SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT 4 THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÂN TÍCH VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG
GẶP CỦA HỌC SINH KHI GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP
HÓA HỌC PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 - THPT
Người thực hiện : Phạm Văn Vĩnh
Chức vụ : Giáo viên – Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn) : Hóa Học
THANH HÓA NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Trang
A.
Mở đầu
3
1.
Lý do chọn đề tài
3
2.
Thực trạng của vấn đề
6
3.
Giải pháp và tổ chức thực hiện để giải quyết vấn đề
7
4.
Hiệu quả trong việc triển khai đề tài
21
C.
Kết luận và kiến nghị
22
1.
Kết luận
22
quá trình giải bài tập hóa học ở trường THPT. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ
phân tích những sai lầm của HS trong quá trình giải bài tập hóa học mà chưa
thấy tác giả nào đi sâu vào việc tìm ra biện pháp khắc phục những sai lầm đó.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích và khắc phục những sai
lầm thường gặp của học sinh khi giải một số dạng bài tập hóa học phần kim
loại lớp 12 - THPT” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích những sai lầm của HS trong quá trình giải bài tập
hóa học THPT, trên cơ sở đó tìm cách khắc phục những sai sầm.
3. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp của HS khi giải
bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Đọc, nghiên cứu các dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
- Đọc, tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về những sai lầm khi giải
các dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
4.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Dự một số tiết dạy có liên quan đến các dạng bài tập hóa học phần kim
loại lớp 12 - THPT mà HS thường mắc sai lầm của đồng nghiệp.
- Khảo sát các đề thi tốt nghiệp, đề thi đại học, cao đẳng, đề thi học sinh
giỏi của tỉnh Thanh Hoá trong các năm học.
- Chọn 03 lớp 12 trong đó có 01 lớp học ban cơ bản A, 02 lớp học ban cơ
bản để triển khai đề tài. Ban đầu tôi chưa áp dụng đề tài đối với cả 03 lớp, sau
3
một thời gian tôi áp dụng đề tài cho cả 03 lớp. Qua đó tôi so sánh, đối chiếu kết
quả trước và sau khi thực hiện đề tài để rút ra kết luận.
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
- Dạy học theo hướng hoạt động hóa người học.
- Quan điểm kiến tạo trong dạy học.
- Quan điểm dạy học tương tác.
1.2.4. PPDH tích cực
1.2.4.1. Đặc trưng của PPDH tích cực
- Dạy học tăng cường tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện và phát huy năng lực tự học của HS.
- Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của GV với đánh giá của HS và tự đánh giá của HS.
- Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế.
5
1.2.4.2. Một số PPDH tích cực
- Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Dạy học hợp tác.
- Vấn đáp.
- Đàm thoại.
1.3. Tổng quan về bài tập hóa học
1.3.1. Khái niệm về bài tập hóa học
Theo các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ : “Bài tập hóa học là một
dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và
câu hỏi, mà trong khi hoàn thành, học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng
nhất định”.
1.3.2. Phân loại bài tập hóa học
- Dựa vào nội dung có thể phân bài tập hóa học thành 4 loại : bài tập định
tính; bài tập định lượng; bài tập thực nghiệm; bài tập tổng hợp.
- Dựa vào hình thức thể hiện có thể phân bài tập hóa học thành 2 loại : bài
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện để giải quyết vấn đề
3.1 Nội dung phần hoá kim loại trong chương trình hoá học phổ thông
Nội dung phần hoá kim loại trong chương trình hoá học phổ thông có thể
chia thành hai phần lớn:
- Phần thứ nhất nhằm tìm hiểu các vấn đề đại cương về kim loại như : vị trí của
các kim loại trong bảng tuần hoàn, tính chất vật lí và hoá học chung của kim
loại, hợp kim, sự ăn mòn kim loại và điều chế kim loại.
- Phần thứ hai đi sâu tìm hiểu một số nhóm kim loại cụ thể quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân. Các nhóm kim loại được nghiên cứu bao gồm : Các kim
loại thuộc nhóm A của bảng tuần hoàn như kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ,
nhôm và một số kim loại thuộc nhóm B của bảng tuần hoàn như : sắt, crom,
đồng, niken, kẽm, chì, thiếc. Như vậy nội dung của phần thứ nhất rất quan trọng,
nó là cơ sở lí thuyết cùng với lí thuyết chủ đạo của chương trình để tìm hiểu các
kim loại cụ thể ở phần thứ hai.
3.2. Phân tích những sai lầm thường gặp của HS khi giải một số dạng bài
tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT
Dạng 1. HS bỏ qua vai trò môi trường trong bài toán về tính oxi hoá của
muối nitrat trong dung dịch
Như chúng ta đã biết : ion NO3- không thể hiện tính oxi hoá trong môi
trường trung tính nhưng lại thể hiện trong môi trường axit hoặc môi trường
kiềm. Với một số bài toán về muối nitrat, thông thường trong quá trình phản
ứng có sinh thêm ion H+ hoặc ion OH- lúc này bản chất môi trường đã thay đổi,
tuy nhiên trong quá trình làm bài HS lại thường không chú ý tới yếu tố gây ra sự
thay đổi đó, nên có những phân tích sai lầm.
Ví dụ 1 : Điện phân 100 ml dung dịch Cu(NO 3)2 1M với điện cực trơ đến khi bắt
đầu có khí thoát ra ở catot thì dừng lại. Để yên cho đến khi khối lượng của catot
không đổi thì khối lượng catot thay đổi như thế nào so với trước lúc điện phân ?
A. 1,6 gam
B. 6,4 gam
C. 3,2 gam
Cu
0,1
0,1
Vậy khối lượng catot tăng lên : 0,1.64 = 6,4 gam. Chọn đáp án B.
Ví dụ 2 : Hoà tan hỗn hợp gồm 24,3 gam bột Al và 15,525 gam Na vào 225 ml
dung dịch NaNO3 1M, khuấy đều và đun nóng cho đến khi khí ngừng thoát ra
thì dừng lại. Thể tích khí thoát ra (đktc) là (Giả sử lượng khí tạo thành đều thoát
ra khỏi dung dịch)
A. 30,24 lít.
B. 22,68 lít.
C. 12,60 lít.
D. 7,56 lít.
* Phân tích
- Ban đầu Na phản ứng với nước có trong dung dịch NaNO3 theo phản ứng :
2Na + 2H2O → 2NaOH + H2↑
(1)
0,675
0,675
0,3375
- Lúc này ion OH vừa sinh ra cùng với ion NO3- có trong dung dịch sẽ hoà tan
Al theo phản ứng :
8Al + 3NO 3− + 5OH- + 2H2O → 8AlO −2 + 3NH3↑ (2)
Ban đầu: 0,9
0,225
0,675
0
0
Phản ứng: 0,6
0,225
0,375
Vậy thể tích khí thoát ra: V = (0,3375 + 1,0125).22,4 = 30,24 lít. Chọn đáp án A
8
Dạng 2. Sai lầm ở các bài toán liên quan đến vị trí của các cặp oxi hoá - khử
Các phản ứng hoá học xảy ra theo đúng “quy tắc α ” trong dãy điện hoá
của kim loại nhưng lại “không tuân theo” những quy luật đã được thấm nhuần
trong tâm trí của đại đa số HS. Vì vậy, trong quá trình giải các bài tập, vị trí
của một số cặp oxi hoá khử đặc biệt không được HS chú ý nên bỏ qua một số
quá trình oxi hoá khử dẫn đến các suy luận sai và có kết quả sai. Các phản ứng
xảy ra “không tuân theo” quy luật đã được thấm nhuần trong tâm trí của HS
thường được tạo nên bởi một số cặp oxi hoá - khử sau :
3+
0
Ag +
Fe
E 0Fe3+ /Fe2+ = +0,77 von ; E Ag + /Ag = +0,799 von)
Cặp
(
2+ và cặp
Ag
Fe
- Với vị trí 2 cặp này trong dãy điện hoá thì có phản ứng hoá học :
Fe2+ + Ag+ → Fe3+ + Ag
- Với phản ứng này ta thấy: muối + muối → muối mới + kim loại, trái với quy
luật mà HS đã được ghi nhớ từ các bậc học dưới : Muối + muối → 2 muối mới.
- Ngoài ra còn có các phản ứng mà HS thường bỏ qua :
2Fe3+ + Cu → 2Fe2+ + Cu2+
2Fe3+ + Fe → 3Fe3+
= 0,15
Bảo toàn NT (N) tính được số mol Fe(NO3)3 =
3
3
Vậy : 0,25m/56 = 0,15 ⇒ m = 33,6 gam. Chọn đáp án C.
9
Ví dụ 2 : (Trích đề TSĐH khối B - 2013) Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp gồm 2,8
gam Fe và 1,6 gam Cu trong 500 ml dung dịch HNO 3 0,1M và HCl 0,4M, thu
được khí NO (khí duy nhất) và dung dịch X. Cho X vào dung dịch AgNO 3 dư,
thu được m gam chất rắn. Biết các phản ứng đều xảy ra hoàn toàn, NO là sản
phẩm khử duy nhất của N+5 trong các phản ứng. Giá trị của m là
A. 29,24.
B. 30,05.
C. 28,70.
D. 34,10.
* Phân tích
- Số mol Fe là 0,05 mol, của Cu là 0,025 mol, của H + là 0,25 mol, của Cl- 0,2
mol.
- Khi cho dung dịch X vào dung dịch AgNO3 dư, lúc này ta coi như NO3- dư. Số
mol electron nhận được tính theo phản ứng :
NO3- + 4H+ + 3e → NO + 2H2O
0,25 → 0,1875
- Giả sử toàn bộ Fe → Fe3+ và Cu → Cu2+ khi đó tổng số mol electron nhường
là: 0,05.3 + 0,025.2 = 0,2 > 0,1875 (loại). Vậy trong dung dịch X chứa : Cu 2+
(0,025) ; Fe2+ (x) và Fe3+ (0,05 – x). Khi đó tổng số mol electron nhường là :
0,025.2 + 2.x + 3.(0,05 – x) = 0,1875 ⇒ x = 0,0125 mol.
Vậy khối lượng chất rắn được tính toán theo 2 phản ứng dưới đây :
10
⇒ %mNaF = (2,52/6,03).100% = 41,8%. Chọn đáp án C.
- Trường hợp 2 : Cả hai muối AgX và AgY đều không tan trong nước, đặt công
thức chung của hai muối là AgX .
8,61− 6,03
6,03
= 0,0303 mol ⇒ M X =
− 23 = 176,01
⇒ n Na X = n Ag X =
108 − 23
0,0303
Với M X = 176,01 ta không tìm được hai nguyên tố X, Y (loại)
* Sai lầm mắc phải
Do HS không nắm được tính tan trong nước của các muối bạc halogenua
nên xét luôn trường hợp cả hai muối đều không tan giống như phân tích trường
hợp 2 ở trên, dẫn đến không tìm được hai nguyên tố X, Y và cho rằng đề sai.
Dạng 4. Sai lầm trong các bài toán liên quan đến phản ứng của nước (trong
dung dịch) với các kim loại hoạt động mạnh
Với dạng bài toán cho hỗn hợp gồm các kim loại tác dụng với nước ở
nhiệt độ thường và chất tan được trong môi trường kiềm thì học sinh lại thường
không chú ý tới môi trường kiềm được tạo ra bởi các kim loại phản ứng với H 2O
sẽ tham gia vào quá trình hoà tan chất đó.
Trong SGK hoá học 12 có đưa ra phản ứng :
2Al + 6H2O → 2Al(OH)3 ↓ + 3H2 ↑
Nhưng HS thường không chú ý đến vấn đề : Al không tác dụng với H 2O vì
trên bề mặt của Al được phủ kín bởi một lớp Al 2O3 rất mỏng, bền và mịn không
cho khí và nước thấm qua, nhưng Al tác dụng được với dung dịch kiềm vì kiềm
2Na + 2H2O → 2NaOH + H2↑
0,2
0,1
⇒ m = 23.0,2 + 2,35 = 6,95 gam. Chọn đáp án D.
Ví dụ 2: Hoà tan hỗn hợp A gồm 13,7 gam Ba và 8,1 gam Al vào một lượng
nước dư. Thể tích khí thoát ra ở (đktc) là
A. 8,96 lít.
B. 2,24 lít.
C. 12,32 lít.
D. 4,48 lít.
* Phân tích
Kim loại Ba tan trong H 2O tạo ra môi trường kiềm, lúc đó Al sẽ tan trong
môi trường kiềm.
Các phương trình hoá học của phản ứng:
Ba + 2H2O → Ba(OH)2 + H2↑
(1)
0,1
0,1
0,1
2Al + 2OH + 2H2O → 2AlO2- + 3H2↑
(2)
0,2
0,2
0,3
⇒ Khí thoát ra có thể tích: V = (0,1 + 0,3).22,4 = 8,96 lít. Chọn đáp án A.
* Sai lầm mắc phải
Sai lầm 1: Cho rằng sự hoà tan chỉ xảy ra với Ba, bỏ qua quá trình Al hoà tan
trong dung dịch kiềm mới tạo ra.
Ba + 2H2O → Ba(OH)2 + H2↑
0,1
Đặt x và y lần lượt là số mol của Al và Sn trong 14,6 gam hỗn hợp.
Các phương trình hoá học của phản ứng :
2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2 ↑
x
1,5x
Sn + 2HCl → SnCl2 + H2 ↑
y
y
4Al + 3O2 → 2Al2O3
x
3x/4
Sn + O2 → SnO2
y
y
27x +119y = 14,6
⇒ x = y = 0,1 mol
Ta có:
1,5x
+
y
=
0,25
3
⇒ VO = ( x + y).22,4 = 3,92 lít. Chọn đáp án D.
2
4
* Sai lầm mắc phải
Với bài toán dạng này, HS khá, giỏi thường hay sử dụng phương pháp bảo
N + 8e → N (NH4NO3)
8x ← x
13
Ta có : 0,18 = 0,12 + 8x ⇒ x = 0,0075 mol
⇒ mmuối = m Mg( NO3 )2 + m NH 4 NO3 = 0,09.148 + 0,0075.80 = 13,92 gam.
Chọn đáp án A.
* Sai lầm mắc phải
Học sinh cho rằng chỉ có khí NO là sản phẩm khử nên bỏ qua sản phẩm
khử NH4NO3.
⇒ mmuối = m Mg( NO3 )2 = 0,09.148 = 13,32 gam. Chọn đáp án C.
Ví dụ 2 : (Trích đề TSĐH khối B - 2014) Cho 3,48 gam bột Mg tan hết trong
dung dịch hỗn hợp gồm HCl (dư) và KNO 3, thu được dung dịch X chứa m gam
muối và 0,56 lít (đktc) hỗn hợp khí Y gồm N 2 và H2. Khí Y có tỉ khối so với H 2
bằng 11,4. Giá trị của m là
A. 16,085.
B. 14,485.
C. 18,300.
D. 18,035.
* Phân tích
Ta tính được số mol N2 = 0,02; số mol H2 = 0,005.
3,48
Ta thấy số mol electron nhường của Mg là 2.
= 0,29 mol ; còn số mol
24
+5
electron nhận của N là 10.0,02 = 0,2 và số mol electron nhận của H + là 2.0,005
= 0,01 ⇒ (0,2 + 0,01) < 0,29 ⇒ phải có muối NH4+.
⇒ mkết tủa = 0,05.127.2 = 12,7 gam. Chọn đáp án C.
* Sai lầm mắc phải
Khi giải bài tập này HS thường cho rằng : phản ứng hoá học giữa FeCl3 và
KI là phản ứng trao đổi ion và muối tạo thành là FeI 3 và KCl. Trong bảng tính
tan cho biết muối FeI3 là không tồn tại nên HS cho rằng có sự thuỷ phân của FeI 3
và HS thực hiện cách giải như sau :
FeCl3 + 3KI → FeI3 + 3KCl
(1)
0,1
0,3
0,1
FeI3 + 3H2O → Fe(OH)3↓ + 3HI
(2)
0,1 →
0,1
⇒ mkết tủa = 0,1.107 = 10,7 gam. Chọn đáp án B.
Ví dụ 2 : Cho 300 ml dung dịch Na2S 1M vào 200 ml dung dịch FeCl3 1M. Khối
lượng kết tủa thu được sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn là
A. 20,8 gam.
B. 10,4 gam.
C. 21,4 gam.
D. 10,7 gam.
* Phân tích
FeCl3 chứa Fe3+ có tính oxi hoá, Na2S chứa S2- có tính khử
⇒ Phản ứng hoá học giữa FeCl3 và Na2S là phản ứng oxi hoá khử
2FeCl3 + 3Na2S → 2FeS↓ + S↓ + 6NaCl
0,2
0,3
0,2
D. 0,040.
15
* Phân tích
Phương trình hoá học của phản ứng:
CO2 + Ba(OH)2 → BaCO3↓ + H2O
(1)
0,08 0,08
← 0,08
2CO2 + Ba(OH)2 → Ba(HCO3)2
(2)
2x
x
x
Ta có: n CO2 = 0,12 = 0,08 + 2x ⇒ x = 0,02 mol.
Vậy tổng số mol Ba(OH)2 = 0,1 mol ⇒ a = 0,1/2,5 = 0,04M. Chọn đáp án D.
* Sai lầm mắc phải
Sai lầm 1: Do HS không quan tâm tới lượng CO2, mà suy ra số mol của Ba(OH)2
trong 2,5 lít dung dịch theo lượng kết tủa từ phản ứng (1).
CO2 + Ba(OH)2 → BaCO3↓ + H2O
0,08
0,08
← 0,08
⇒ a = 0,08/2,5 = 0,032M. Chọn đáp án A.
Sai lầm 2: Do HS không quan tâm lượng kết tủa, mà suy ra số mol Ba(OH) 2
trong dung dịch từ số mol CO2 tham gia phản ứng (theo đề bài) từ phản ứng (1).
CO2 + Ba(OH)2 → BaCO3↓ + H2O.
0,12
16
⇒ n CO2 = 0,01 mol. Chọn đáp án B.
* Sai lầm mắc phải
Sai lầm 1 : Do không chú ý đến cụm từ “nhỏ từ từ từng giọt” nên HS thường
cho rằng CO32- phản ứng với H+ sẽ trực tiếp tạo ra CO2 và thực hiện cách giải:
2H+ + CO32- → CO2↑ + H2O
(1)
0,03
→
0,015
+
Vì lượng H hết nên HCO3 chưa phản ứng với H+
⇒ n CO2 = 0,015 mol. Chọn đáp án D.
Sai lầm 2 : Đối với bài này nếu HS không nắm được kiến thức : tính bazơ của
CO32- mạnh hơn HCO3- thì dễ mắc sai lầm cho rằng HCO 3- sẽ nhận H+ trước vì
vậy mà dẫn đến giải sai như sau :
Thứ tự phương trình hoá học của phản ứng xảy ra :
H+ + HCO3- → CO2↑ + H2O
(1)
0,02 ← 0,02 → 0,02
H+ + CO32- → HCO3(2)
0,01 → 0,01
⇒ n CO2 = 0,02 mol. Chọn đáp án C.
Ví dụ 2: Cho rất từ từ từng giọt dung dịch chứa 0,15 mol Na 2CO3 và 0,1mol
NaHCO3 vào 100 ml dung dịch HCl 2M. Thể tích khí CO 2 thoát ra (ở đktc) là
A. 3,36 lít.
B. 2,24 lít.
0,1
17
⇒ HCl dư (0,1 mol) nên có phản ứng tiếp theo :
Na2CO3 + 2HCl → NaCl + CO2↑ + H2O
0,15
0,1
0,05
⇒ n CO2 = 0,15 mol ⇒ VCO2 = 0,15.22,4 = 3,36 lít. Chọn đáp án A.
Dạng 10. Bài toán liên quan đến phản ứng phân hủy muối chứa gốc HCO 3khi đun nóng dung dịch có chứa các ion HCO3-, Ca2+, Ba2+
Các muối chứa gốc HCO3- dễ bị phân hủy khi đun sôi dung dịch của
2t0
chúng theo phản ứng : 2HCO3-
→ CO3 + CO2↑ + H2O.
Sau đó sẽ có phản ứng tạo kết tủa với Ca2+ hoặc Ba2+ : M2+ + CO32- → MCO3↓.
Ví dụ 1 : (Trích đề TSĐH khối A - 2010) Cho m gam NaOH vào 2 lít dung dịch
NaHCO3 nồng độ a mol/l, thu được 2 lít dung dịch X. Lấy 1 lít dung dịch X tác
dụng với dung dịch BaCl2 (dư) thu được 11,82 gam kết tủa. Mặt khác, cho 1 lít
dung dịch X vào dung dịch CaCl2 (dư) rồi đun nóng, sau khi kết thúc các phản
ứng thu được 7,0 gam kết tủa. Giá trị của a, m tương ứng là
A. 0,04 và 4,8.
B. 0,07 và 3,2.
C. 0,08 và 4,8.
D. 0,14 và 2,4.
* Phân tích
Khi cho NaOH tác dụng với NaHCO3 thu được dung dịch X chứa : CO32-, OH(có thể dư) và HCO3- (có thể dư)
- Cho 1 lít dung dịch X tác dụng với dung dịch BaCl2 dư :
Ba2+ (dư) + CO32- → BaCO3↓, vậy số mol CO32- = 11,82/197 = 0,06 mol.
khi đó số mol Cl- trong 1/2 dung dịch X là 0,05 mol.
- Cho 1/2 dung dịch X tác dụng với dung dịch Ca(OH)2 dư :
HCO3- + OH- (dư) → CO32- + H2O
z
z
2+
2Ca (dư) + CO3 → CaCO3↓
z
z
Ta có : z = 3/100 = 0,03 mol.
- Cho 1/2 dung dịch X tác dụng với dung dịch NaOH dư :
HCO3- + OH- (dư) → CO32- + H2O
0,03
0,03
2+
2Ca + CO3 → CaCO3↓
0,02
←
0,02
Vậy x = 0,02 mol. BTĐT trong 1/2 dung dịch X ta tính được y = 0,04 mol.
- Khi cô cạn dung dịch có phản ứng phân hủy :
2t0
2HCO3-
→ CO3 + CO2↑ + H2O
0,03
0,015
Vậy m = 2(40.0,02 + 23.0,04 + 60.0,015 + 35,5.0,05) = 8,79 gam.
Chọn đáp án C.
* Sai lầm mắc phải
2t0
C. Cu
D. Mg
Phân tích : Ví dụ này chỉ yêu cầu HS nhớ được kim loại Al có thể tác dụng
được với dung dịch NaOH.
* Mức độ thông hiểu
Ví dụ : Cho các kim loại sau Cu, Fe, Zn, Mg, Ni lần lượt tác dụng với dung dịch
FeCl3. Có bao nhiêu kim loại tác dụng được với dung dịch FeCl3 ?
A. 3
B. 2
C. 4
D. 5
Phân tích : HS phải biết được thứ tự các cặp oxi hóa - khử, từ đó xác định được
có cả 5 kim loại đều phản ứng được với dung dịch FeCl3.
* Mức độ vận dụng
Ví dụ : X là kim loại phản ứng được với dd H2SO4 loãng, Y là kim loại tác dụng
được với dd Fe(NO3)3. Hai kim loại X, Y lần lượt là
A. Fe, Cu.
B. Cu, Fe.
C. Ag, Mg.
D. Mg, Ag.
Phân tích : HS phải nắm trắc thứ tự các cặp oxi hóa - khử, từ đó xác định kim
X loại phản ứng được với dung dịch H 2SO4 loãng là Fe hoặc Mg; kim loại tác
dụng được với dung dịch Fe(NO3)3 đó là những kim loại M ≥ Cu (M là những
kim loại không tác dụng với nước ở điều kiện thường), từ đó xác định được kim
loại Y là Cu
* Mức độ vận dụng cao
Ví dụ : Cho bột Fe vào dung dịch hỗn hợp NaNO 3 và H2SO4 loãng, sau phản
ứng hoàn toàn thu được dung dịch A, hỗn hợp khí X gồm NO và H 2 (không còn
sản phẩm khử khác) và chất rắn không tan. Dung dịch A có chứa :
A. FeSO4, Na2SO4.
- Về mặt định tính :
Khi tôi áp dụng đề tài này vào các lớp, HS học sôi nổi, hứng thú tham gia
vào các hoạt động học tập và nắm vững kiến thức hơn, vận dụng vào giải quyết
vấn đề nhanh hơn, tránh được những sai lầm không đáng có.
Khi dạy học có phân tích sửa chữa và sử dụng các biện pháp khắc phục
những sai lầm có tác dụng giúp HS tránh mắc phải “bẩy” mà đề bài thường ra.
- Về mặt định lượng :
Kết quả điều tra trên các lớp 12A 2, 12A4, 12A5 ở trường THPT 4 Thọ
Xuân năm học 2015 - 2016 như sau :
TT Lớp
Sĩ
số
1
2
3
42
38
42
12A2
12A4
12A5
Khi chưa thực
hiện đề tài
Không
Hiểu
Điều này phản ánh được tính cấp thiết cho đề tài mà tôi lựa chọn, xây dựng.
21
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đề tài “Phân tích và khắc phục những sai lầm thường gặp của HS khi giải
một số dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT” đã :
- Tổng quan được cơ sở lý luận về sai lầm, sai lầm thường gặp của HS khi
giải một số dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
- Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học, sử dụng bài tập hóa học ở trường
THPT.
- Đã phân tích được những sai lầm thường gặp của HS khi giải một số
dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
- Đã đề xuất được 2 biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp của
HS khi giải một số dạng bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 - THPT.
- Kết quả của việc triển khai đề tài cho thấy tính khả thi của đề tài, là tài
liệu tham khảo tốt cho HS ở trường THPT.
2. Kiến nghị
Đề tài khá rộng và tương đối khó, vì vậy cần nhiều thời gian, công sức để
nghiên cứu bổ sung và phát triển thêm. Sau đây tôi xin đề xuất một số hướng
phát triển của đề tài :
- Nghiên cứu đầy đủ và quy mô hơn về hệ thống các sai lầm của sai lầm
của HS trong môn hóa học.
- Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các biện pháp khắc phục những sai lầm
của HS trong quá trình giải bài tập hóa học một cách chi tiết, cụ thể, sâu sắc hơn.
Đề tài này theo tôi là hết sức quan trọng và cấp thiết, vì nó xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn của việc dạy và học. Vì vậy tôi cho rằng nên có nhiều các đề
tài nghiên cứu theo hướng này. Những đề tài nghiên cứu có tính giá trị nên được
8. Các đề thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của Bộ GD&ĐT từ năm 2007 đến
nay.
9. Các đề thi tốt nghiệp THPT của Bộ GD&ĐT.
10. Các đề thi học sinh giỏi của tỉnh Thanh Hóa trong các năm trước.
11. Các tạp chí Hóa học và ứng dụng của hội hóa học Việt Nam.
12. SGK, SBT lớp 10, 11, 12. Nxb Giáo dục.
MỘT SỐ KÍ HIỆU DÙNG TRONG ĐỀ TÀI
PPDH
TNKQ
THPT
PTHH
TSĐH
BTNT
BTĐT
SGK
SBT
Nxb
HS
GV
Phương pháp dạy học
Trắc nghiệm khách quan
Trung học phổ thông
Phương trình hóa học
Tuyển sinh Đại học
Bảo toàn nguyên tố
Bảo toàn điện tích
Sách giáo khoa
Sách bài tập
Nhà xuất bản