực hành của phân
môn vẽ trang trí đã có nhiều bài có chất lượng tốt về tạo dáng, tìm và sắp xếp
họa tiết, thể hiện màu sắc ... đặc biệt là chất lượng học sinh rất đồng đều trong
các bài vẽ trang trí, đa số đã dám đột phá trong cách tìm cách thể hiện khác lạ,
tạo ra nhiều bài trang trí ứng dụng bắt mắt và độc đáo.
3.2 Kiến nghị:
+ Nhà trường tạo điều kiện cho môn mĩ thuật có 1 phòng học chức năng
đáp ứng nhu cầu dạy học đặc thù.
+ Nhà trường mua sắm thêm một số bộ tranh, ảnh, thiết bị, đồ dùng trực
quan phục vụ cho môn học mĩ thuật.
+ Phòng GD&ĐT tổ chức các kỳ thi chọn học sinh giỏi môn mĩ thuật
hàng năm để đánh giá và động viên quá trình dạy học của giáo viên và học sinh.
[7]. Tham khảo tài liệu THCS 35, THCS 36 trong chương trình bồi
dưỡng thường xuyên giáo viên THCS: “Giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống
cho học sinh THCS”
14
MỤC LỤC
STT Mục
1
2
3
4
5
6
7
8
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
9
10
1
1
2
3
3
3
3
5
7
11
12
12
12
15
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trương Văn Cường
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Tiến Nông, huyện Triệu
Sơn.
TT
1.
Tên đề tài SKKN