Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tìm hiểu tiết 114, bài ôn tập tiếng việt, chương trình ngữ văn 11, ban cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH
TÌM HIỂU TIẾT 114, BÀI “ÔN TẬP TIẾNG VIỆT”,
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, BAN CƠ BẢN
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH

Người thực hiện:
Ngô Văn Hoà
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

1
THANH HOÁ NĂM 2016


MỤC LỤC
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.


…….

9.

Bước thứ nhất của sáng kiến ……………………………….

5

……..

10. Bước thứ hai của sáng kiến ………………………………….

5

…….

11. Bước thứ ba của sáng kiến………………………………………...
12. Hiệu quả của sáng kiến ……………………………………..

11
11

………

13. Kết luận và kiến nghị……………………………………….……….
14. Tài
liệu
tham
khảo…………………………………………………….

- Tôi luôn nghĩ rằng, việc hướng dẫn học sinh ôn tập một tiết học Tiếng
Việt đòi hỏi nhiều kỹ năng và công sức, cần có sự kết hợp của nhiều phương
pháp, phương tiện. Trong đó, điều cốt yếu là phải đảm bảo được việc vừa ôn tập
được kiến thức về lí thuyết, vừa rèn luyện được kĩ năng, vừa liên hệ, mở rộng để
học sinh có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong hoạt động giao tiếp
ngoài nhà trường.
Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài Một số kinh nghiệm hướng dẫn học
sinh tìm hiểu tiết 114, bài Ôn tập Tiếng Việt, chương trình Ngữ văn 11, Ban
cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh để trao đổi cùng
đồng nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để đưa ra được những sáng kiến mới trong cách giảng dạy tiết
114, bài Ôn tập Tiếng Việt lớp 11, chương trình cơ bản, từ đó giúp học sinh có
sự hứng thú trong học tập và phát huy năng lực tự học, tính chủ động sáng tạo
trong quá trình tiếp cận tri thức.
3


3. Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ trình bày một số kinh nghiệm ở một tiết dạy
cụ thể, đó là tiết 114, bài Ôn tập Tiếng Việt lớp 11, chương trình cơ bản và áp
dụng cho một đối tượng cụ thể là học sinh trường THPT Thọ Xuân 5 - Thọ
Xuân.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tự nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Tôi chủ động tìm
hiểu các tài liệu chỉ đạo về đổi mới phương pháp dạy học, các quan điểm đổi
mới phương pháp dạy học, các phương pháp phát huy năng lực tự học, sáng tạo
của học sinh, các phương pháp dạy học Tiếng Việt.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Để có cơ sở
cho việc áp dụng phương pháp và kinh nghiệm này, tôi đã tổ chức điều tra, khảo



- Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những
yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho
sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
Cùng với dòng chảy toàn cầu hoá đối với kinh tế là toàn cầu hoá đối với khoa
học, công nghệ, thông tin, văn hoá và tất nhiên trong đó có ngôn ngữ. Bởi, với
tư cách vừa là công cụ giao tiếp vừa là một phần của văn hoá, ngôn ngữ là một
hiện tượng xã hội đặc biệt, có chức năng phản ánh mọi đổi thay của xã hội như
“chiếc hàn thử biểu”, đồng thời có chức năng tác động vào xã hội, góp phần làm
thay đổi xã hội như một xung lực . Do vậy, dạy học Tiếng Việt và phát huy năng
lực sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh không chỉ tạo
ra được tính thực tiễn cao của việc dạy – học Tiếng Việt trong nhà trường, mà
chính là một “lối thoát” quan trọng, khắc phục tính “hàn lâm” của nội dung dạy
học môn Tiếng Việt.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Về phía người dạy: Trên thực tế khảo sát tại một số trường THPT trên địa
bàn huyện và các lớp cùng khối trong nhà trường, tôi nhận thấy, giáo viên thực
hiện tiết dạy theo một số phương pháp sau đây: Hoặc là hướng dẫn học sinh làm
các bài tập theo định hướng trong sách giáo khoa, hoặc củng cố khái quát phần lí
thuyết và học sinh tự củng cố kĩ năng từ bài tập sách giáo khoa. Có trường hợp
chỉ củng cố bài học nằm trong đề cương ôn tập học kì, các nội dung khác thường
yêu cầu học sinh tự ôn tập mà không có sự hướng dẫn của giáo viên.
- Đối với học sinh: Vì đây là một bài ôn tập, lại ở thời điểm cuối của năm
học nên thường xảy ra các trường hợp: Hoặc là thụ động ôn tập theo hướng dẫn
của giáo viên trên lớp, hoặc chỉ quan tâm đến ôn tập lí thuyết các bài học Tiếng

- Đầu tiên: Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày tên các bài học về Tiếng
Việt ở lớp 11. Học sinh tìm hiểu và trình bày trước lớp.
- Giáo viên kết luận về các bài học về Tiếng Việt ở chương trình lớp 11
gồm có:
1. Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.
2. Ngữ cảnh.
3. Nghĩa của câu.
4. Đặc điểm loại hình tiếng Việt.
5. Phong cách ngôn ngữ báo chí.
6. Phong cách ngôn ngữ chính luận.
7. Thực hành nghĩa của từ trong sử dụng
8. Thực hành một số kiểu câu trong văn bản.
9. Thực hành thành ngữ, điển cố.
10. Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu.
Tuy nhiên, trong mười bài học trên, có bài là tự học có hướng dẫn, có
những bài chỉ thực hành mà không học lại lí thuyết, bởi phần lí thuyết đã được
học ở lớp 10 và THCS. Do vậy, trong thời lượng 2 tiết ôn tập của phần Tiếng
Việt 11, đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn được đơn vị kiến thức nào là mới, là
trọng tâm để ôn tập, phần còn lại sẽ hướng dẫn học sinh tự rèn luyện.
- Giáo viên xác định nội dung ôn tập trọng tâm trong 2 tiết 114 và 115 của
lớp 11 gồm có các bài sau:
1. Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.
2. Ngữ cảnh.
3. Nghĩa của câu.
4. Đặc điểm loại hình tiếng Việt.
5. Phong cách ngôn ngữ báo chí.
6. Phong cách ngôn ngữ chính luận.
- Kết luận và nhấn mạnh nội dung ôn tập của tiết 114 là các bài học
sau:
1. Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.

Lặn lội thân có khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông,
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công,
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
Nêu câu hỏi: Hãy chỉ ra một số yếu tố thuộc ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân
ở bài thơ trên ?
- Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân để trả lời câu hỏi và trình bày
trước lớp.
- Giáo viên kết luận vấn đề:
+ Phần ngôn ngữ chung: Các từ trong bài thơ đều thuộc ngôn ngữ chung;
các quy tắc đặt câu, ngữ pháp đều thuộc quy tắc của ngôn ngữ chung.
+ Phần cá nhân: Sự vận dụng sáng tạo của Tú Xương: “Lặn lội thân cò”,
“Eo sèo mặt nước” lấy từ ngôn ngữ chung, nhưng đã đảo trật tự từ; “Năm nắng
mười mưa” (vận dụng thành ngữ),...
=> Tất cả: thể hiện sự chịu thương, chịu khó, tần tảo đảm đang của bà Tú.
- Giáo viên lựa chọn ví dụ thứ 2:
7


Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
(trích Tự tình II, Hồ Xuân Hương)
Nêu câu hỏi: Hãy chỉ ra các yếu tố thuộc ngôn ngữ chung và lời nói cá
nhân ở ví dụ trên ?
- Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân để trả lời câu hỏi và trình bày
trước lớp.
- Giáo viên kết luận vấn đề:
+ Ngôn ngữ chung: Các từ trong hai câu thơ đều thuộc ngôn ngữ chung;

4. Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và
tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội được nội dung, ý nghĩa của lời
nói.
- Học sinh sẽ căn cứ vào những kiến thức đã được tìm hiểu để lựa chọn
đáp án đúng cho câu hỏi và trình bày trước lớp.
- Giáo viên yêu cầu học sinh phân tích, đưa ra lập luận giải thích lí do
không lựa chọn đáp án khác và kết luận:
+ Đáp án đúng là đáp án D. Các đáp án còn lại là các yếu tố của Ngữ cảnh
chứ không phải toàn bộ ngữ cảnh
8


+ Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ, làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ, tạo
lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội lời nói. Các nhân tố của ngữ cảnh là
nhân vật giao tiếp, bối cảnh ngoài ngôn ngữ (bối cảnh rộng và hẹp, hiện thực
được đề cập) và văn cảnh
+ Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong cả tạo lập và lĩnh hội lời nói.
3.2.2.2. Rèn luyện kĩ năng.
- Giáo viên nêu ví dụ 1:
Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác
trong bối cảnh nào? Chỉ ra một số chi tiết cho thấy sự chi phối của bối cảnh
sáng tác đối với nội dung và hình thức câu văn?
- Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân để trả lời câu hỏi và trình bày
trước lớp.
- Giáo viên kết luận vấn đề:
+ Bối cảnh sáng tác: Tác phẩm được sáng tác trong bối cảnh trận tập kích
của các nghĩa sĩ Cần Giuộc vào đồn Pháp đêm 14-12-1861. Trận đánh đó nhiều
nghĩa sĩ đã hy sinh. Nhưng các nghĩa sĩ cũng đã giết được tên quan hai Pháp và
một số lính thuộc địa
+ Những yếu tố trên (chỗ được gạch chân) của ngữ cảnh đã chi phối một

+ Về sắc thái biểu cảm: Câu thơ như là lời mời mọc, lại như là lời trách cứ
và cũng như là lời tự vấn.
+ Căn cứ để hiểu ý nghĩa và sắc thái của câu thơ là: Hoàn cảnh ra đời của
bài thơ, mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với một cô gái xứ Huế và lời
thăm hỏi, động viên của người con gái ấy đối với Hàn Mặc Tử khi nhà thơ đang
lâm bệnh nặng. Dựa trên căn cứ này thì câu thơ là sự giao thoa của tất cả sắc thái
trên. Khiến câu thơ trở nên đa sắc thái và bộc lộ tâm trạng có phần day dứt của
thi nhân.
=> Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và lĩnh hội lời nói.
- Giáo viên nêu ví dụ 4:
Bài thơ Tràng giang của Huy cận có hai câu:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nêu câu hỏi: Hãy xác định các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe)
của hai câu thơ này ? Hiện thực được nhắc tới của hai câu thơ đó là gì ?
- Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân để trả lời câu hỏi và trình bày
trước lớp.
- Giáo viên kết luận vấn đề:
+ Nhân vật giao tiếp là: Người nói (viết) là tác giả và người nghe (đọc) là
độc giả.
+ Hiện thực được nói đến là: Nỗi nhớ quê, nhớ nhà trào dâng vơi đầy như
con nước trong lòng thi nhân.
=> Ngữ cảnh bao gồm nhân vật giao tiếp, bối cảnh, hiện thực được nhắc
tới và văn cảnh
3.2.2.3. Liên hệ, mở rộng.
- Trong quá trình tiếp nhận và lĩnh hội các văn bản văn học, việc nắm
vững ngữ cảnh của văn bản sẽ góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu nội
dung, tư tưởng tình cảm mà tác giả gửi gắm, cũng như hiểu được một số hình
ảnh, câu chữ trong văn bản, như Tràng Giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của
Hàn Mặc Tử, ở chương trình 12 như Tây tiến của Quang Dũng, Tiếng hát con

- Giáo viên kết luận vấn đề: Ví dụ này có 2 câu. Trong đó, câu thứ nhất:
+ Nghĩa sự việc tập trung ở ý: y văn võ đều có tài cả (nhắc tới một người
văn võ toàn tài).
+ Nghĩa tình thái: Thế ra là thái độ ngạc nhiên của người nói với sự việc
“y văn võ đều có tài cả”. Dạ bẩm: Là thái độ kính cẩn của người nói với người
nghe.
Câu thứ hai:
+ Nghĩa sự việc: Không có.
+ Nghĩa tình thái: là thái độ thán phục của người nói với đối tượng được
nhắc tới chà chà
=> Mỗi câu thường có 2 thành phần nghĩa. Tuy nhiên, với những câu chỉ
cấu tạo bằng các từ cảm thán thì chỉ có nghĩa tình thái mà không có nghĩa sự
việc.
- Giáo viên nêu ví dụ và vấn đề 2: Chỉ ra hai thành phần nghĩa của câu
trong ví dụ dưới đây:
Vườn ai mướt quá xanh như ngoc
(Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử)
- Học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân để trả lời câu hỏi và trình bày
trước lớp.
- Giáo viên kết luận vấn đề:
+ Nghĩa sự việc: Nói tới một mảnh vườn mượt mà, tốt tươi lung linh như
ngọc bích
+ Nghĩa tình thái: Bộc lộ sự trầm trồ ngạc nhiên của người nói (mướt quá)
đối với sự việc (mảnh vườn tốt tươi)
- Giáo viên nêu ví dụ và vấn đề 3: Chỉ ra hai thành phần nghĩa của câu
trong ví dụ dưới đây:
Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi.
(Tinh thần thể dục, Nguyễn Công Hoan)
11


các văn bản sinh động, giàu cảm xúc mà vẫn giữ gìn sự trong sáng của Tiếng
Việt.
3.3. Bước thứ ba: Giáo viên củng cố, dặn dò học sinh cho tiết ôn tập tiếp theo,
tiết 115 với các bài học như đã trình bày ở bước một.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
4.1. Hiệu quả đối với hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Tôi đã thử nghiệm phương pháp và sáng kiến này ở một lớp 11 của
trường THPT Thọ Xuân 5 và một lớp khác được dạy theo phương pháp truyền
thống, kết quả thu được:
+ Ở lớp không áp dụng sáng kiến này, tôi tiến hành ôn tập bình thường
theo gợi ý từ sách giáo khoa. Kết quả, đa số học sinh đều thụ động, lúng túng
trong việc giải quyết các bài tập, nhất là các bài tập mở rộng, liên hệ.
12


+ Ở lớp tôi áp dụng phương pháp như đã trình bày trong sáng kiến kinh
nghiệm này. Kết quả cho thấy: Đa số nắm vững lí thuyết, biết vận dụng trong
rèn luyện kĩ năng. Các em hứng thú, sôi nổi, tích cực, chủ động tìm hiểu bài học,
chủ động làm việc, biết liên hệ, mở rộng. Đặc biệt, đa số các em biết từ bài học
để thể hiện sự cảm thụ, đánh giá nội dung, ý nghĩa của một câu thơ, một đoạn
văn xuôi trong và ngoài chương trình.
- Kết quả bài kiểm tra sau khi thử nghiệm hai phương pháp và thăm dò ý
kiến học sinh về bài học ở hai lớp:
Thăm dò về bài học
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Khó, Khó,
Lớp

phần tạo được sự hứng thú, sự chủ động trong việc học tập của học sinh trong
một tiết dạy cụ thể ở trường THPT Thọ Xuân 5.
- Với đồng nghiệp trong nhà trường, đã có một số đồng chí sử dụng cách
làm của tôi và tạo được sự hứng thú học tập, góp phần nâng cao hiệu quả học tập
của học sinh ở phần Tiếng Việt, đồng thời khích lệ đồng nghiệp tiếp tục tìm tòi,
nghiên cứu, áp dụng các phương pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng
dạy bộ môn.
- Với nhà trường: Tôi vẫn đang tích cực áp dụng sáng kiến cho các lớp dạy
và sẽ tiếp tục rút kinh nghiệm cho những năm tiếp theo để hoàn thiện sáng kiến
và áp dụng phổ biến trong nhà trường. Tuy nhiên, hiệu quả ban đầu có thể thấy
được, sáng kiến của tôi đã giúp đồng nghiệp có thêm một phương pháp, một
cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài ôn tập này.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận: Đề tài này là kinh nghiệm mà bản thân tôi đúc rút trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy tại trường THPT Thọ Xuân 5, đề tài là một
số kinh nghiệm nhỏ của cá nhân về một tiết dạy cụ thể, áp dụng cho một đối
tượng cụ thể là học sinh trường THPT Thọ Xuân 5 – Thọ Xuân, tôi nhận thấy
khi áp dụng đề tài, có nhiều chuyển biến tích cực về hiệu quả và chất lượng
giảng dạy và học tập của học sinh. Đề tài là một gợi ý thú vị, một phương pháp
13


hiệu quả cho đồng nghiệp trong việc thực hiện không chỉ một tiết ôn tập ở lớp
11, mà còn có thể áp dụng cho các bài học tương tự ở các khối lớp khác. Vì vậy,
tôi mạnh dạn trình bày cùng đồng nghiệp để được trao đổi, rút kinh nghiệm cho
việc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học. Mong được đồng
nghiệp góp ý để được hoàn thiện hơn.
2. Kiến nghị: Trường THPT Thọ Xuân 5 lắp thêm hệ thống máy chiếu cho
toàn khối 11 để thực hiện tốt nhất sáng kiến kinh nghiệm này.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status