Một số giải pháp nâng cao hứng thú học môn tin học 11 tại trường THPT đinh chương dương - Pdf 44

MỤC LỤC
I.

MỞ ĐẦU

2

1.

Lí do chọn đề tài ..............................................................................

2

2.

Mục đích nghiên cứu ......................................................................

3

3.

Đối tượng nghiên cứu ......................................................................

3

4.

Phương pháp nghiên cứu ...............................................................

3


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .........................................................

17

1.

Kết luận .........................................................................................

17

2.

Kiến nghị ............................................................................................

17

Tài liệu tham khảo ...........................................................................

19

1


ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TIN
HỌC 11 TẠI TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG”
I.

MỞ ĐẦU:


2. Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra những giải pháp thiết thực nhất tác động đến sự hứng thú học tập tin
học của các em lớp 11.
3.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp tạo hứng thú học tập tin học 11 cho học sinh
lớp 11C1 trường THPT Đinh Chương Dương
Phạm vi nghiên cứu: 40 học sinh thuộc lớp 11C1 trường THPT Đinh Chương
Dương.
Từ đó các đồng nghiệp có thể áp dụng cho học sinh khối 11 trường THPT
Đinh Chương Dương và làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Trực tiếp dạy thực nghiệm trên lớp, khảo sát lớp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, sách báo, …
- Kiểm tra trước và sau khi tác động
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
1.1 Khái quát chương trình Tin học 11:
+ Tầm quan trọng của Tin học 11: xin trích dẫn lời của Dennis Ritchie tác giả
ngôn ngữ C: “Pascal là ngôn ngữ thanh lịch. Nó vẫn tiếp tục tồn tại. Nó đã khởi
nguồn cho không ít ngôn ngữ đàn em và có ảnh hưởng sâu sắc đến việc thiết kế
các ngôn ngữ lập trình nói chung” – Trích SGK Tin 11. Vì vậy nó sẽ rất hữu ích
cho việc học lập trình ở cấp cao hơn. Và một điểm mà ở thời điểm hiện tại bất
kỳ giáo viên giảng dạy tin học 11 luôn luôn khắc sâu trong đầu đó là nội dung
kiến thức thi chọn Học sinh giỏi cấp Tỉnh và cấp Quốc gia.
+ Trên thực tế nội dung chương trình Sách giáo khoa tin học 11 không có quá
nhiều kiến thức như các môn khác. Trong phân phối chương trình có tổng 52 tiết
cả năm trong đó có 31 tiết là các tiết bài tập thực hành, ôn tập và kiểm tra, nội

Việc giáo viên nhận thức càng sâu sắc điều kiện tạo hứng thú cho học sinh
học tin càng có nhiều giải pháp phù hợp.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Theo tôi muốn tác động đến các em phải hiểu được các em, vì vậy ngay từ
đầu năm học, bằng nhiều hình thức khác nhau tôi cố hiểu về các em xem các em
đang nghĩ gì, đang làm gì và cần cái gì:
4


- Một số đặc điểm lớp 11C1: Lớp có đầu vào cao của cả khối nhưng chỉ có
một số học sinh là học tốt (lí do là trường bán công chuyển đổi nên việc thu hút
học sinh mũi nhọn là tương đối khó khăn), đa số các em học theo các môn tự
nhiên, lớp có 17 nam, 23 nữ. Trong lớp sự chênh lệch trong học lực của các em
rất rõ ràng, mặc dù lớp đầu của khối nhưng lớp 10 vẫn có học sinh phải thi lại và
rèn luyện trong hè, giáo viên chủ nhiệm lớp có nhiều kinh nghiệm trong công
tác chủ nhiệm.
- Thông qua các khảo sát đầu năm: Tôi đưa ra một số câu hỏi để các em tích
vào như hình thức trắc nghiệm:
+ Để điều tra thái độ của các em với bộ môn tin học 11 tôi đưa ra câu hỏi “
Em có thích học tin học không?” thu được 40 câu trả lời:
Mức độ

Số HS
điều tra

Rất
thích

Thích


em” thu được kết quả như sau:

Mức độ

Số học
sinh
điều tra

Rất quan
trọng

Quan
trọng

Bình
thường

Không
quan trọng

Số lượng

40

24

5

6


1. “Mục đích học tin học của em là gì?”, tôi thu được kết quả:

Mức độ

Số học sinh Vì sự đam
khảo sát


Để tiếp thu
kiến thức

Vì tương lai

Vì lí do
khác

Số lượng

40

4

8

15

13

Phần trăm


20

7

13

0

Phần trăm

100 %

50

17,5

32,5

0

Nhận xét
Qua đó chứng tỏ số các em nhận thức được mục đích học tập chủ yếu của
học sinh THPT hiện nay là để chuẩn bị cho tương lai nhưng chưa nhiều. Phương
pháp giảng dạy của giáo viên tốt nhưng chỉ nằm ở nửa học sinh còn một bộ phận
không nhỏ vẫn chưa lôi cuốn các em vào hoạt động học được.
Như vậy tôi kết luận nguyên nhân của việc học sinh không có hứng thú học:
- Nhiều em thích học nhưng xuất phát từ tâm lý coi môn tin học là môn phụ,
không là môn thi chính thức trong kỳ thi THPT Quốc gia nên học sinh không
chú ý học
- Chưa định hướng được tương lai do nhiều sinh viên học xong mà không có

là ngôn ngữ thanh lịch .Nó vẫn tiếp tục tồn tại. Nó đã khởi
nguồn cho
không ít ngôn ngữ đàn em và có ảnh hưởng sâu sắc đến việc thiết
kế các ngôn ngữ lập trình nói chung” – (Trích SGK Tin 11)
Yêu cầu: Em hãy chuẩn hóa văn bản như trong yêu cầu soạn thảo một văn bản
đúng quy định đã học trong bài 16 SGK Tin học 10.
Ví dụ 4: Em hãy tìm hiểu hoạt động của một thư viện (thư viện trường). Xây
dựng phần mềm quản lý thư viện cho nhà trường.
Giáo viên phân tích một số ý để các em hình dung yêu cầu bài toán để thấy
được ý nghĩa của cần phải viết phần mềm. Không phân tích theo hướng sử dụng
một Cơ sở dữ liệu thông qua các bảng để lưu trữ thông tin của lớp 12.

7


Ví dụ 5: Phần mềm Unikey gõ tiếng Việt, Phần mềm tra từ điển tiếng anh Lạc
Việt, phần mềm diệt Virut Bkav, ...
Bằng một số ví dụ có thể đi đến kết luận rằng “Tin học nói chung và lập trình
nói riêng có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống hiện đại”. Có rất nhiều em
thích và đam mê nghành công nghệ, nếu làm tốt điều này ta sẽ nuôi được sự đam
mê cho các em để các em có thể có điều kiện để tiếp tục phát triển.
3.2 Giải pháp 2:
Dạy học dựa trên sự phân loại học sinh nhằm làm cho mọi học sinh luôn
trong trạng thái phải làm việc theo đúng năng lực của các em.
Theo tôi đây cũng là một cái vô cùng quan trọng đối với giáo viên bởi chúng
ta cần phải hiểu năng lực học sinh để dạy chứ không “cào bằng” tất cả đi để dạy
vì mỗi em có một trình độ khác nhau, khả năng tiếp thu kiến thức là khác nhau.
Do đặc thù tuyển sinh ở trường Đinh Chương Dương là trường bán công
chuyển sang, có cơ sở vật chất được đánh giá là một trong những trường phổ
thông kém nhất tỉnh nên việc thu hút học sinh là rất khó khó khăn đặc biệt là

+ Với học sinh trung bình khá: Đây là số học sinh chủ yếu của lớp nên bài
giảng tập trung vào đối tượng này, yêu cầu các em nắm chắc kiến thức cơ bản,
học đến đâu chắc đến đó, sau đó đưa ra các bài tập củng cố kiến thức đó. Khích
lệ các em tiếp cận và nghiên cứu các bài tập ở trong sách Bài tập tin học 11.
Ví dụ: Cũng trong bài tập và thực hành 5, bài 1 có yêu cầu “Kiểm tra xâu có
phải là xâu đối xứng không. Xâu đối xứng có tính chất: đọc nó từ phải sang trái
cũng thu được kết quả giống như đọc từ trái qua phải”
- Thuận lợi: kiến thức về đối xứng đã có trong toán học: cơ bản các em đã
nắm được
- Xâu đối xứng là gì?
- Cần tạo xâu đảo ngược P (xâu đọc từ phải sang) để so sánh với xâu ban đầu
và đi đến kết luận.
- Viết lại chương trình trên trong đó không dùng biến xâu P.
+ Với các học sinh học lực yếu: Trong các giờ lý thuyết tranh thủ nhắc nhở
thêm cho các em, chỉ ra một số điểm cần lưu ý trong bài giảng để các em ghi
nhớ. Trong giờ bài tập cũng bài tập đó nhưng giảm mức độ yêu cầu cho một số
em này, tuyệt đối không để các em chán nản hay học mà không hiểu gì. Kiên trì,
nhẫn nại với các em, tìm ra cái các em biết, hiểu, làm được để khích lệ, biểu
dương dù là nhỏ.
9


Ví dụ: Tiết 21 bài tập phần mảng một chiều yêu cầu làm bài tập sau theo các
mức độ tăng:
Cho dãy a1,a2,… ,aN số tự nhiên ( 0< N
bằng ngôn ngữ lập trình cho các thuật toán đã biết và được nghiên cứu trong bài
4 – SGK Tin học 10. Vì vậy từ trước khi các em viết chương trình giáo viên cần
cho các em viết lại các thuật toán này như các bài tập ở nhà trước đó:
1. Thuật toán giải phương trình bậc nhất, bậc hai
2. Tính tổng các số trong một dãy số
3. Thuật toán tìm số lớn nhất của dãy số nguyên
4. Thuật toán kiểm tra tính nguyên tố của một số nguyên dương
5. Thuật toán sắp xếp bằng tráo đổi
6. Thuật toán tìm kiếm tuần tự
Làm thế nào để các em hiểu thuật toán thì cần minh họa bằng các ví dụ rất cụ
thể và dần dần từng bước một, cần cái gì thì đi tìm, tính toán cái đó dựa vào sự
khéo léo trong phương pháp truyền đạt của giáo viên ở từng bài toán.
Khi hiểu được thuật toán thì cần kỹ năng diễn đạt thuật toán bằng ngôn ngữ
lập trình. Nên chú ý các tránh một số lỗi thường gặp khi soạn thảo chương trình
trên máy ngay từ những chương trình đầu tiên.
Trong quá trình các em xây dựng thuật toán cần lưu ý với các em 2 điểm đối
với những học sinh học lực giỏi và khá của lớp 11C1:
Một là: với mỗi bài toán cần xác định đúng yêu cầu của bài toán (input và
ouput), chú ý đến giới hạn của dữ liệu vào (ví dụ N là integer hay word, longint
thậm chí vượt qua cả dữ liệu longint) để khai báo dữ liệu, lựa chọn thuật toán tối
ưu.
Hai là: Với mỗi bài toán khi tiếp cận có thể đưa về các bài toán quen thuộc đã
gặp gọi là “quy lạ về quen” hoặc chia nhỏ bài toán thành các bài toán nhỏ hơn
để giải quyết gọi là “chia để trị”.
3.4 Giải pháp 4: Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy
Đây là vấn đề thường xuyên của giáo viên nếu muốn duy trì hứng thú của các
em đối với bài giảng. Bởi nó thường xuyên nên theo tôi đánh giá nó là “khó”,
vậy nên tôi có một số kinh nghiệm và muốn đề xuất như sau:
11


cục, biến cục bộ) và 4 loại tham số (tham số hình thức, tham số thực sự, tham trị
12


và tham biến). Vậy để phân biệt nó lấy ví dụ một chương trình chứa cả 2 loại
biến và 4 loại tham số này đề chỉ ra nó giúp các em thấy được sự khác nhau giữa
chúng.
+ Truyền tham số trong chương trình con: phần này chỉ nói không thì các em
sẽ mơ hồ, vậy nên khai thác tốt chương trình Hoan_doi trong SGK trang 99, 100
làm ví dụ và hướng dẫn ngay trên máy chiếu để các em thấy được sự thay đổi
giá trị của giá trị a,b khi in ra khi thay đổi hai biến x, y là các tham số biến hay
tham số trị.
Ví dụ 2: Khi học sinh mới tiếp cận với cấu trúc câu lệnh thì luôn nhắc nhở các
em cấu trúc câu lệnh như một công thức toán lý hóa, vì vậy phải đảm bảo đúng
không thừa cũng không thiếu dù chỉ là dấu câu.
Ví dụ 3: Khi học sinh bắt đầu viết chương trình yêu cầu các em viết các câu
lệnh con thụt vào vài kí tự (1 tab) để dễ quản lí chương trình.
- Không tham kiến thức: trước khi soạn giáo án xem lại chuẩn kiến thức kỹ
năng và kiến thức giảm tải, luôn đảm bảo kiến thức “vừa sức” với học sinh. Với
tổng số 26 tiết bài tập và thực hành, ôn tập (chiếm 50% tổng số tiết) nên căn cứ
vào khả năng tiếp thu của học sinh để ôn tập tránh trường hợp thầy nói thầy
nghe hoặc trong lớp có vài học sinh hiểu.
- Kết hợp trong giảng dạy là các bài học về giáo dục: điều này không bắt
buộc nhưng trong giảng dạy công nghệ thông tin nên kết hợp giáo dục sử
dụng công nghệ thông tin trong cuộc sống sao cho có văn hóa và đúng quy
định của pháp luật. Đồng thời có thể nêu gương một số học sinh xuất sắc
của trường như anh Lê Văn Minh đạt giải ba môn Tin học cấp tỉnh lớp
11C1 năm học 2012-2013 hiện nay học trường Lục quân, anh Hoàng Ngọc
Dũng giải ba Quốc gia môn Vật lý lớp 12C1 năm học 2013-2014 đang học
Bách khoa,... Một số người Việt nam thành đạt trong nghành công nghệ

- Hệ thống câu hỏi bài tập chính xác, khoa học, có phân loại học sinh.
- Với kiểm tra viết (tự luận hoặc tự luận kết hợp trắc nghiệm): trong khi chấm
phải sửa bài, có lời phê. Lời phê của giáo viên hết sức quan trọng bởi đó là tâm
tư, niềm tin, sự hy vọng của giáo viên, đó cũng là sự ghi nhận tiến bộ, khả năng
tiếp thu kiến thức của các em nhưng đồng thời phải chỉ ra được cái thiếu, sai hay
hạn chế của các em để các em khắc phục
- Với các hình thức kiểm tra miệng: Không hỏi dồn học sinh, hỏi rõ ràng ý.
Nếu học sinh trả lời tốt nên hỏi thêm câu hỏi bổ sung để tăng điểm cho học sinh,
14


nếu học sinh không trả lời tốt nên hạ thấp yêu cầu. Trường hợp các em không
thuộc bài nếu có thời gian nên cho các em cơ hội lần sau để các em tiếp tục cố
gắng đồng thời cương quyết với những em cố tình chây lỳ, không học bài, ý
thức học trên lớp kém.
- Với hình thức kiểm tra để các em đánh giá lẫn nhau hoặc tự đánh giá sẽ mất
khá nhiều thời gian nên thường chúng ta ít quan tâm nhưng trong một số thời
điểm, một số trường hợp cũng cho kết quả khá khả quan. Nhưng lưu ý giáo viên
cần chọn học sinh biết để tự đánh giá và biết đánh giá bạn khác, không được để
các em đánh giá nhận xét tràn lan, không đảm bảo yêu cầu của kiểm tra đánh
giá.
3.6 Giải pháp 6:
Thường xuyên củng cố và phát triển hứng thú của học sinh trong các giờ học
Việc gây hứng thú cho học sinh trong giờ học không chỉ một lần mà phải rèn
luyện thường xuyên từ phút đầu đến phút cuối giờ học. Hơn nữa phải làm cho
mức độ hứng thú ngày càng tăng đến nỗi các em không để ý thời gian trôi đi
nhanh chóng và khi giờ học kết thúc học sinh vẫn còn cảm thấy luyến tiếc. Để
làm được điều này tôi có một số kinh nghiệm như sau:
- Áp dụng các giải pháp đã nêu và thay đổi liên tục ở các thời điểm khác
nhau.

Cuối học kỳ 1: Các em đều chăm chú nghe giảng, 100% ghi bài đầy đủ, phát
biểu bài tích cực, học và làm bài ở nhà khá tự giác, có làm các bài tập mà thầy
giao trên lớp tùy theo năng lực của từng học sinh, một số em có đọc các bài tập
trong sách bài tập tin, không có học sinh vi phạm nề nếp trong các tiết dạy.
Giữa học kỳ 2: Với các bài toán đã làm trên lớp đa số các em viết lại tốt, có áp
dụng với các bài toán cùng dạng, chuyển các bài toán từ việc nhập dữ liệu vào từ
bàn phímvà ghi dữ liệu ra ngoài màn hình thành các bài dọc dữ liệu từ tệp và ghi
dữ liệu vào tệp. Có nhiều em tìm và giải các bài toán mà các em tìm được ở các
nguồn tài liệu và trên mạng. Trong các tiết học khá sôi nổi, có sự tranh luận về
bài toán, khả năng phán đoán các bài toán gốc, tìm các thuật toán tối ưu đều
được các em giải quyết. Nhiều học sinh hỏi các bài toán trong sách bài tập hơn,
đặc biệt có một số em được thầy giúp đỡ đã tiếp cận sâu với các đề thi học sinh
giỏi của các tỉnh như em Hoàng Vân Anh, Phạm Hải Đường, Phạm Văn Huy,
Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Thanh Quân.
Cuối năm học:
+ Trên lớp: 100 % học sinh trong lớp làm được các yêu cầu trong SGK, 100
% chăm chú nghe giảng và xây dựng bài, không có học sinh vi phạm nề nếp.
+ Học và làm bài theo đúng yêu cầu của giáo viên, số lượng học sinh tìm
thêm các nguồn tài liệu ngoài SGK để làm có tăng thêm
16


+ Chất lượng đại trà: một số học sinh thực hiện được sự nâng bậc từ Trung
bình lên khá, từ khá lên giỏi.
+ Chất lượng mũi nhọn: số học sinh đạt học sinh giỏi cấp Tỉnh tăng lên so với
các năm học trước.
Năm học 2015 – 2016: có 02 giải (01 giải nhì và 01 giải ba) lớp 11C1
Năm học 2014 – 2015: có 01 giải ba lớp 11B1
Năm học 2013 - 2014: có 02 giải khuyến khích lớp 11A1
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ:

Tiếp tục tổ chức hội thảo và triển khai công tác chuyên môn như đợt tập huấn
tháng 10/2015 ở thị xã Sầm Sơn.
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm2016

HIỆU TRƯỞNG

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Phạm Thế Dũng

Nguyễn Văn Nhiên

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo khoa Tin học 10,11, 12 NXB GD
[2] Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo viên Tin học 10,11, 12 NXB GD
[3] Hồ Sĩ Đàm, Bài tập Tin học 10, 11 NXB GD
[4] Quách Tất Kiên, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn
Tin học THPT NXB GD
[5] Tan, C., Tài liệu tập huấn Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Dự
án Việt Bỉ - Bộ GD&ĐT, 2008.
[6] Website http://thanhhoaedu.vn/ mục Sáng kiến kinh nghiệm

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status