skkn tạo hứng thú học lịch sử lớp 12 bằng hệ thống câu hỏi và trò chơi “ vượt chướng ngại vật” trong bài giảng - Pdf 44

1


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TẠO HỨNG THÚ HỌC LỊCH SỬ LỚP 12
BẰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ TRÒ CHƠI
“VƯỢT CHƯỚNG NGẠI VẬT” TRONG BÀI GIẢNG

Người thực hiện: Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Chức vụ:Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Lịch Sử

THANH HÓA NĂM 2016

2


Môc lôc
NỘI DUNG

TRANG

Phần thứ nhất. MỞ ĐẦU

2

1. Lý do chọn đề tài


2.2. Thực trạng của đề tài

6

2.3. Các giải pháp thực hiện

6

2.3.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi

6

2.3.2. Các giải pháp cụ thể

7

1. Khai thác hệ thống câu hỏi mở

7

2. Khai thác hệ thống câu hỏi từ nội dung bài học

7

3. Khai thác kỹ năng diễn đạt và tự luận

8

2.4. Giới thiệu một số hệ thống câu hỏi khả dụng.

3


Phần thứ nhất - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông nói chung, chất lượng bộ môn
Lịch sử nói riêng theo tình thần Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo”... là nhiệm vụ cấp bách mà mỗi thầy, cô giáo chúng ta cần và
phải làm ngay để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trước mắt và lâu dài của nền Giáo
dục nước nhà…
Cốt lõi của vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục là phải phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh và lấy học sinh làm trung tâm, phải chuyển đổi từ
việc “Thầy dạy – Trò học” sang “Trò chủ động khám phá, tìm hiểu và chủ động
tiếp thu kiến thức”. Trong đó người thầy là “Kiến trúc sư” tạo tình huống có vấn
đề một cách tự nhiên, gây sự tò mò, tạo hứng thú trong việc nhận thức tình
huống, nhận thức vấn đề và từ đó giúp học sinh tự mình tìm câu giải đáp cho
vấn đề đặt ra, tự mình giải quyết tình huống đó. Tuy nhiên, nếu không thiết kế,
sử lý khéo léo thì rất dễ dẫn đến việc đổi mới một cách hình thức (chỉ là sự “ẩn
đi” của các phương pháp dạy truyền thống mà thôi!). Bên cạnh đó phải chống
việc học nhồi nhét sẽ chỉ làm môn học càng trở nên nặng nề, mất đi tính hấp dẫn
vốn có trong nội tại của chính môn Lịch sử và làm tê liệt sự thông minh sáng
tạo, hứng thú học tập của học sinh.
Để đạt được kết quả tốt trong quá trình dạy và học trong trường phổ thông
nói chung, môn Lịch Sử nói riêng ta phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy
và học. Nhưng đổi mới thế nào? Câu trả lời sẽ đến từ chính đội ngũ giáo viên và
“sự” học của học sinh khi mà thầy và trò cùng phối hợp và cộng hưởng trong
quá trình dạy và học. Trong đó việc thiết kế, xây dựng hệ thống câu hỏi hấp dẫn,
phù hợp đối tượng học sinh, hình thức đa dạng, phong phú, từ vấn đáp gợi mởi,
tạo tình huống có vấn đề hay dự án, bài tập lớn … được kết hợp khéo léo, nhuần

Học sinh khối lớp 12 trường THPT chuyên và không chuyên theo chương
trình chuẩn và chuẩn kiến thức, kỹ năng ở một số bài học cụ thể.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện tốt đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu hổ trợ.
- Kỹ thuật xây dựng hệ thống câu hỏi theo các mức độ nhận thức:
Nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
- Nội dung và kỹ thuật xây dựng ô chữ và cách thức dẫn dắt trò chơi.
- Thao giảng, dự giờ trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp trong quá
trình giảng dạy.
- Áp dụng kinh nghiệm phương pháp mới trên lớp.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học sinh và làm bài để từ đó có điều
chỉnh và bổ sung.

5


Phần thứ hai - NỘI DUNG ĐỀ TÀI
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài.
Để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo học sinh trở thành
những con người năng động, độc lập và sáng tạo, tiếp thu được những tri thức
khoa học hiện đại, biết chủ động lĩnh hội kiến thức và vận dụng những kiến thức
đã học vào thực tiễn, biết yêu Lịch sử dân tộc, hiểu biết cơ bản về lịch sử thế
giới góp phần rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, chuẩn bị hành trang cho các
em trong cuộc sống sau này như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:
"Dân ta phải biết Sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
là điều mong muốn của tác giả khi thực hiện đề tài này.
2.1.1. Cơ sở khoa học.
Bản thân lịch sử xã hội loài người và bộ môn Lịch Sử có nhiều ưu thế

Khi câu hỏi đặt ra quá đơn giản, chỉ cần trả lời “có” hoặc ”không”,
”đúng” hay ”sai” ... sẽ không giúp ích gì trong việc tạo hứng thú cho hoc sinh.
Trái lại câu hỏi quá khó không vừa sức thì dễ làm các em nản chí, chính vì
vậy hệ thống câu hỏi được lựa chọn phải vừa đóng vừa mở, phải vừa sức, hợp
yêu cầu truyền đạt kiến thức theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.
Để đạt được điều đó, giáo viên cần nắm chắc “Lý thuyết tình huống trong
dạy học”, Các “mức độ nhận thức trên cơ sở thang đánh giá của Bloom (1956)”
và ưu, nhược điểm, phạm vi sử dụng của các loại hình câu hỏi tự luận, trắc
nghiệm khách quan …
Tóm lại, mục đích của việc dạy học Lịch sử ở trường THPT không chỉ
giúp cho học sinh hình dung, nhìn nhận quá khứ và ghi nhớ các sự kiện, hiện
tượng của lịch sử mà quan trọng hơn là phải hiểu được lịch sử tức là nắm được
bản chất của sự kiện. Trong phát triển tư duy của học sinh, việc sử dụng các thao
tác lôgic có ý nghĩa rất quan trọng. Thông thường người giáo viên thường sử
dụng các thao tác chủ yếu như: So sánh để tìm ra sự giống và khác nhau về bản
chất các sự kiện; hay phân tích và tổng hợp giúp học sinh khái quát các sự kiện.
Để thực hiện được các thao tác như vậy có thể dùng nhiều cách, nhiều phương
tiện khác nhau (đồ dùng trực quan, tài liệu giải thích...), song việc hỏi và trả lời
phù hợp với trình độ, yêu cầu của học sinh sẽ đưa lại kết quả khả quan. Đây
cũng chính là một trong những biện pháp rất quan trọng trong giờ dạy học Lịch
sử vì nó phát huy tối đa trí và lực của học sinh.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Là một giáo viên đã dạy học lịch sử lâu năm, tôi đã cố gắng tìm tòi những
cách thức, phương pháp giúp học sinh học bài đạt kết quả. Tôi đề cao việc
hướng dẫn học sinh phương pháp nắm được kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất
và nhớ lâu bằng những cách thức vừa đơn giản vừa dễ hiểu và có sự gắn kết
logic chặt chẽ; nhờ đó học sinh có thể vận dụng học và làm bài hiệu quả.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh xây dựng hệ
thống kiến thức, tổng hợp kiến thức bằng hệ thống câu hỏi và các trò chơi phù
hợp luôn có tác dụng rất lớn, nhất là với một môn học có nhiều sự kiện như môn

Từ những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng của vấn đề nêu trên.
Xuất phát từ mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả dạy học
bộ môn Lịch sử ở trường THPT, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Tạo sự hứng
thú học Lich sử lớp 12 bằng hệ thống câu hỏi và trò chơi “Vượt chướng ngai
vật” trong bài giảng” làm sáng kiến kinh nghiệm dạy học của mình.
Tuy nhiên, vì điều kiện và hạn chế của phạm vi đề tài. Tôi chỉ xin trình
bày nội dung đề tài trong một số bài nhất định.
2.3. Các giải pháp thực hiện đề tài.
2.3.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi.
- Khai thác tốt hệ thống câu hỏi mở;
- Khai thác kho tư liệu từ Intenet, từ tài liệu tham khảo;
- Bám sát lý thuyết hoạt động và các mức độ nhận thức trên cơ sở tâm lý
giáo dục và kiến thức về kỹ năng sống về hiểu biết xã hội;
8


- Nắm chắc sự phát triểm tâm sinh lý lứa tuổi;
- Khái niệm về các mức độ nhận thức Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng;
2.3.2. Các giải pháp cụ thể.
1. Khai thác hệ thống câu hỏi mở.
a. Thiết kế câu hỏi gợi mở để nêu vấn đề trọng tâm của bài học.
Loại câu hỏi này thường xuất hiện vào phần đầu bài giảng. Bởi vì bất kì
một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào cũng đều xuất phát trong hoàn cảnh lịch sử
nhất định, đều có nguyên nhân phát sinh của nó. Đây cũng là một đặc điểm tư
duy của Lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.
Loại câu hỏi này vừa có thể kiểm tra bài cũ nhanh vừa giúp định hướng
nhận thức cho học sinh. Các câu hỏi đưa ra vào đầu giờ có tác dụng thu hút sự
chú ý, tập trung của học sinh đồng thời huy động năng lực nhận thức của học
sinh vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời của vấn đề đặt ra.
Khi vận dụng khéo léo thì có thể tạo sự định hướng về vấn đề cơ bản,

Lịch sử chính là quá trình phát triển liên tục, đan xen nhau giữa các sự
kiện hoặc một hiện tượng hay một quá trình lịch sử nào đó. Giáo viên cần cho
học sinh thấy rõ được kết quả của sự vận động đó, nguyên nhân thắng lợi hay
thất bại và ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển của lịch sử.
Hình thức câu hỏi thường được sử dụng là ”Câu đúng – sai”, ”Câu trả lời
ngăn” hoặc ”Câu có nhiều lựa chọn”. Mức độ nhận thức có thể xác định từ Nhận
biết đến Thông hiểu (căn cứ vào nội dung bài học và đối tượng học sinh).
c. Loại câu hỏi so sánh, đối chiếu và liên hệ.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải biết đặt ra và giúp học sinh giải
quyết các câu hỏi có tính chất nhận thức kiến thức. Một hệ thống câu hỏi tốt nêu
ra trong quá trình giảng dạy phải phù hợp với khả năng của các em, có tác dụng
kích thích tư duy phát triển. Đồng thời với việc hỏi và trả lời câu hỏi phải tạo ra
được mối liên hệ bên trong của học sinh và giữa học sinh với giáo viên. Tức là
khi mỗi câu hỏi đưa ra, mỗi học sinh và cả giáo viên phải thấy rõ vì sao trả lời
được? Vì sao không trả lời được? Câu hỏi quá khó hay chưa đủ sự kiện, tư liệu
để các em trả lời. Và lúc đó người giáo viên phải làm nhiệm vụ hướng dẫn học
sinh, khơi gợi tư duy cho học sinh về câu hỏi đưa ra. Làm được điều này cũng là
thành công của người giáo viên trong việc phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả của
quá trình làm việc tích cực giữa thầy và trò.
Hình thức câu hỏi thường sử dụng là ”Câu đúng – sai”, ”câu điền khuyết”,
”Câu ghép đôi”. Mức độ nhận thức thường ở mức Thông hiểu.
3. Khai thác kỹ năng diễn đạt và tự luận.
a. Loại câu hỏi phân tích, giải thích.
Vì đây là loại câu hỏi nêu lên đặc trưng bản chất của các sự kiện, hiện
tượng lịch sử bao gồm sự giải thích, phân tích có thêm cả những đánh giá nhận
định của học sinh đối với sự kiện hiện tượng lịch sử nào đó. Loại câu hỏi này
thường áp dụng cho những học sinh khá giỏi. Tuy nhiên trong quá trình thảo
luận để đưa ra ý kiến, những học sinh khá giỏi có thể bổ trợ kiến thức cho đối
tượng học sinh trung bình và yếu kém.
Về hình thức thường được sử dụng ở các dạng câu hỏi ”Nhiều lựa chọn” ,

sự phát triển chung. Học sinh phải biết sử dụng kiến thức đã học để tiếp nhận
kiến thức mới, biết quá khứ để tìm hiểu hiện tại. Yêu cầu học sinh phải nắm
vững kiến thức cơ bản, bao gồm những sự kiện, nhân vật lịch sử, không gian,
thời gian …
2.4.1. Hệ thống câu hỏi Bài 1 (Lịch sử 12): ”Sự hình thành trật tự mới sau
chiến tranh Thế giới thứ hai (1945 – 1949)”;
+ Giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi (Phần I. Hội nghị Ianta (2/1945) và
những thỏa thuận của ba cường quốc) theo trình tự sau:
Câu 1: Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai được hình thành
như thế nào?
(Câu gợi mở - dẫn dắt)
Câu 2: Hội nghị Ianta được triệu tập trong bối cảnh lịch sử nào?
Câu 3: Hội nghị Ianta đã đưa ra những quyết định quan trọng nào?
(Câu trả lời ngắn)
Câu 4: Hãy cho biết nhứng nhận xét của mình vê Hội nghị Ianta?
(Câu tìm hiểu kết quả)
11


Câu 5: Tên thường gọi trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ 2 là gì?
+ Giáo viên thiết lập sơ đồ sau để xây dựng hệ thống câu hỏi giúp học
sinh nắm được toàn bộ kiến thức về tổ chức Liên Hợp Quốc. (Phần II. Sự thành
lập Liên Hợp Quốc)
TỔ CHỨC LIÊN HỢP QUỐC

Hoàn cảnh
- Từ 25 tháng 4
đến 26 tháng 6
năm 1945, 50
nước họp tại Xan

nội bộ…
- Chung sống hòa
bình…

Vai trò
- Là diễn đàn
quốc tế vủa hợp
tác,vừa đấu
tranh nhằm…
- Thúc đẩy hợp
tác trên các lĩnh
vực…
- Giải quyết
tranh chấp giữa
các quốc gia,
khu vực…

Sơ đồ kiến thức về sự thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc
Câu 6: Hoàn cảnh ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc? hay Nguyên nhân nào
dẫn đến sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc?
(Câu trả lời ngắn)
Câu 7: Mục đích của Liên Hợp Quốc là gì? hay Tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời
nhằm những mục đích gì? hay Mục đích cao cả của LHQ là gì?
Có thể lựa chọn câu hỏi dạng Nhiều lựa chọn sau: Trong các phương án
sau, phương án nào nêu lên mục đích thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc?
A. Duy trì hòa bình an ninh thế giới.
B. Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các quốc gia…
C. Phục vụ cho mục tiêu của một cường quốc
D. Hỗ trợ các nước châm phát triển vê kinh tế
(Câu nhiều lựa chọn)

Các câu hỏi sau cần sự hoạt động tập thể và kiểm tra khả năng phân tích,
giải thích, tổng hợp kết quả và diễn thuyết (Cho phép kiểm tra KNS của HS).
Câu 11: Việc giải quyết vấn đê nước Đức sau chiến tranh được thực hiện như
thế nào? Tại sao ở Đức lại hình thành 2 nhà nước riêng biệt theo 2 chế độ chính
trị đối lập nhau?
Câu 12: CNXH đã vượt ra khỏi phạm vi một nước (Liên Xô) và trở thành hệ
thống thế giới như thế nào?
Câu 13: Các nước Tây Âu TBCN đã bị Mỹ khống chế như thế nào?
+ Giáo viên điều hành củng cố bài học bằng câu hỏi ghép đôi sau:
Câu 14: Hãy nối thời gian với sự kiện sao cho đúng?
Sự kiện
Thời gian
1- Hội nghị Ianta
a. 10/2/1947
2- Hội nghị San Phranxixcô
b. 17/7 đến 2/8/1945
3- Hội nghị Pốtxđam
c. 4/2 đến 11/2/1945
4- Hội nghị Pari
d. 25/4 đến 26/6/1945
e. 24/10/1945
2.4.2. Hệ thống câu hỏi Bài 17 (Lịch sử 12): "Nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa từ sau ngày 2 - 9 - 1945 đến trước ngày 19 - 12 - 1946";
+ Giáo viên đưa ra câu hỏi nhận thức sau:
Câu 1: Thành quả nhân dân ta giành được trong Cách mạng tháng Tám là gì?
Đảng ta, nhân dân ta đã tiến hành xây dựng và bảo vệ chính quyên như thế nào
13


sau Cách mạng tháng Tám?

C. Đấu tranh với bọn phản động ở miên Bắc:
D. Kí hòa ước với Pháp để đẩy quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta;
E. Phương án gây nhiễu khác (giáo viên chọn cho phù hợp)
Câu 10: Trong số các kẻ thù có mặt trên đất nước ta lúc này thì đâu là kẻ thù
nguy hiểm nhất? Vì sao?
Câu 11: Với từng kẻ thù ta đã đối phó như thế nào?
Câu 12: Tại sao ta lại chủ trương tạm thời hòa haonx với quân tưởng?
Câu 13: Nguyên nhân nào dẫn đến Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946? Giải pháp này có
lợi gì cho ta? Tại sao?
Câu 14: Em hãy nêu ý nghĩa của việc ta kí Hiệp định sơ bộ với Pháp?
Câu 15: Trong các câu sau, đâu là sách lược của Đang, Hồ Chí Minh với
Tưởng và Pháp trước và sau 6/3/1946?
14


+ Giáo viên nên sử dụng sơ đồ sau đây để xây dựng hệ thống câu hỏi. Tùy
theo điều kiện, có thể trình bày theo dạng bảng biểu nhằm giúp học sinh sau khi
trả lời được hệ thống câu hỏi sẽ ghi nhớ nhanh hơn, dề dàng hơn.
C©u hái nhËn thøc

Vì sao Đảng, Chính
phủ và Hồ Chí Minh
kí với thực dân Pháp
Hiệp định Sơ bộ
6.3.1946?.

Một là: Đánh Pháp
trước khi Pháp đưa
quân ra Bắc. Như
vậy cùng một lúc

Hai là: Hòa với
Pháp để đuổi
Tưởng về nước,
loại bớt một kẻ thù
nguy hiểm, kéo dài
thời gian hòa bình
để chuẩn bị lực
lượng về mọi mặt
chống Pháp sau này

Đảng ta đã lựa chọn
con đường thứ 2 vì
đất nước ta lúc này
vô cùng khó khăn
không thể một lúc
đánh nhau với nhiều
kẻ thù.Bởi lúc này
Pháp đã đưa quân ra
Bắc với danh nghĩa
chính thống

Chẳng hạn việc tổ chức hoạt động nhịp nhàng, có điểm nhấn, cuốn hút
người tham gia khi dạy mục III - Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo
vệ chính quyền cách mạng. Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu sự bắt tay
hòa hoãn giữa quân Trung Hoa Dân quốc và Pháp thông qua Hiệp ước Hoa Pháp (28.2.1946). Theo Hiệp ước này Pháp nhường cho Trung Hoa Dân quốc
một số quyền lợi về kinh tế trên đất Trung Quốc. Ngược lại Pháp sẽ đưa quân ra
Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật
Bản. Điều này đã vi phạm trắng trợn đến chủ quyền của dân tộc Việt Nam.
Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ ta phải có chủ trương, sách lược mềm
dẻo để đối phó với âm mưu thâm độc của kẻ thù.

Sơ đồ tư duy: Những nội dung chủ yếu của lịch sử Thế giới sau 1945
16


Xu thế hòa hoãn, hòa
dịu trong quan hệ đối
ngoại .
Các nýớc đang ra sức
điều chỉnh chiến lýợc
phát triển lấy kinh tế
làm trọng điểm

Trật tự thế giới đa
cực nhiều trung tâm
đang hình thành.
Xu thế
phát triển
của thế giới
sau chiến
tranh lạnh.

Nhiều khu vực diễn
ra xung đột nội
chiến, tranh chấp
lãnh thổ

Xu thế chung : Hòa bình ổn định, hợp tác phát triển
Giáo viên nên sử dụng trò chơi “Vượt chướng ngại vật” – Trích từ game
show “ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH OLIMPIA” (hoặc trò chơi khác có tính tương tự)
để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời gây ấn tượng (tạo điểm nhấn) để giúp

Mỗi miếng ghép tương ứng với một sự kiện lịch sử được nêu ra có chố sai
cần sửa cho đúng hoặc trả lời đúng thông tin lịch sử. Mỗi câu trả lời đúng được
1 điểm và miếng ghép mở ra. Trả lời đúng sự kiện sau 3 miếng ghép được 5
điểm, sau 4 miếng được 4 điểm, sau 5 miếng được 3 điểm. Các câu hỏi gợi ý:
* Câu hỏi 1: Hội nghị Ianta được triệu tập với sự tham gia của 3 cường
quốc trụ cột đã đưa ra nhiêu quyết định quan trọng là tiên đê cho sự hình thành
2 hệ thống chính trị. Đó là các hệ thống chính trị nào?
Đáp án: Hệ thống XHCN và hệ thống TBCN

* Câu hỏi 2: Hãy sử lại câu sau cho đúng: “Sau Chiến tranh lạnh, Mĩ ra
sức thiết lập trật tự đa cực”
Câu đúng: “Sau Chiến tranh lạnh, Mĩ ra sức thiết lập trật tự Một cực”

Câu hỏi 3: “Vào nửa sau những năm 60 của thế kỷ XX, năm nước Đông
Nam Á đã thành lập ASEAN, đó là những nước nào?”
Đáp án: Inddooneexxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan.
18


Câu hỏi 4: Hãy sửa lại câu sau cho đúng: “Đông Âu tan giã, hệ thống thế
giới của CNXH không còn tồn tại.”
Câu đúng: “Liên xô tan giã, hệ thống thế giới của CNXH không còn tồn tại.”

Câu hỏi 5: Hãy sửa lại câu sau cho đúng: “Sau Chiến tranh lạnh, thế giới đã
và đang chứng kiến xu thế khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhưng
chiến tranh, xung đột vẫn diễn ra ở nhiêu nơi.”
Câu đúng: “Sau Chiến tranh lạnh, thế giới đã và đang chứng kiến xu thế
toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhưng nội chiến, xung đột vẫn diễn
ra ở nhiêu nơi.”


Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
Cao trào cách mạng 1930-1931 và sự thành lập Xô Viết Nghệ- Tĩnh
Thành lập mặt trận dân chủ Đông Dương
Bác Hồ về nước và chủ trì Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8
20


1945
1946
1951
1954
1959-1960
1960
1968
1973
1975
1976
1981
1986
1991

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
Tổng tuyển cử bầu quốc hội; Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược
Đại hội lần thứ II của Đảng- Đại hội kháng chiến thắng lợi
Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ; Hội nghị Giơnevơ về việc lập lại hòa
bình ở Đông Dương. Miền Bắc xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục cách
mạng DTDCND
Miền Nam Đồng khởi
Đại hội lần thứ III của Đảng

phong trào đồng khởi năm 1960?
* Ô hàng ngang số 3; gồm 08 chữ cái: Đây là cụm từ chỉ hành động khi các
tầng lớp nhân dân nhất tê đấu tranh?
* Ô hàng ngang số 4; gồm 10 chữ cái: Đây là loại vũ khí thô sơ có ở bất cứ
nơi đâu ở Miên Nam mà nhân dân có thể tự trang bị cho mình để đánh Mĩ –
Ngụy?
21


* Ô hàng ngang số 5; gồm 07 chữ cái: Đây là một trong những địa phương
nổi dậy đấu tranh vũ trang (vào tháng 8 năm 1959)?
* Ô hàng ngang số 6; gồm 08 chữ cái: Theo nghị quyết của Hội nghị này,
Việt Nam bị chia cắt thành hai miên Nam – Bắc?
- Câu hỏi ô mạo hiểm: Đây là quê hương của những sản phẩm nổi tiếng từ
Dừa?

Tóm lại: Sử dụng hệ thống câu hỏi kết hợp trò chơi cùng các kỹ thuật
khác nhau như: Lập sơ đò tư duy, lập bảng niên biểu, sử dụng hình vẽ, tranh ảnh
trong sách giáo khoa và sử dụng các đồ dùng trực quan do giáo viên và học sinh
tự sưu tầm, tự làm, bổ sung cho sách giáo khoa là một điều hết sức cần thiết có
tác dụng lớn lao trong dạy học lịch sử.
2.6. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy ở các năm học 2014 – 2015 và 2015 – 2016, tôi
đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả
rất khả quan. Tôi nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với
chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học
sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu
biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến
thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu
thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng việc áp dụng đề tài này học sinh sẽ đạt

0
0
0
0
0
4
22


12S

30

14 46,67

16

53,3
0
0
3
12P
32
15 46,88
17 53,1
0
0
2
* Kết quả cụ thể của năm học 2015 - 2016:
Giỏi

5
12A 36
31 86,11
5 13,89
0
0

0

0

0

0

0

0

0

0

Yếu
SL
%
0
0

Kém

Khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong quá trình giảng dạy, bản
thân tôi đã rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Trong mỗi tiết dạy giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo và phân bổ thời
gian hợp lí để học sinh tiếp nhận thông tin một cách thuận lợi nhất.
- Sử dụng linh hoạt các câu hỏi phù hợp với nội dung bài dạy tùy theo
khối lớp và đối tượng học sinh mà vận dụng.
- Khi nêu câu hỏi giáo viên cố gắng sử dụng các câu hỏi ngắn, gọn, đủ ý,
đơn giản dễ hiểu gợi sự suy nghĩ và tư duy của học sinh. Không nên sử dụng
câu hỏi "có” hay “không” và "đúng” hay "sai” mà phải sử dụng câu hỏi phát
huy tính độc lập tư duy ở các em.
- Khi tổ chức cho học sinh tiếp nhận thông tin, giáo viên chú ý sử dụng
câu hỏi gợi mở để giải quyết những vấn đề trọng tâm của bài học. Cần kết hợp
các phương tiện dạy học khác như đồ dùng trực quan, hình ảnh, lược đồ... và
các thao tác sư phạm để nâng cao hiệu quả giờ dạy.
- Ngoài việc nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, giáo viên phải thường xuyên
nghiên cứu thêm tài liệu tham khảo để xây dựng các câu hỏi trong các tiết dạy
và vận dụng linh hoạt chúng đối với mỗi loại đối tượng học sinh.
- Cần tạo cơ hội cho học sinh trong cả lớp trả lời thông qua phương pháp
thảo luận nhóm. Tránh việc trình bày nhồi nhét làm cho không khí giờ học
căng thẳng, nặng nề khiến các em sợ học. Việc tạo ra một giờ học với không
khí thoải mái, nhẹ nhàng cũng là một trong những điều kiện tạo nên một giờ
dạy thành công.
Phần thứ ba – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Việc khai thác hình thức phát vấn học sinh trong dạy học môn Lịch sử
được vận dụng hiệu quả trong các tiết học sẽ giúp học sinh đạt được kết quả học
tập cao nhất về tất cả các mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển. Đây là hoạt
23



XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 16 tháng 05 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Lịch sử 12, Nxb Giáo
dục, năm 2011.
2. Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Sách giáo viên Lịch sử 12, Nxb Giáo
dục, năm 2008.
3. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Xuân Trường (đồng chủ biên), Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử lớp 12, Nxb Giáo dục, năm
2009.
4. Phan Ngọc Liên, Một số chuyên đề về phương pháp dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, năm 2000.
5. Nguyễn Hỉa Châu, Nguyễn Xuân Trường, Giới thiệu giáo án Lịch Sử
12, Nxb Hà Nội, năm 2008
6. Trần Văn Trị, Phương pháp dạy học Lịch sử, Nxb Giáo dục, năm 2000.
7. Nguyễn Văn Hồng, Mấy vấn đề về lịch sử Châu Á và lịch sử Việt Nam
một cách nhìn, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội, năm 2001.
8. Kịch bản thi “Đường lên đỉnh Olimpia” VTV# - Đài truyền hình Việt
Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status