Một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực thi của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong kì thi THPT quốc gia qua dạy phần lịch sử việt nam lớp12 - Pdf 44

MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
1.2. Mục đích nghiên cứu:
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Một số phương pháp , kĩ năng ôn luyện và làm bài thi:
2.3.2. Đề thi có sự đổi mới - giáo viên phải thay đổi cách dạy:
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối tượng kiểm nghiệm:

Trang
1
1
1
2
2
3
3
4
5
5
13
14
15


dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.
Môn lịch sử ở trường phổ thông có vị trí chức năng và nhiệm vụ quan
trọng
trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Tuy nhiên, Lịch sử là một môn học
đặc thù với những chuỗi sự kiện, diễn biến đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy,
nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra
bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai.
Hưởng ứng công cuộc đổi mới trong giáo dục ở nước ta hiện nay mà trọng
tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập
trung đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn
lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình phát
huy tính chủ động, sáng tạo của người học, biết vận dụng kiến thức đã học để
giải quyết các tình huống thực tiễn nảy sinh, từ đó phát triển tư duy độc lập,
phát triển năng lực, tạo niềm tin và vui thích trong học tập cho học sinh, nhất là
đối với học tập môn Lịch sử - môn góp phần dạy chữ và dạy người .
Vậy làm thế nào phát triển được năng lực của học sinh trong quá trình học
tập môn Lịch sử để học sinh đạt điểm cao trong kì thi THPT quốc gia? Đó là
điều bản thân tôi hết sức trăn trở. Trong những năm vừa qua trong quá trình
công tác, bản thân tôi đã có nhiều đổi mới trong phương pháp dạy học nhằm
phát huy năng lực học tập của học sinh, nhất là phát huy năng lực học sinh
trong quá trình làm bài thi ở kì thi trung học phổ thông quốc gia để đạt điểm
cao và bước đầu đạt được kết quả khả quan.
Với lí do đó tôi mạnh dạn đưa ra Một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng
lực thi của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong kì thi THPT quốc gia qua
dạy phần Lịch sử Việt Nam lớp12.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Khi tiến hành nghiên cứu, tôi đã đặt ra mục tiêu cho đề tài là:
- Phải thay đổi được thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường Trung
học phổ thông hiện nay.


phương pháp, kĩ thuật dạy học với từng nội dung, từng đối tượng học sinh.
Làm được việc này sẽ kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của nhiều học
sinh, sẽ nâng cao được hiệu quả học tập bộ môn, đặc biệt sẽ phát huy được tối
đa năng lực .
Ngày 09/9/2014, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định
3538/QĐ-BGDĐT phê duyệt phương án thi tốt nghiệp THPT và đại học, cao
đẳng ( gọi là kì thi THPT quốc gia). Trong đó môn Lịch sử nằm trong số những
môn tự chọn và môn thi theo hình thức tự luận. Việc kiểm tra, đánh giá ở môn
Lịch sử tuân theo quy luật nhận thức, đi từ biết đến vận dụng. Cụ thể:
Mức độ nhận biết: Kiểm tra kiến thức cơ bản về lịch sử trong chương
trình, sách giáo khoa nhưng tránh kiểm tra ghi nhớ máy móc quá nhiều sự kiện,
ngày tháng, con số. Mức độ này sẽ tập trung vào những phần trọng tâm cơ bản.
Mức độ vận dụng: đòi hỏi học sinh phải hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng
(phần kiến thức trọng tâm cơ bản đã đề cập ở trên), trên cơ sở đó biết khái
quát, xâu chuỗi những sự kiện lịch sử, lí giải được mối quan hệ giữa sự kiện
này với sự kiện khác - học sinh không chỉ học một sự kiện đơn lẻ mà là chuỗi
các sự kiện có mối quan hệ, ảnh hưởng tác động với nhau.
Như vậy, thay vì học thuộc lòng và nhớ sự kiện lịch sử như nguyên nhân,
diễn biến, ngày tháng, số liệu cụ thể….đề thi sẽ tập trung vào khả năng hiểu
biết lịch sử của học sinh. Thông qua những hiểu biết đó yêu cầu học sinh phát
hiện những mối liên hệ của sự kiện lịch sử này đối với các sự kiện lịch sử khác,
để từ đó hiểu sâu sắc hơn sự kiện lịch sử được học.
Vì vậy, làm thế nào để học sinh có thể đáp ứng được yêu cầu của đề ra?
Nên khi tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi đã đặt ra giả thuyết: Đề tài có thay đổi
được thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay hay không?
Đề tài có phát triển được năng lực học sinh khi làm bài thi để đạt điểm cao hay
không?... Câu trả lời là: Khi đề tài được áp dụng sẽ thay đổi được thực trạng
dạy và học môn Lịch sử, thay đổi được năng lực làm bài thi của học sinh khi
tham gia kì thi THPT
quốc gia hiện nay để đạt điểm cao.

Tuy nhiên thực tiễn làm công tác hướng dẫn học sinh ôn luyện để tham gia
các kì thi quốc gia nhiều năm, đặc biệt là kì thi THPT quốc gia tôi thấy có một
thực tiễn đó là: mặc dù vẫn có nhiều học sinh dù yêu thích môn lịch sử, lựa
chọn môn học này để thi nhưng lại khó khăn trong việc tìm ra phương pháp
học tập và kĩ năng làm bài thi. Không ít học sinh dù rất tự tin với kiến thức của
mình, nhưng lại lúng túng trong việc xác định các dạng câu hỏi trong đề thi.
Kết quả là, dù bài làm được hai ba tờ giấy thi , thậm chí dài hơn nhưng điểm
thi của bài không được cao và thậm chí là thấp, không tỉ lệ thuận với những
kiến thức lịch sử đã ôn luyện.
Vậy nguyên nhân vì sao? Các em cần phải điều chỉnh những gì khi ôn
luyện để khắc phục hạn chế trên và đạt được kết quả cao trong kì thi THPT
quốc gia? Làm thế nào để có tâm thế tốt nhất trước mỗi kì thi THPT quốc gia
đang đến gần?
Từ thực trạng nêu trên, cho thấy:
Vấn đề đặt ra đối với giáo viên nói chung và giáo viên dạy học môn Lịch
sử ở
trường Trung học phổ thông cần phải làm gì? Làm thế nào để thay đổi cách
học,
định hướng, bồi dưỡng cho học sinh có thể làm bài thi một cách tốt nhất, đáp
ứng được yêu cầu của đề thi, phát huy được năng lực của học sinh khi làm bài
thi? Việc áp dụng đề tài “Một số kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực thi của học
sinh nhằm đạt kết quả cao trong kì thi THPT quốc gia qua dạy phần Lịch sử
Việt Nam lớp12. ”
5


vào thực tiễn dạy học sẽ thay đổi cách dạy của Thầy và cách học của Trò.
Trong đó
Thầy là người tổ chức, định hướng các hoạt động học tập cho học sinh, Trò là
người được tự lực, chủ động trong việc tìm kiếm, chiếm lĩnh nguồn tri thức;

nhân vật, gai cấp, tầng lớp nào?
Ví dụ: khi dạy về hoạt động của tư sản dân tộc thời kì 1919 - 1929, tôi đặt
câu hỏi: Cuộc khởi nghĩa nào diễn ra đầu năm 30 của thế kỉ XX với tinh thần “
hoặc thành công nếu không thành nhân”?
Với câu hỏi này, tôi yêu cầu học sinh phải nắm được cuộc khởi nghĩa Yến
Bái diễn ra là một trong những hoạt động tiêu biểu gắn liền với bộ phận tư sản
dân tộc trong trào lưu dân tộc dân chủ trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời.

6


- Where - ở đâu, nơi nào: Xác đinh sự kiện xảy ra gắn với địa điểm, không
gian nào?
Ví dụ: Khi học về chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi đặt câu hỏi: Vì sao Pháp Mĩ chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đòan cứ điểm mạnh nhất Đông
Dương?
Với câu hỏi này, tôi yêu cầu học sinh phải nắm được địa điểm, không gian
của
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
- Why - Tai sao: giải thích được vì sao sự kiện lại xảy ra như vậy? Nghĩa là
phải bình luận, nhận xét, đánh giá, chứng minh, giải thích, lí giải… về sự kiện.
Ví dụ: khi học về cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng
nổ tôi yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao ta quyết định phát động cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946?
Với câu hỏi này, học sinh phải vận dụng kiến thức phần tình hình nước ta
sau Hiệp định “Sơ bộ 6/3/1946” và “ Tạm ước 14/9/1946” để giải thích lí do vì
sao ta phải phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
lần 2.
- How - như thế nào - Vận dụng được kiến thức đã học như thế nào?
Nội dụng này tôi thường hướng dẫn học sinh sử dụng khi bài học có nội

bao gồm 2 phần : phần “sử” là những sự kiện và hiện tượng lịch sử xảy ra
trong quá khứ, vì vậy dù muốn hay không chúng ta không thể thay đổi được,
và yêu cầu các em cần phải nắm vững phần “ sử” - kiến thức thông sử. Bên
cạnh đó khi hướng dẫn các em học phần “sử”, tôi luôn nhắc các em không thể
thay đổi kiến thức phần này được hoặc không được hiện đại hóa, xuyên tạc đối
với phần “sử” ( gồm 4W đầu).
Còn phần “luận” - Why, How đây mới là phần quan trọng đối với người
học lịch sử, điểm thi của các em cao hay thấp phụ thuộc vào phân luận, thường
chiếm 40% điểm số bài thi.
Ví dụ: Khi dạy về cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng
nổ, tôi đặt ra câu hỏi: Nguyên nhân Đảng phát động cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946? Sao không phải là ngày 20
hoặc sớm hơn?
Đối với câu hỏi này, để “luận” được phần “sử”, các em cần ghi nhớ, xác
định được quá trình diễn ra của 4W ở trên (khác với học thuộc lòng, thuộc vẹt).
Trên thực tế không ít học sinh tuy biết được phần “sử”, nhưng lại không
thể giải thích, nhận xét, bình luận được sự kiện. Nhiều em tuy nhớ được chiến
thắng Điện Biên Phủ kết thúc ngày 7/5/1954, nhưng không lí giải được vì sao
lại gọi đây là chiến thắng lớn nhất của quân dân ta trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Như vậy, các quan niệm, suy nghĩ lâu nay về học môn lịch sử rằng là chỉ
cần học thuộc lòng kiến thức trong sách giáo khoa, chỉ cần nhớ ngày / tháng /
năm lịch sử là sẽ được điểm cao không còn đúng, phù hợp với xu thế đổi mới
kiểm tra đánh giá theo xu hướng đánh giá và đề cao phát huy năng lực của học
sinh hiện này mà ngành giáo dục đang hướng tới.
2. Hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp học theo sơ đồ tư duy,
kết hợp với từ khóa.
Như chúng ta đã biết, độ dài bài thi không tỉ lệ thuận với điểm số của bài
thi, không nhất thiết các em cứ viết dài là bài sẽ được điểm cao, mà vấn đề cốt
lõi là các em phải xác định được nội dung câu hỏi trong bài thi để xác định

nào
vào nước ta và vào làm nhiệm vụ gì sau cách mạng tháng 8/1945. Muốn biết
được điều đó học sinh cần phải liên hệ với nội dung Hội nghị Ianta, nhất là
phần phân chia phạm vi chiếm đóng và phạm vi ảnh hưởng giữa các nước
thắng trận với những nước bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ 2.
4. Hướng dẫn học sinh vận dụng “ công thức” về đường lối, chủ
trương đấu tranh của Đảng khi học giai đoạn 1939-1945:
Thực tiến cho thấy, học sinh hay bị nhầm lẫn và rối rắm khi học về các chủ
trương đấu tranh của Đảng nhất là trong giai đoanh 1939-1945. Để khắc phục
hạn chế đó tôi hướng dẫn học sinh công thức xác định được 5 cụm từ khóa
dưới đây (Các nghị quyết của Đảng trong giai đoạn 1939-1945 bao giời cũng
đề cập đến nội dung này):
- Xác định đường lối chiến lược cách mạng ( đường lối chiến lược cách
mạng không bao giờ thay đổi): Đầu 1930, Cương lĩnh của Đảng đã xác định
cách mạng Việt Nam sẽ trải qua hai giai đoạn là làm cách mạng tư sản dân
quyền và thổ địa cách mạng, sau khi thành công sẽ bỏ qua giai đoạn tư bản chủ
nghĩa để tiến lên xã hội cộng sản.
- Xác định kẻ thù, nhiệm vụ cách mạng ( có thể thay đổi do hoàn cảnh lịch
sử).
Ví dụ: Trong giai đoạn 1936 - 1939, Đảng xác định kẻ thù cách mạng
không phải là đế quốc Pháp nói chung mà là bọn phản động thuộc địa và tay
sai; Hội Trung ương tháng 11/1939 xác định kẻ thù là đế quốc Pháp và tay sai;
Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 xác định kẻ thù là đế quốc, phát xít Pháp Nhật và tay sai; Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng sau ngày Nhật đảo
chính Pháp xác định kẻ thù chỉ còn là phát xít Nhật và tay sai của chúng.
9


- Xác định lược lượng cách mạng và thành lập mặt trận dân tộc thống nhất (
có thể thay đổi do hoàn cảnh lịch sử).
Ví dụ: Tháng 7/1936, Đảng đưa ra chủ trương thành lập Mặt trận thống

và thắng lợi của quân dân hai miền trong năm 1972 ( cuộc tấn công chiến lược
ở miền Nam 1972 và chiến thắng “ Điện Biên Phủ trên không” cuối 1972 ở
miền Bắc) buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa
bình ở Việt Nam 27/1/1973.
Đối vế hai của câu hỏi, để làm tốt các em dựa vào bối cảnh lịch sử cụ thể
để phân tích, lí giải, bình luận, nhận xét…
* Dạng câu hỏi cuối câu có cụm từ “ như thế nào” và yêu cầu làm rõ
nội dung liên quan đến cụm từ đó
Ví dụ 1: Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần III (9/1960) xác định cách
mạng XHXC ở miền Bắc có vai trò như thế nào đối với cách mạng cả nước?
10


Vai trò đó được thể hiện như thế nào trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước
(1954 - 1975)?
Ví dụ 2: Sự lãnh đạo đúng đắn và linh hoạt của Đảng được thể hiện như thế
nào trong chủ trương, kế hoạch và tiến trình giải phóng hoàn toàn miền Nam?
Dạng câu hỏi này không khó, chỉ ở mức độ nhận biết và trình bày, các em
có thể đạt điểm tốt nếu ôn luyện kiến thức vững chắc.
* Dạng câu hỏi có hai vế yêu cầu “nêu và nhận xét” và “ trình bày và
nhận xét”...
Ví dụ 1: Trình bày và nhận xét về sự phát triển của phong trào công nhân
Việt Nam trong giai đoạn 1926 - 1929?.
Ví dụ 2: Trình bày và nhận xét về phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt
Nam trong nửa dầu những năm 20 của thế kỉ XX?
Dạng câu hỏi này yêu cầu thí sinh hai mức độ “ nhận biết” và “vận dụng”
có biểu điểm riêng ở từng vế của câu hỏi. Vì vậy các em nên trả lời vế “ nêu”
và “ trình bày” trước để được điểm ở mức độ nhận biết sau đó trả lời vế “nhận
xét”. Chẳng hạn ở ví dụ 2, sau khi nêu các phong trào yêu nước của tiểu tư sản

điểm riêng. Nếu trả lời sai vế đầu các em sẽ mất điểm cả câu, nên cần thận
trọng khi đưa ra quyết định và không nhất thiết phải cụ thể, chi tiết thời gian
bằng ngày/ tháng. Để trả lời tốt hai vế, các em dựa vào bối cảnh lịch sử có liên
quan.
* Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh làm rõ thông tin có liên quan đến một
văn bản đã được viết trong sách giáo khoa, yêu cầu các em nhận diện, sau
đó bình luận, lí giải và nhận xét...
Ví dụ 1: “ Bản chỉ thị nhận định: Cuộc đảo chính đã tạo nên sự khủng
hoảng chính trị sâu sắc, song những điều kiện Tổng khởi nghĩa chưa chín
muồi. Phát xít Nhật…..”
Đọan trích trên là chủ trương trong hội nghị nào của Đảng Cộng sản
Đông Dương? Giải thích và nhận xét vì sao Đảng đưa ra chủ trương đó?
Dạng câu hỏi này tôi lưu ý học sinh câu hỏi cũng có hai vế, mỗi vế sẽ có
biểu điểm riêng. Nếu trả lời sai vế đầu các em sẽ mất điểm cả câu, nên cần phải
bám sát vào các “từ khóa” trong đoạn văn bản để xác định thời điểm xảy ra sự
kiện lịch sử. Để trả lời tốt vế sau, phải bám sát vào bối cảnh lịch sử của sự
kiện.
* Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh so sánh, đánh giá các sự kiện, hiện
tượng lịch sử trong cùng một thơi kì hoặc giữa các thời kì khác nhau
nhưng cùng loại
Ví dụ 1: So sánh chiến dịc ĐBP (1954) và chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)
về : Mục tiêu mở chiến dịch, phương châm tác chiến và kết quả, ý nghĩa.
Ví dụ 2: Các chiến lược chiến tranh thực dân mới của Mĩ tiến hành ở miền
Nam Việt Nam (1961 -1975) có những điểm gì giống và khác nhau?
Nếu đề bài bắt đầu bằng mệnh đề so sánh, các em cần chỉ ra điểm giống và
khác nhau của đối tượng. Trong trường hợp đề bài yêu cầu các em chỉ cần chỉ
ra điểm giống hoặc khác nhau của đối tượng thì các em chỉ cần tập trung vào
những điểm giống hoặc khác nhau để làm rõ, phân tích..
* Dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh phải đưa quan điểm, ý kiến của mình
về một nhận định nào đó có liên quan đến kiến thức trong sách giáo khoa,

Ví dụ: Có đúng hay không khi cho rằng: phong trào cách mạng Việt Nam
1930 -1931 là một bước phát triển mới so với phong trào yêu nước trước đó?
Lí giải.
Cách trả lời câu hỏi này như sau:
a. Phong trào cách mạng Việt Nam 1930 - 1931 là một bước phát triển
mới so với các phong trào yêu nước trước đó là một nhận định chính xác.
b. Nhận định trên chính xác, vì:
+ Trước hết đây là một phong trào cách mạng triệt để, có đường lối đấu
tranh đúng đắn, cùng một lúc chống lại hai kẻ thù của dân tộc là đế quốc Pháp
và phong kiến tay sai.
+ Phong trào diễn ra trên quy mô cả nước, mang tính thống nhất cao
(đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tập trung chĩa mũi nhọn vào đế quốc và
phong kiến tay sai).
+ Về lực lượng : phong trào lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, từ
công nhân, nông dân đến các tầng lớp nhân dân thành thị… lần đầu tiên giai
cấp nông dân sát cánh cùng công nhân trong cuộc đáu tranh chung.
+ Về hình thức đấu trnh thì phong phú, quyết liệt từ bãi công, bãi thị, mít
tinh, biểu tình … đến phá đồn điền, nhà lao. Bao vây các huyện đường buộc
bọn thống trị phải chấp nhận các yêu sách… làm tan rã bộ máy chính quyền
của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng ở một số nơi ở Nghệ
An và Hà Tĩnh.
Như vậy mới những kết quả đạt được ở trên thì nhận định phong trào
cách mạng Việt Nam 1930 - 1931 là một bước phát triển mới so với các phong
trào yêu nước trước đó là chính xác.
Trên đây là một số dạng câu hỏi thường gặp trong bài thi lịch sử của kì thi
THPT quốc gia hiện nay. Tuy nhiên tôi cũng lưu ý các em, dù là dạng câu hỏi
nào đi chăng nữa việc các em phải nắm vững kiến thức cơ bản là hết sức quan
13



Với cách đặt vấn đề như vậy tôi đã kích thích tư duy của học sinh, kinh
thích trí tò mò ham học hỏi của các em, tránh được lối dạy quen thuộc lâu nay
đó là giáo viên nêu một loạt các sự kiện quá trình ra đi tìm đường cứu nước của
Nguyên Ái Quốc từ 1911 đến 1925 giống như sách giáo khoa đã trình bày rồi
bắt các em phải nhớ.
Ví dụ: Khi dạy phần Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tôi đưa ra vấn đề:
Theo em, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 đã cần thiết hay
chưa? Sau đó tôi sử dụng phương pháp tư duy phản biện: tôi lấy ý kiến của hai
em học sinh có suy nghĩ trái ngược nhau, cụ thể: lấy 1 ý kiến có quan điểm là
cần thiết thành lập Đảng vào đầu 1930 và một ý kiến là chưa cần thiết lập
Đảng đầu năm 1930, sau đó tôi yêu cầu 2 em lên phản biện nhau, đưa ra các
dẫn chứng thuyết phục để bảo vệ ý kiến của mình. Qua đó, tôi bổ sung thêm
kiến thức để các em tự tìm ra đáp án của câu hỏi.
14


Với cách sử dụng phương pháp tư duy phản biện như vậy, trên thực tế tôi
thấy học sinh rất tích cực và chủ động trong giờ học lịch sử, các em ham học
học, chủ động tìm kiến thông tin, tư liệu để bảo vệ ý kiến của mình được
thuyết phục hơn. Nhờ vậy kiến thức của các em lĩnh hội được nhiều hơn, các
em hiểu sâu sắc vấn đề hơn, và quan trong hơn cả là các em có cái nhìn khác
hơn với học môn lịch sử đó là học lịch sử không phải là học vẹt, nhớ máy móc
các năm , tháng, sự kiện đã diễn ra.
Bên cạnh việc thay đổi phương pháp dạy học thì bản thân cá nhân tôi
cũng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng pháp triển tư duy học
sinh như: kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật “KWLH” ( trong
đó K (Know) - những điều đã biết; W (Want) - những điều muốn biết; L
(learned) - những điều đã học được; H (How) - có thể vận dụng được gì).
Ví dụ: Khi học về Hiệp đinh Giơnevơ, tôi sử dụng kĩ thuật KWLH:
K

Số học Điểm %
sinh dự 9-10
thi
30

0

0

Điểm
7,75
8,7
5
4

%

Điểm
6,75
7,5

%

Điểm
5,25
6,5

%

Điểm

để xét đại học, cao đẳng ở lớp 12H2 năm học 2014 - 2015 như sau:
Số học Điểm
sinh dự 9-10
thi

%

30

6,6

2

Điểm
7,75
8,7
5
6

%

Điểm
6,75
7,5

%

Điểm
5,25
6,5

Như vậy, sau khi tổng hợp thông tin từ kết quả học sinh thi môn sử trong
kì thi đại học cao đằng năm học 2013-2014 và kết quả học sinh thi trung học
phổ thông quốc gia chọn môn Sử để xét đại học năm học 2014 - 2015cho thấy
như sau: Học sinh đạt điểm từ 5,25  7,5 ở hai lớp đối chứng 12G2 và lớp
thực nghiệm 12H2 thay đổi không đáng kể (12G2 năm học 2013 - 2014:
46,8%; 12H2 năm học 2014-2015: 51,1%). Tuy nhiên số học sinh đạt điểm từ
7,75  8,75 ở hai lớp đối chứng 12G2 và lớp thực nghiệm 12H2 tăng (12G2
năm học 2013-2014: 13,3% ; 12H2 năm học 2014 - 2015: 20%) và đặc biệt
trong kì thi trung học phổ thông quốc gia 2014-2015 đã có hai em ở lớp thực

16


nghiệm 12H2 đạt từ điểm 9 trở lên ( 1em đạt 9điểm - Em: Nguyễn Thị Hà
(12H2) và một em đạt 9,25 - Em: Lê Thị Hoa (12H2))
đồng thời số học sinh đạt từ 0 3 điểm ở lớp thực nghiệm là không có em nào.
Từ kết quả kiểm nghiệm trên cho thấy việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và
làm bài thi theo hướng phát triển năng lực học sinh đã đưa lại những chuyển
biến rõ rệt:
- Điểm thi của các em trong kì thi trung học phổ thông quốc gia trong đó
chọn môn Lịch sử để xét đại học nhiều em đạt điểm cao.
- Bước đầu đã thay đổi được thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường
Trung học phổ thông hiện nay.
- Đã phát triển được tối đa năng lực làm bài thi môn Lịch sử của học sinh.
- Đã tạo được hứng thú và nâng cao được kết quả học tập cho học sinh khi
học
tập môn Lịch sử.
- Đã tạo được hứng thú, động lực để giáo viên tiếp tục đổi mới phương
pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.


CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 16 tháng 05 năm 2016
CAM ĐOAN KHÔNG COPY

Lê Thị Diệp

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ôn tập môn Lịch sử
Nhà xuất bản giáo dục 2015
- Hướng dẫn ôn luyện thi THPT quốc gia môn Lịch sử 2015
Nhà xuất bản Đại học sư phạm năm
2015
- Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học môn Lịch sử
Nhà xuất bản ĐHSP 2010
- Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nhà xuất bản ĐHSP 2010
- Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển
năng lực học sinh
Bộ GD& ĐT năm 2014

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status