MỤC LỤC
Mục
Phần I:
I.1.
I.2.
I.3.
I.4.
Phần II:
II.1.
II.1.1.
Nội Dung
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Giáo dục đạo đức và vai trò của người GVCN
đối với GDĐĐHS trong tường THPT
II.1.2.
Một số quan điểm tích cực của Phật Giáo về
giáo dục đạo đức cho giới trẻ ngày nay
II.2.
Thực trạng vấn đề
II.2.1.
Vài nét về thực trạng giáo dục đạo đức, lối sống của
học sinh trường THPT Ngọc Lặc trong những năm
qua
5
8
8
9
10
10
11
11
13
14
16
20
20
21
22
22
1
I. MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài
Tôi từng nghe ở đâu đó câu nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời
khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của nhân loại”. Ở bất cứ thời đại nào,
thanh thiếu niên cũng là mầm non tương lai của tổ quốc và dân tộc. Bởi vậy mà
Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục (GD) Việt Nam luôn chú trọng giáo dục
toàn diện “đức-trí-thể-mỹ” cho học sinh (HS) ở tất cả các cấp học, đặc biệt coi
trọng giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho thế hệ trẻ. Bác Hồ đã từng dạy: “Đạo đức
là cái gốc rất quan trọng, nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con
người bình thường và cuộc sống xã hội cũng sẽ không phải là cuộc sống xã hội
hoạt trong thực hiện nhiệm vụ, luôn tìm tòi sáng tạo. Bởi cuộc sống luôn có
những biến đổi không ngừng và con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội,
2
cho nên giáo dục cần phải vận dụng nhiều phương thức khác nhau nhằm đạt đến
những giá trị cao nhất của con người, nhất là giáo dục về đạo đức lối sống.
Trên con đường tìm kiếm những tri thức và phương pháp hữu dụng, tôi bắt
gặp những tư tưởng nhân văn tiến bộ của Phật giáo (PG), trong đó hàm chứa
nhiều giá trị quý báu về giáo dục nhân cách sống cho con người. Tôi nhận thấy,
Phật giáo thế giới cũng như Phật giáo Việt Nam (theo quan điểm chính thống, cơ
bản gồm những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – chứ không phải Phật
giáo tín ngưỡng) đều nhằm giáo dục và xây dựng con người thành những người
có ích, vì thế nó cũng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp GD Việt Nam ngày nay,
nhất là đối với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, trong đó có lứa
tuổi HS THPT.
Qua một thời gian nghiên cứu lí luận và thực hành vận dụng những quan
điểm tích cực của PG và Phật pháp ứng dụng trong dạy học một cách có hiệu
quả trong việc giáo dục đạo đức cho HS năm học 2016-2017, tôi đã đúc kết
thành SKKN với chủ đề: Nâng cao chất lượng GDĐĐHS nhờ vận dụng những
quan điểm tích cực của PG trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Ngọc
Lặc.
I.2. Mục đích nghiên cứu
-Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và thực tiễn vận dụng những tư tưởng tiến bộ
của PG vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho HS ngày nay, để đề ra những
giải pháp cụ thể và hiệu quả cho người làm công tác giáo dục, GVCN lớp có thể
áp dụng nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS trường THPT Ngọc
Lặc.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
thành đối với Đảng, hiếu với dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân
ái, cần cù lao động, liêm khiết và chính trực. Đó là đạo đức XHCN, là đạo đức
của cá nhân, tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực, tích cực, khác
với đạo đức vị kỉ, cá nhân. GDĐĐHS gắn chặt với giáo dục tư tưởng - chính trị,
giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa, dân tộc, giáo dục pháp luật
Nhà nước XHCN, cung cấp cho HS những phương thức ứng xử đúng đắn trước
những vấn đề của xã hội… Giúp cho các em có khả năng tự kiểm soát được
hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện
tiêu cực, lệch lạc về lối sống. [5]
Trong trường THPT, “GVCN là người trực tiếp quản lí toàn diện tập thể HS
một lớp học để triển khai các tác động giáo dục, các hoạt động giáo dục nhằm
đạt mục tiêu giáo dục.” [2]. GVCN là người thực hiện sự phối hợp liên kết bền
chặt với giáo viên bộ môn, các đoàn thể trong nhà trường và giữa “Gia đình Nhà trường - Xã hội”.
GDĐĐHS là một công việc đòi hỏi sự kiên trì, cần phải có tâm huyết với
nghề, có phương pháp chủ nhiệm tốt và một kế hoạch toàn diện, hợp lý. Từ việc
tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình, năng lực từng học sinh, học sinh có hoàn
cảnh khó khăn, học sinh cá biệt…đến việc xử lí mọi tình huống với học sinh,
phụ huynh, nhà trường và xã hội. Đòi hỏi cần phải có sự nghiêm minh của người
thầy(cô), đồng thời cần phải có tấm lòng yêu thương, thể hiện trách nhiệm, lòng
vị tha như một người cha, người mẹ đối với con cái, thông cảm, chia sẻ niềm vui
nỗi buồn, giúp các em vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự và cho các
em những lời khuyên bảo chân tình, tạo được niềm tin và động lực cho học sinh
phấn đấu hoàn thiện.
Hình ảnh người thầy (cô) trong trường THPT ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển nhân cách, lối sống của HS. Chính vì vậy GVCN (và tất cả những ai
được gọi tiếng thầy-cô) không những cần năng lực chuyên môn mà đòi hỏi phải
thật sự là tấm gương sáng về tác phong, tư cách đạo đức, chuẩn mực trong trang
phục, lời nói, cách ứng xử… có như vậy lời nói của GVCN mới có trọng lượng
đối với HS, việc GDĐĐ mới có hiệu quả.
rằng: “Hủy diệt là thuộc tính của vạn vật trên thế gian này. Các con hãy tự cứu
lấy mình với sự chuyên cần”.
Có thể nói, quan niệm về từ bi, hỉ xả và làm việc thiện là một trong những
quan niệm giá trị nhất của Phật giáo. Nó không chỉ giúp con người sống cuộc
đời đạo đức, lành mạnh mà còn giúp ngăn ngừa và vượt qua các tệ nạn xã hội
(nhất là trong xã hội ngày nay). Đồng thời nó kích thích con người yêu thương
lẫn nhau và làm việc thiện (nhất là trong mặt trái của nền kinh tế thị trường ngày
càng nhiều người sống ích kỷ, mưu lợi cho cá nhân, suy đồi nhân cách). Nếu có
nhiều quốc gia và người dân thực hành các pháp hoàn thiện như Đức Phật đã
thực hành thì chúng ta sẽ xây dựng được một cộng đồng chia sẻ, đùm bọc nhau
trong tình thân ái. Vì thế, Hồ Chí Minh cũng đã nhận xét: “Tôn chỉ mục đích
của đạo phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mĩ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và
no ấm”. [3]
* Trong mối quan hệ giữa con người với con người, tư tưởng Phật giáo
luôn hướng đến việc xây dựng các mối quan hệ bình đẳng, ôn hòa, tôn trọng
lẫn nhau:
5
- Về vấn đề bình đẳng giới: Bình đẳng giới tính và nữ quyền thuộc về những
vấn đề quan trọng nhất của thời đại mới. Trong đa số các nền văn hóa, giới nữ
thường chịu nhiều bất công. Do đó đấu tranh bình đẳng giới thường đồng nghĩa
với đấu tranh cho nữ quyền. Ở Việt Nam hiện nay, công tác đấu tranh cho bình
đẳng giới vẫn đang là một trong những nội dung quan trọng trong việc xây dựng
một xã hội bình đẳng. Trong cuộc đấu tranh này, sự đấu tranh về tư tưởng là điều
quan trọng nhất, bởi khi nhận thức thay đổi thì hành động cũng thay đổi theo. Về
mặt tư tưởng bình đẳng giới, thì nhiều tạp chí cũng đã chỉ ra Phật giáo chứa
đựng những tư tưởng rất thiết thực. …
- Tư tưởng Phật giáo luôn hướng con người có thái độ hành xử công bằng
thực sự chính là một bộ giáo dục uyên thâm. Hết thảy thế gian này không chỗ
nào không gói gọn trong phạm trù giáo dục của Đức Phật.
6
Đức Phật Thích Ca sinh ra trong dòng tộc cao quý, những thứ Người nhận
được gần như đều thuộc giáo dục quý tộc, nhưng lúc Người tiến hành triển khai
giáo dục, thì hoàn toàn lại đứng trên lập trường tất cả chúng sinh bình đẳng để
thí giáo. Vì vậy, cách làm và tư tưởng giáo dục của Người là thuộc đại chúng
hóa, dân chủ hóa. Mục đích giáo dục của Đức Phật không chỉ là mở mang, phát
hiện tiềm năng hoặc là truyền đạt kinh nghiệm cho chúng sinh, mà điều quan
trọng nhất là cung cấp phương pháp giải thoát tự ngã cho tất cả chúng sinh.
Đức Phật giáo dục (dạy dỗ) đệ tử, không dùng đến biện pháp la mắng
đánh đập, cũng chẳng cần dùng đến cách cự tuyệt, quở trách, phần lớn Người
đều dùng phương thức cử thí (nêu ra ví dụ) hoặc khích lệ, để đệ tử biết được đời
người tốt lành, từ đó mà không làm tổn thương đến danh dự của họ. Khả năng
đặc biệt nhất của Đức Phật là biết quan sát căn cơ của từng đối tượng mà dụ dẫn
dạy bảo. Đồng thời còn khơi gợi “tự ngã giáo dục” (tự giáo dục), như thiên kinh
vạn luận đều hướng dẫn đại chúng cách phát hiện tự tính, tự yêu cầu, tự giải
thoát. Đức Phật rất chú trọng giáo dục tự tâm. [4]
Có thể tóm nêu mấy phương pháp giáo dục của Đức Phật như sau:
1- Mọi người đều nhận được sự giáo dục như nhau (hữu giáo vô loại): Đức Phật
giáo dục chúng sinh, không phân nghèo giàu quý tiện, không từ kẻ trí người ngu
hay cơ lợi tính thuần, Người đều giúp đỡ, giáo hóa trên tinh thần bình đẳng
không phân biệt.
2- Dạy dỗ không biết mệt mỏi (hối nhân bất quyện): Đức Phật không vì chúng
sinh lì lợm, ương bướng mà quăng bỏ chúng, trái lại diễn thuyết vô lượng pháp
môn, làm lợi ích chúng sinh. …
3- Phương tiện thiện xảo: Đức Phật mượn “giấy gói đàn hương” và “dây buộc
bàn Thị trấn huyện Ngọc Lặc thuộc gia đình làm ăn kinh tế, buôn bán, hoặc là
cán bộ, công chức. Còn lại là học sinh con em nông thôn và trong các xã xa thị
trấn, điều kiện kinh tế khó khăn.
- Trải qua bề dày giáo dục hơn 50 năm, nhà trường đã đạt được nhiều thành
tích rất đáng tự hào với biết bao nhiêu thế hệ học sinh thành đạt, trở thành những
công dân có ích cho xã hội… Trong những năm gần đây, chất lượng giáo dục
toàn diện ở trường cũng đạt được những kết quả khả quan. Đa số các em đều có
ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách của mình và phấn đấu
học tập tốt. Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thì tỉ lệ HS vi phạm các chuẩn
mực đạo đức ở các mức độ khác nhau ngày càng gia tăng. Theo thống kê từ Ban
nền nếp nhà trường trong năm học trước (2015-2016) tỉ lệ HS vi phạm các
chuẩn mực đạo đức quả thực là một con số không nhỏ:
+ Số HS có hành vi vi phạm nhiều nhất là: Nói tục, chửi thề, gây gổ, đánh
nhau, trốn học, chơi games, bỏ giờ, gian lận trong thi cử… (Ở mức độ thỉnh
thoảng chiếm khoảng 85 %, và mức độ thường xuyên khoảng 15%). Hiện tượng
khiến phụ huynh và thầy cô đau lòng nhất là tình trạng học sinh gây gổ đánh
nhau, không chỉ có học sinh nam, mà có cả học sinh nữ, diễn ra cả bên trong và
bên ngoài trường, nguyên nhân chủ yếu là do xích mích trong tình bạn, tình yêu,
kết bè, kết nhóm, do ảnh hưởng của phim ảnh, các trò chơi bạo lực trên mạng…
+ Hiện tượng học sinh bỏ giờ, trốn học chủ yếu rơi vào những em chưa có ý
thức trong học tập, động cơ học tập không rõ ràng, thiếu sự quan tâm của gia
đình, do học yếu, ham chơi nên bị bạn bè lôi kéo, rủ rê…
+ Ngoài ra, số học sinh có những hành vi vi phạm như: gian lận trong thi
cử, hút thuốc lá, uống rượu/bia vô lễ với giáo viên, chơi bài, cá độ, vi phạm luật
giao thông cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể.
Điều này gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường.
8
với gia đình HS trong công tác GDĐĐ.
II.2.2. Chất lượng GDĐĐHS lớp 10A4 năm học 2015-2016 và đặc điểm tình
hình đầu năm học 2016-2017:
- Năm học 2015-2016 lớp 10A4 có tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt
chiếm khoảng 61%, khá 27% và trung bình 12%
- Vào đầu năm học 2016-2017 tôi bắt đầu nhận lại lớp chủ nhiệm và qua
khảo sát ban đầu, tỉ lệ trên hầu như không thay đổi, cụ thể hơn về tình hình đạo
đức của lớp:
Nhìn chung các em đều ngoan, biết vâng lời thầy cô giáo, một số em rất
tích cực trong cả học tập và mọi hoạt động. Song phần lớn các em đều có đặc
điểm là lười lao động, ham đọc truyện hoặc ham xem điện thoại vào các giờ ra
chơi, thậm chí cả trong giờ học, lười học bài cũ ở nhà, các em có quan niệm lệch
lạc về giáo dục, chỉ tập trung chú ý ở một số môn học khối, không chú ý hoặc
9
không học nghiêm túc các môn như GDCD, GD thể chất… một bộ phận HS
(chủ yếu gồm các HS nam và một số ít HS nữ) thường xuyên vi phạm nội quy
trường lớp, kết bè phái, rủ nhau đi chơi điện tử, đi ăn chơi quán xá, uống
rượi/bia, có hành vi vi phạm khi tham gia giao thông, đánh nhau, nghỉ học
không xin phép, hùa theo nhau cười nói tự do, thiếu ý thức trong một số giờ học
gây ảnh hưởng đến giờ dạy của GVBM và tập thể lớp. Những HS ngoan gọi một
số bạn như thế là “nhây”, là “lầy”…
- Về HS cá biệt: theo những thông tin của năm học trước, và quan sát ban
đầu thống kê được trong lớp có 5 HS được coi là “cá biệt” (4HS nam và 1 HS
nữ), trong đó 2 HS thuộc gia đình có điều kiện, là con một nên được nuông
chiều, sinh ra tâm lí kiêu ngạo thích thể hiện, hay có biểu hiện vô lễ với giáo
viên, tâm lí không cần học, đặc biệt rất lười lao động, vô tổ chức về mặt thời
gian. Một em mẹ mất sớm, ở cùng bác ruột để ăn học lại có những hành vi như
II.3.2. Giải pháp 2: Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “mỗi thầy cô giáo là một
tấm gương đạo đức và sáng tạo”
Theo quan điểm “lấy mình làm gương” trong giáo dục của PG cũng như
theo lí luận GD cơ bản, chúng ta nhận thấy để góp phần nâng cao chất lượng
GDĐĐ cho HS, trước hết đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và mỗi thầy cô giáo
cần là một “tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, có ý thức tu dưỡng, rèn
luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, thường xuyên tự học nâng cao
trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và sáng tạo trong các hoạt động giáo
dục. Muốn vậy cần:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tọa đàm, hội thảo về những phẩm chất đạo
đức nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học, nhận thức đúng vai trò, vị trí của cuộc vận
động.
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện cuộc vận động một cách khoa học, phù
hợp với thực tiễn của nhà trường và đơn vị.
- Tổ chức cuộc vận động gắn liền với đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước,
dạy tốt - học tốt và lồng ghép với các cuộc vận động khác đang tổ chức trong
nhà trường và đơn vị.
- Tăng cường công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện cuộc vận động.
II.3.3. Giải pháp 3: GVCN khéo vận dụng những những bài học của PG vào
các tình huống sư phạm nhằm GDĐĐ cho HS
Quan trọng hơn cả người thực hiện (giáo viên, nhà giáo dục) phải biết cách
lồng ghép, đưa vào một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, hợp lý, hợp tình huống những
tư tưởng tiến bộ của PG trong các tiết dạy, các tiết sinh hoạt đầu giờ, trong
những bài nói chuyện, những buổi hoạt động ngoại khóa, những lần giảng giải,
căn dặn, khuyên bảo về kỹ năng, cách sống… cho học sinh.
Chẳng hạn:
- Trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, ngoài cách sinh hoạt theo các
chủ đề thông thường (hát, chữa bài tập, thu tiền…), GVCN có thể xen kẽ vào
chủ đề kể chuyện (điều này cần thông qua trước với Ban nền nếp và Đoàn
vào giáo lý nhân quả của Phật giáo để giải thích cho các em nghe về điển tích
“hạt đậu trắng, hạt đậu đen” (trong môn học GDCD có thể dùng để minh họa
cho bài học quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập), GVCN
dùng nó để rèn luyện các em thói quen làm việc thiện cho chính mình. Nhắc các
em, buổi tối trước khi đi ngủ, hãy tự phản tỉnh lại bản thân, tự nhận xét, đánh giá
lại những hành vi của mình trong một ngày, nếu tốt thì cho đậu trắng, nếu sai thì
cho đậu đen (vào hai chiếc lọ), (hoặc dùng ghạch mực đỏ - ghạch mực đen nếu
không có đậu) và thường xuyên đếm kỹ xem hạt nào nhiều hơn để tự điều chỉnh
suy nghĩ, ngôn ngữ và hành vi của mình cho tốt hơn…
- Trong suốt quá trình GDĐĐ cho HS cần khuyến khích các em tìm về
những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại được chứa đựng trong các tôn giáo,
đặc biệt là “Bát chánh đạo” và “Tam học” của Phật giáo. Ngày nay, từ phương
Tây cho tới phương Đông, giáo dục thường nhắm đến hiệu quả về mặt kinh tế xã hội, do vậy thường nghiêng về giáo dục tri thức, về khoa học công nghệ, về
kỹ năng nghề nghiệp cho người học mà thường coi nhẹ việc phổ biến những giá
trị đạo đức cho học sinh. Trong khi đó, giáo dục ở nhiều nơi đều nhấn mạnh phải
phát triển toàn diện cho người học. Trong thực tế, giáo dục nhân cách sống cho
người học là một việc vô cùng quan trọng nhưng không hề đơn giản, thậm chí
còn khó khăn hơn rất nhiều lần so với việc trang bị về tri thức, kỹ năng. Do đó,
chúng ta không chỉ rao giảng, khuyên bảo một cách máy móc về các bài học đạo
đức, lối sống theo những mô - tip quen thuộc. Điều quan trọng là phải làm cho
học sinh, thanh niên tự ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện nhân cách
sống và khuyến khích họ chủ động tìm về những giá trị tốt đẹp của truyền thống
dân tộc, giá trị đạo đức, lối sống của Phật giáo… Chúng ta hãy làm điều này
một cách tự nhiên, không áp đặt, không ra lệnh mà hãy làm người gợi ý, động
viên, khuyến khích cho họ. Hãy để họ tự lựa chọn, tự “chiêm nghiệm”, tự “tu
tập” những tư tưởng đạo đức tích cực của Phật giáo hay bất kỳ một giá trị đạo
đức tốt đẹp nào khác mà họ thấy phù hợp và yêu thích.
12
lên kế hoạch tổng thể và chi tiết ngay từ đầu năm học về việc kết hợp với phụ
huynh trong GDĐĐHS, nắm vững thông tin về gia đình của từng hs (càng nhiều
thông tin càng tốt, nhất là với gia đình của những em học sinh cá biệt), lưu trữ
thông tin liên hệ đầy đủ với tất cả phụ huynh, sao cho có thể liên hệ được một
cách nhanh chóng kịp thời, tiện lợi cho cả đôi bên.
- Tổ chức các cuộc họp phụ huynh định kỳ: Ngoài việc thực hiện tốt các
nội dung cơ bản của cuộc họp (thông báo về chương trình học, kế hoạch hoạt
động của nhà trường, của lớp trong năm học, về cách đánh giá học sinh, bầu Ban
đại diện CMHS, thông báo các khoản đóng góp, thu thập thông tin về gia đình,
phụ huynh HS, địa chỉ, số điện thoại liên hệ, chữ kí mẫu của tất cả phụ huynh,
cung cấp số điện thoại của GVCN…). GVCN cần dành thời gian ưu tiên và
dùng thiện ý để hướng sự bàn luận của CMHS vào việc thảo luận về công tác
giáo dục đạo đức, lối sống cho con em họ.
13
- Ngoài các cuộc họp phụ huynh định kỳ, GVCN cố gắng lên kế hoạch và
lựa chọn một thời điểm thích hợp nào đó (như vào ngày gia đình Việt Nam, hay
ngày HS - SV Việt nam…) tổ chức một cuộc hội thảo ngắn với toàn thể CMHS
của lớp, mục đích giao lưu, thảo luận giữa gvcn với phụ huynh và giữa các phụ
huynh với nhau về việc làm thế nào để các em trở thành những “con ngoan, trò
giỏi” của nhà trường, gia đình và xã hội. Trong hội thảo, GVCN có thể khéo léo
đưa vào các bài giảng có ý nghĩa rất tích cực và dễ hiểu, dễ vận dụng của Phật
pháp ứng dụng, như bài “Nuôi dạy con trong thời hiện đại” của Thầy Thích
Phước Tiến (Phó Tổng Thư Ký Viện Nghiên Cứu Phật Học, Ủy viên Ban Hoằng pháp T.Ư
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Ban Văn Hóa Phật giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, Trụ trì
Tu Viện Tường Vân), và nhiều bài khác nữa về giáo dục con cái, GD hôn nhân và
hạnh phúc gia đình…
còn hơn bỏ sót”, càng có thể quan tâm đặc biệt đến nhiều em càng tốt. Theo đó,
14
GVCN lên kế hoạch giáo dục đối với từng em. (Việc này nên hoàn tất trong
vòng một tháng sau khi nhận lớp chủ nhiệm).
- Dựa vào những quan điểm tích cực của Phật giáo về giáo dục và cảm hóa
con người, GVCN phải luôn giữ được trạng thái bình tĩnh và kiên trì trong giáo
dục HS cá biệt, học tập các phương pháp giáo dục của Đức Phật như đã nêu ở
phần lí luận. Người GVCN khi đứng trước những học sinh có hành vi không
mong đợi phải biết kiềm chế, biết lắng nghe tích cực, hiểu học sinh, tôn trọng
học sinh để hiểu được nguyên nhân, mục đích của những hành vi tiêu cực, cũng
như những khó khăn trở ngại về mặt tâm lí của HS… từ đó có cách ứng xử phù
hợp. Chẳng hạn:
+ Với HS có hành vi nhằm thu hút sự chú ý, GVCN cần giảm thiểu hoặc
không để ý đến hành vi của HS lúc đó mà chủ động chú ý đến học sinh vào lúc
khác, những lúc phù hợp và dễ chịu hơn. Khi các em có hành vi GVCN có thể
nhìn nghiêm nghị nhưng không nói gì, hướng các em vào hành vi có ích hơn,
nhắc nhở cụ thể (tên, công việc phải làm) cho học sinh lựa chọn có giới hạn.
+ Với HS có hành vi nhằm thể hiện quyền lực, GVCN nên bình tĩnh rút
khỏi cuộc đôi co, xung đột, không “tham chiến” với HS, để học sinh nguôi, hiểu
cảm xúc của học sinh và thể hiện mình hiểu cảm xúc đó, chia sẻ cảm xúc của
mình về tình huống đó, cùng trao đổi để phòng tránh vấn đề tương tự trong
tương lai, khi có cơ hội nói chuyện với các em, GVCN tận dụng để xen vào
những câu chuyện, những câu nói mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc của Phật giáo
về tính thiện lương, hiền hòa, nhân ái… để cảm hóa và giúp các em chuyển hóa
sức mạnh, quyền lực theo cách tích cực hơn. Đối với những em này cần khích lệ
các em tự quyết định xem mình sẽ làm gì chứ không phải bắt các em làm gì.
+ Với HS có hành vi chống đối, làm ngược, hằn học, lầm lì, trả đũa, GVCN
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Sau một năm nghiên cứu và vận dụng những tư tưởng tích cực của Phật
giáo vào giáo dục đạo đức học sinh trong công tác chủ nhiệm tôi đã thu những
kết quả khả quan:
- Đối với bản thân:
Vẫn biết rằng con người không ai hoàn hảo cả, nhưng tôi chắc rằng bất kỳ
người GVCN tâm huyết nào cũng luôn muốn mình hoàn hảo hơn trong mắt HS.
Bởi vậy họ sẽ luôn tìm tòi, học hỏi những giá trị văn hóa tích cực của nhân loại,
luôn cập nhật những vấn đề hiện đại liên quan tới giáo dục HS. Đối với tôi, sau
khi hiểu và thực hành những tư tưởng tích cực của Phật giáo, nghiên cứu về Phật
pháp ứng dụng vào dạy học trong thời đại ngày nay, tôi nhận thấy, trước hết tự
bản thân sống tích cực và lành mạnh hơn, cố gắng bồi dưỡng năng lực chuyên
môn để làm tốt công tác, không ngừng hoàn thiện bản thân để xứng đáng là “tấm
gương sáng” cho HS noi theo.
Việc thực hành Phật pháp ứng dụng còn giúp tôi luôn có hướng xử lý mọi
tình huống sư phạm với HS, đồng nghiệp, phụ huynh, lãnh đạo…một cách bình
tĩnh, kiềm chế, nhẹ nhàng, khiêm tốn, kiên nhẫn, sáng suốt, nhìn nhận sự việc
thấu đáo, sâu sắc, nhìn thấu tâm tư học sinh để đưa ra những tác động giáo dục
hiệu quả… nhờ đó mà tôi đã thực sự có được cảm giác “thăng hoa” trong sự
nghiệp, đó không phải là những tấm bằng khen hay tiền tài lợi lộc gì, mà đó
chính là những “vị khách qua đò” của tôi với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp, lương
thiện, biết làm chủ cuộc sống và phấn đấu chân chính cho tương lai. Đây thực sự
là cảm xúc nghề nghiệp mà tôi chưa từng có trong suốt gần 10 năm công tác
trước đây, mặc dù khi đó tôi cũng luôn nhiệt tình và trách nhiệm trong công
việc.
- Đối với học sinh và tập thể lớp chủ nhiệm:
Trong năm học 2016-2017, nhờ sự kết hợp tất cả các biện pháp giáo dục cơ
bản của công tác chủ nhiệm và vận dụng những quan điểm tích cực của Phật
giáo trong công tác GDĐĐ HS mà chất lượng đạo đức của học sinh lớp tôi chủ
nhiệm đã được cải thiện rõ rệt. Cụ thể là:
quả cao hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà
trường.
* Dưới đây tôi xin kể một ví dụ:
Em Lê. V. N: được coi là một HS cá biệt, xếp hạnh kiểm trung bình ở năm
học trước, qua hồ sơ, qua GVCN cũ và qua quan sát đầu năm cho thấy những
biểu hiện của em là thường xuyên bỏ học đi chơi điện tử, ngồi trong lớp học
luôn uể oải, kém tinh thần, không chú ý nghe giảng, thường hay nói ngang với
giáo viên, nói tự do trong lớp (các GVBM cho là hỗn láo), tham gia hời hợt các
hoạt động tập thể, lười lao động, chống đối cán sự lớp… Ngay khi nhận lớp tôi
đã có kế hoạch riêng với em, mà chỉ tôi biết. Tôi tích cực quan sát và tìm hiểu
em qua mọi kênh, tôi được biết em đã mất mẹ từ nhỏ, em phải xa bố và em gái
lên ở với nhà bác ruột để ăn học. Bác em là một bác sĩ giỏi của bệnh viện huyện
nhưng lại là người khá độc đoán, gia trưởng (theo như tôi tìm hiểu và tiếp xúc).
Em có đầy đủ điều kiện để ăn học, nhưng em lớn lên trong một môi trường quá
nghiêm khắc và thiếu sự quan tâm thực sự dành cho em. Em không được tham
gia các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao ngoài giờ học như những bạn bè
cùng trang lứa, không được dùng đến máy tính, điện thoại, không được giao lưu,
gặp gỡ bạn bè ở nhà… Khi chẳng may em phạm lỗi ở trường mà bác em biết thì
em sẽ bị chửi phạt, trách móc, thậm chí đánh đòn, dọa đuổi về… Bác gái (bác
dâu) mặc dù tốt với em, chăm sóc cho em lớn nhưng cũng không thể gần gũi, và
quan tâm em thực sự như một người mẹ… Hiểu đến đây tôi lại thấy thương em
17
hơn là trách. Tôi tự hỏi có phải vì sống trong hoàn cảnh như thế, mà em trở nên
như thế?... Em bị cấm đoán “chơi games” và những nhu cầu khác, nên em phải
bỏ học để chơi, em phải nói dối người nhà, nói dối thầy cô để “tự bảo vệ mình”
khỏi những trận lôi đình của bác. Em nói ngang, nói hỗn với thầy cô, cư sử thiếu
tế nhị với bạn bè là do em “chưa biết cách”, chưa có người nhẹ nhàng bảo ban
và thấy tình trạng của em, trông em hoàn toàn bất tỉnh, mặt tím tái, tôi lo nghĩ
đến tình huống ko hay về sức khỏe đối với em bởi như các bạn nói em cũng
không biết uống mà các bạn lớp khác ép em uống dồn dập nên em đã gục
nhanh… Trước hết tôi nhờ một số HS còn ở lại đưa N vào giường nghỉ, tôi cũng
nhận định rằng không thể đưa em về nhà bác bởi tôi hiểu những gì diễn ra sau
đó… Tôi cũng không thể đưa em về nhà mình, bởi nhỡ đâu em có “mệnh hệ” gì
thì tôi biết giải thích sao cho bố em, người nhà em… Vậy là tôi gọi cho dì của
em (người mà tôi thường xuyên liên hệ để trao đổi về em hơn, bởi em ở với bác
18
nhưng người đại diện cho em lúc đi học lại chủ yếu là dì, dì đi họp phụ huynh
cho em hồi đầu năm học và do là cán bộ công chức nên dì cũng nằm trong Ban
đại diện CMHS của lớp). Khi ấy cũng muộn rồi, khoảng hơn 10h tối, gọi một
cuộc không được, gọi thử cuộc thứ hai, và đến lần thứ ba may chị ấy đã nghe
máy, chị bảo vừa đi đón con đi học về. Tôi nhanh chóng trao đổi tình hình với
chị và cùng tìm ra hướng giải quyết. Chị cũng đến và nhận định như tôi, lo N bị
ngộ độc rượu tôi và chị gọi xe đưa N đến trung tâm y tế để truyền, trước khi về
tôi nhờ chị làm thế nào để không cho gia đình bác biết, chị cũng hiểu và làm như
vậy… đêm hôm đó tôi thức trắng vì giận, vì lo. Hôm sau, sáng sớm tôi đã gọi
chị để biết tình hình của N, biết N đã tỉnh và đi học tôi mới thở phào. Nhưng
cũng chiều hôm ấy, theo lịch N đến nhà tôi học kèm, em vẫn đến và có vẻ như
biết việc mình làm tối qua, cũng như “có vẻ biết ơn” vì tôi đã giúp em “thoát
nạn”. Tôi gọi em vào ngồi cạnh, đưa cho em một cốc nước mát, ban đầu em cúi
mặt không nói gì. Tôi bắt đầu kể lại cho em về hình ảnh em tối qua, (mà có thể
khi ấy quá say em không nhớ gì), lúc ấy trông em bất tỉnh, nôn mửa, khó nhìn,
khó chấp nhận… như thế nào, rồi khó khăn mới dìu được em - một cơ thể mềm
nhũn ra xe chở đi truyền, rồi tôi và dì em đã lo lắng cho em ra sao, hiểu cho em
không để bác em biết để bảo vệ em và cho em cơ hội sửa chữa chứ không phải
người GVCN ở trường THTP là người có trọng trách lớn lao trong việc giáo dục
ĐĐHS. Muốn nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh lớp chủ nhiệm thì không
những phải sử dụng thành thạo, uyển chuyển tất cả những biện pháp truyền
thống đã được nhắc đến trong các tài liệu về công tác chủ nhiệm mà còn có thể
vận dụng những tư tưởng tích cực trước mắt và lâu dài cho việc giáo dục đạo
đức học sinh THPT trong thời đại ngày nay.
Nhiệm vụ của mỗi người giáo viên chủ nhiệm là giúp cho học sinh nắm
được những giá trị cốt lõi để làm người. Trong thời đại mới, đó là những giá trị
về đạo đức của con người đang tiến đến một kỷ nguyên mới: Con người lao
động sáng tạo trong một xã hội tri thức, phát triển một nền kinh tế tri thức trong
một thế giới hòa bình, dân chủ và hội nhập quốc tế. Cái thế giới hiện đại ấy sau
khi trải nghiệm riêng tôi thấy nó rất phù hợp với những giá trị của Phật giáo và
cũng được chứng minh trên những tài liệu, tạp chí khoa học. Đó là:
Giúp học sinh yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng tự do, bình đẳng, bác ái,
chống chiến tranh. Yêu thương con người, biết khoan dung và thông cảm, giúp
đỡ những người nghèo khổ, bảo vệ môi trường thân thiện.
Cuối cùng mỗi người phải có ý thức học tập vươn lên đạt tới trình độ phát
triển trí tuệ để làm chủ bản thân mình, xây dựng cho mình một kho tàng tri thức
phong phú để dân tộc mình là một dân tộc thông thái, để thế giới có được một xã
hội minh triết trong tương lai như lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:
“ Tự mình hãy là ngọn đèn của mình”.
GDĐĐ học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở nhà
trường có vai trò định hướng mà người GVCN giữ vai trò sứ mệnh vinh dự và là
người trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển đạo đức, hoàn thành nhân cách ở
người học sinh. Do vậy tôi mong rằng tất cả những người làm công tác “trồng
người” chúng ta hãy khéo vận dụng thêm những giá trị tích cực của Phật giáo
cùng với những tâm huyết bấy lâu của quý vị để không chỉ ứng dụng vào cuộc
sống mà còn vào nghề nghiệp mình đang làm để có được sự an lạc cho mình và
giáo dục nên những con người của thế hệ tương lai “từ bi và trí tuệ”.
nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và quý vị giám khảo để tôi
hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày19 tháng 05 năm2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Bé
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Giáo dục đạo đức cho HS THPT: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Tác giả Lê
Duy Hùng, đăng trên Tạp chí khoa học-ĐHSP TPHCM, 2013
[2]. Tài liệu tập huấn về công tác GVCN trong trường THCS, THPT của Vụ GD trung
học, chủ biên PGS.TS.Nguyễn Thanh Bình (quyển 2), Xb 2011
[3]. Phật giáo và vận dụng tư tưởng PG vào việc GD đạo đức, lối sống cho HS - SV Việt
Nam, PGS.TS Đặng Thanh Chương và ThS. Trần Đình Hùng (ĐHSP Huế), 2013
[4]. Phật giáo và thế tục, NXB. Từ Thư Thượng Hải, tr.118-122 (HT.Tinh Vân - Nguyễn
Phước Tâm dịch), 2008
[5]. Nguồn internet
http://sangkienkinhnghiem.org
https://giacngo.vn/
https://phatphapungdung.com/