Ra đề kiểm tra phù hợp đối tượng học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn ngữ văn tại lớp 11b1, 11b6 trường THPT triệu sơn 3 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RA ĐỀ KIỂM TRA PHÙ HỢP ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP
11B1,11B6 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRIỆU SƠN 3

Người thực hiện: Lê Văn Thanh
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn.
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc môn: ngữ văn

1


THANH HOÁ NĂM 2016
MỤC LỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RA ĐỀ KIỂM TRA PHÙ HỢP ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 11B1,
11B6, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRIỆU SƠN 3
I. MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài ( Trang 1)
2. Mục đích nghiên cứu (Trang 2)
3. Đối tượng nghiên cứu ( Trang )
4. Phương pháp nghiên cứu ( Trang 2)
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm ( Trang 2)
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm(Trang 3,4)
3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề

giáo viên và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà trường với đánh giá của
gia đình và xã hội, nhằm giúp cho giáo viên điều chỉnh cách dạy để học sinh đạt
kết quả cao là một chuyển đổi tích cực của giáo dục phổ thông.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy của bản thân tôi (môn ngữ văn lớp 11B1
Và lớp 11B6) tại trường Trung học phổ thông Triệu Sơn 3, năm học 2015 – 2016
tôi đã vận dụng linh hoạt việc đổi mới ra đề kiểm tra, đánh giá dưới nhiều hình
thức khác nhau: tái hiện kiến thức, trả lời nhanh, tức thì bằng độ nhạy bén, kiến
thức vốn có hoặc có thể phải bỏ nhiều thời gian đọc và suy nghĩ trước khi trả lời,
hoặc phải vận dụng kiến thức hiểu biết xã hội, vận dụng kiến thức liên môn, đôi
khi phải thông qua thảo luận nhóm học tập mới tìm được câu trả lời. Công việc
này được tiến hành thường xuyên trong cả quá trình theo dõi kết quả học tập của
học sinh và cũng thường xuyên trao đổi trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn,
bước đầu có hiệu quả. Bởi vậy tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: KINH
NGHIỆM RA ĐỀ KIỂM TRA PHÙ HỢP ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 11B1, 11B6,
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRIỆU SƠN 3.
2. Mục đích nghiên cứu: đề tài hướng tới mục đích:
3


- Nắm được kĩ thuật thiết kế đề kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực học sinh.
- Đổi mới ra đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập, năng lực học sinh nhằm kích
thích hứng thú học tập, nâng cao hiệu quả dạy và học môn ngữ văn ở trường
Trung học phổ thông.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đề kiểm tra môn ngữ văn trung học phổ thông.
- Học sinh 2 lớp 11B1 và 11B6 trường Trung học phổ thông Triệu Sơn 3 năm
học 2015 – 2016.
4. Phương pháp nghiên cứu.

mở nhưng sự việc đưa ra phản cảm, trái với chuẩn mực giá trị đạo đức truyền
thống. Việc kiểm tra đánh giá chỉ tập trung vào việc giáo viên đánh giá học sinh,
ít tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau.
Năm học 2015 – 2016 tôi được phân công giảng dạy môn ngữ văn các
lớp 11B1 và 11B6. Kết quả khảo sát đầu năm học chưa được như mong muốn:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM
Lớp


số

11B1 46
11B6 42

Kém
SL %
2
4.5
1
2.4

Yếu
SL %
13
28.3
16
38.0

Kết quả
Trung bình Khá


11B6: 1 em

Nguyên nhân của kết quả trên
+ Do chất lượng học sinh 2 lớp 11B1 và 11B6 không đồng đều, số lượng học
sinh yếu kém nhiều.
+ Ý thức học tập phấn đấu vươn lên của các em chưa cao, chưa có phương pháp
học hiệu quả nhất: phần đông là học vẹt, không hiểu sâu, các em chưa có vốn
kiến thức hiểu biết xã hội, chưa có kĩ năng làm bài .
5


+ Đề bài ra chưa phù hợp với đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém ở
hai lớp này.
+ Các em chưa có hứng thú học bộ môn văn .
Thực trạng trên đặt ra vấn đề : phải thay đổi cách dạy của Thầy, cách học
của trò, phải đổi mới ra đề kiểm tra cho phù hợp với đối tượng học sinh để từng
bước nâng dần chất lượng, rèn luyện tinh thần làm việc tập thể, chủ động, tự tin
trong hoạt động học tập của học sinh ở hai lớp này.
Bản thân tôi đã trăn trở nhiều, một mặt tôi động viên các em cố gắng, mặt
khác tôi tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới kiểm tra đánh giá theo
định hướng phát triển năng lực học sinh tạo hứng thú cho các em trong giờ văn
đã tạo được những chuyến biến tích cực về chất lượng của học sinh ở hai lớp
này.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Giải pháp 1. Giáo viên nghiên cứu kĩ đặc điểm chương trình sách giáo
khoa ngữ văn lớp 11, xác định vùng kiến thức trọng tâm trong chương
trình, kiến thức ngoài chương trình, kiến thức về xã hội, chính trị, tư
tưởng…đồng thời phân tích và phân loại đối tượng học sinh lớp mình giảng
dạy.

một cách máy móc của học sinh.
Năm là: Cần đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, với tính chất, đặc trưng
môn ngữ văn, các hình thức kiểm tra đánh giá cần vận dụng linh hoạt trong quá
trình dạy học. Giáo viên có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ
thuật “ trình bày một phút”, kĩ thuật “ bản đồ tư duy”, kĩ thuật “ viết tích cực”…
để đánh giá năng lực học tập của học sinh.
Sáu là: Đề kiểm tra cần đảm bảo tính phân hóa: trong đề kiểm tra phải
đảm bảo tỉ lệ nhất định: nhận biết- thông hiểu 50% - 60%; vận dụng thấp 20% 25 %; vận dụng cao 10% - 15 %. cần thiết phải có những câu hỏi ở mức độ dễ
dành cho học sinh yếu kém, câu hỏi mức độ khó dành cho học sinh khá giỏi.
Từ yêu cầu thực tiễn đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiếm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh cho nên đề kiểm tra môn
ngữ văn cần ra theo hướng mở. Dạng đề mở góp phần tích cực hóa quá trình học
7


tập của học sinh. Các em sẽ phải tự giác chủ động trong lĩnh hội và vận dụng
kiến thức trong bài làm; các em có cơ hội suy nghĩ, tìm tòi và khám phá, khẳng
định năng lực cá nhân của mình. Dạng đề mở giúp học sinh bỏ dần thói quen
học thuộc lòng, học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy móc nhưng không nắm vững thực
chất vấn đề, thiếu kĩ năng vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, Đề giúp học sinh
cơ hội bày tỏ quan điểm của mình trước cuộc sống, hiểu biết thêm và chủ động
trong cuộc sống của mình.
Giải pháp 3: Giáo viên thực hiện nghiêm túc quy trình biên soạn đề
kiểm tra.
Bước 1: Xác định mục đích đề kiểm tra.
Giáo viên cần căn cứ yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ
năng và thực tế học tập của học sinh để xác định mục đích đề kiểm tra cho phù
hợp.
Bước 2: Xác định hình thức kiểm tra, cấu trúc đề kiểm tra phù hợp với
thời gian kiêm tra.

Không gian núi rừng hoang vu
thời gian: chiều tà
Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh ( diễn đạt
thành đoạn văn khoảng 5 – 7 dòng)
2. Đề bài viết số 3: thực hiện ở tuần 14.
I. ĐỌC – HIỂU ( 3.0 điểm )
Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
NƠI DỰA
“ Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào...
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn
tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.
Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà
kia sống.
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia ?
Đôi mắt anh có cái ánh riêngcủa đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy.
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp
nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.
9


Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ
kia đi qua những thử thách.
( Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB văn học, Hà Nội 1983 )
Câu 1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? ( 0.25 điểm )
Câu 2. Hãy tìm những câu thơ có cấu trúc câu tương tự nhau trong bài thơ ?
( 0.25 điểm )
Câu 3. Xác định thể thơ của bài thơ ? ( 0.25 điểm )

rừng lại có người ghét cậu.
Người mẹ nắm tay con, đưa trở lại khu rừng. Bà nói: “Giờ thì con hãy
hét thật to: Tôi yêu người”. Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì có tiếng vọng
lại: “Tôi yêu người”. Lúc đó người mẹ mới giải thích cho con hiểu: “Con ơi, đó
là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì con sẽ nhận điều đó.
Ai gieo gió thì gặt bão. Nếu con thù ghét người thì người cũng thù ghét con. Nếu
con yêu thương người thì người cũng yêu thương con
(Theo Quà tặng cuộc sống, NXB Trẻ, 2004)
Từ câu chuyện trên, anh (chị) hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của
mình về mối quan hệ giữa “cho” và “nhận” trong cuộc sống?
Câu 2 ( 4.0 điểm ).
Trong tác phẩm Chí phèo ( Nam Cao ) Chí phèo đã xúc động trước sự
chăm sóc ân cần của Thị Nở.
« Hắn băn khoăn nhìn Thị Nở như thăm dò. Thị vẫn im lặng, cười tin
cẩn...Hắn bảo Thị :
- Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ ?
Thị không đáp...Hắn bảo Thị :
- Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui .
Thị lườm hắn...hắn thấy lòng rất vui... »
( Trích Chí phèo – Nam Cao )
Cảm nhận của anh/ chị về đoạn văn trên. Nhận xét giá trị nhân đạo của
truyện ngắn Chí Phèo.
3. Đề bài viết số 5 : Thực hiện ở tuần 24
I. Phần Đọc - hiểu ( 3.0 điểm )

11


Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
“Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà

Gặp tôi, em hỏi hững hờ
“Anh chưa lấy vợ, còn chờ đợi ai?”
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê.
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…”
(Phạm Công Trứ)
Câu 5: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn thơ? ( 0.25 điểm )
Câu 6: Anh/chị hiểu như thế nào về hai câu thơ:
“Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ… một khoảng trời pha lê”? ( 0.25 điểm )
Câu 7: Anh/chị nhận xét như thế nào về hai nhân vật trữ tình “tôi” và “em”
trong đoạn thơ? ( 0.25 điểm )
Câu 8: Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về nhân vật “em” trong đoạn thơ
( diễn đạt thành đoạn văn 7 – 10 dòng) ( 0.75 điểm )
II. Phần Làm văn ( 7,0 điểm)
Câu 1 (3.0 điểm) Trình bày suy nghĩ của anh/chị về nội dung câu chuyện sau:
DỰA VÀO CHÍNH MÌNH
Ốc sên con ngày nọ hỏi mẹ:
– “Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra phải đeo cái bình vừa nặng vừa cứng
trên lưng như thế? Thật mệt chết đi được!”
– “Vì cơ thể chúng ta không có xương để chống đỡ, chỉ có thể bò, mà bò cũng
không nhanh” – Ốc sên mẹ nói.
– “Chị sâu róm không có xương cũng bò chẳng nhanh, tại sao chị ấy không đeo
cái bình vừa nặng vừa cứng đó?”
– “Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm, bầu trời sẽ bảo vệ chị ấy”.
– “Nhưng em giun đất cũng không có xương, cũng bò chẳng nhanh, cũng không
biến hoá được, tại sao em ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?”
– “Vì em giun đất sẽ chui xuống đất, lòng đất sẽ bảo vệ em ấy”.


Câu 4. Đặt tiêu đề cho văn bản trên. (0.5)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ câu 5 đến câu 8:
14


Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao.
(Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)
Câu 5: Nêu phương thức biểu đạt nổi bật trong đoạn thơ ? (0.25 điểm )
Câu 6: Xác định thể thơ của đoạn thơ trên ? (0.25 điểm )
Câu7: Xác định nghệ thuật tương phản trong đoạn thơ trên? (0.5 điểm )
Câu 8: Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu thơ “Thời gian
chạy qua tóc mẹ”? (0.5 điểm )
II. TỰ LUẬN ( 7.0 điểm )
Câu1 : ( 3 .0 điểm )
“Ông trồng chè khoe họ được uống chè từ khu trồng sạch nhà quây riêng dành
cho gia đình, khu còn lại tất nhiên là trà bẩn để bán. Bà bán rau cũng hân hoan
nói nhà mình được ăn rau ở khu trồng sạch, khu nhiều thuốc là để bán. Ôngbán
thịt lợn cũng vậy.
Nhưng họ không thể cả đời chỉ uống trà, ăn rau hay ăn thịt, họ uống trà sạch
nhưng vẫn phải ăn rau bẩn của kẻ khác, ăn rau nhà sạch nhưng vẫn ăn thịt bẩn
của kẻ khác . . . Chúng ta đang giết nhau trong khi cảm thấy an tâm đã bảo vệ
được gia đình mình ở một góc nhỏ hẹp hòi…”
(Chia sẻ của Trần Nhất Hoàng - cựu thành viên ban nhạc Bức Tường khi nhắc
đến kỷ niệm về cố nhạc sỹ Trần Lập).
Anh/ chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về thực trạng được nói đến trong
đoạn trích trên ?
Câu 2: (4.0 điểm )

11B1
11B6

46
42

Kém
SL
%
2
4.5
1
2.4

Kết quả
Yếu
Trung bình
SL
%
SL
%
13 28.3 23 50.0
16 38.0 23 54.7

Khá
SL
%
8
17.2
2

SL
%

Giỏi
SL
%
16


11B1
11B6

46
42

0
0

0
0

10
11

21.7
26.1

16
17


0
0
0
0

Yếu
SL
%
3
6.5
4
9.5

Kết quả
Trung bình
SL
%
11
24
14 33.5

Khá
SL
%
22
48
16
38

Giỏi

Trong sinh hoạt tổ chuyên môn thường xuyên trao đổi, thảo luận việc ra
đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Từ đó xây dựng được
thư viện đề kiểm tra của tổ chuyên môn và nhà trường.
Các đồng chí trong tổ ngữ văn tích cực đổi mới ra đề kiểm tra phù hợp với
đối tượng học sinh góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp dạy học, nâng
cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông.
III. Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận.
Đổi mới ra đề kiểm tra phù hợp với đối tượng học sinh đã góp phần tích
cực trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở trường trung học
phổ thông.
Đổi mới ra đề kiểm tra đánh giá phải được diễn ra trong quá trình dạy
học, đề bài kiểm tra phải gắn liền với thực trạng chất lượng của lớp mình trực
tiếp giảng dạy, kết quả kiểm tra là cơ sở để giáo viên điều chỉnh tích cực cách
thức dạy học và giúp đỡ học sinh vươn lên trong học tập.
2. Kiến nghị
Ban Giám hiệu nhà trường, Sở Giáo dục và Đào Tạo tổ chức hội thảo
chuyên đề cho giáo viên bộ môn ngữ văn hàng năm để giáo viên có dịp trao đổi,
học hỏi kinh nghiệm và tìm ra những giải pháp tốt, tích cực nâng cao chất lượng
giảng dạy.
Đây là kinh nghiệm của bản thân tôi được đúc rút từ thực tiễn giảng dạy
tại trường trung học phổ thông Triệu Sơn 3. Kinh nghiệm này đã được trao đổi
nhiều tại các cuộc họp tổ chuyên môn. Có thể kết quả ứng dụng còn khiêm tốn,
rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hoá, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status