Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM cổ phần kỹ thương Việt Nam - Pdf 44

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường với cơ chế cạnh tranh đã và đang tạo ra sự phát triển ngày
càng đa dạng về chủng loại và hoàn thiện về chất lượng các loại hàng hóa, dịch vụ.
Thông qua cạnh tranh cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đều được hưởng lợi, nền
kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia và thế giới đều phát triển. Đối với doanh nghiệp có
được ưu thế cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh tốt, doanh nghiệp sẽ có vị thế cao trên
thị trường, thu hút được nhiều khách hàng…phát triển bền vững, là cơ sở quan trọng
để có được lợi nhuận kinh doanh cao. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn hướng tới
mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong bối cảnh hiện nay, tự do hóa tài chính, hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới không còn là sự lựa chọn của bất kỳ một quốc gia nào, mà là xu thế tất yếu bắt
buộc các quốc gia phải thực hiện để đưa nền kinh tế của quốc gia mình đi vào quỹ đạo
chung của kinh tế thế giới. Với Việt Nam tự do hóa tài chính là lựa chọn tất yếu trong
điều kiện thực hiện các cam kết hội nhập, đặc biệt các cam kết trong khuôn khổ WTO.
Việc gắn hội nhập kinh tế và tự do hóa tài chính với cải cách và nâng cao năng lực và
chất lượng hoạt động của khu vực tài chính trong một lộ trình thống nhất là việc làm
cần thiết, trong đó quan trọng nhất là năng lực của hệ thống ngân hàng. Bởi lẽ hệ
thống ngân hàng Việt Nam là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là
trọng tâm của việc thực thi các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước, nhìn vào
thực trạng năng lực và hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu
quả của hệ thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ
thống ngân hàng Việt Nam tiến gần đến điều kiện đủ cho thành công của quá trình hội
nhập và tự do hóa tài chính. Bản thân các ngân hàng cũng luôn nỗ lực, tuy nhiên, hệ
thống ngân hàng Việt Nam còn nhiều yếu kém trên các mặt, thể hiện ở năng lực cạnh
tranh chưa thực sự mạnh so với các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài…
Hiện tại và tương lai điều này sẽ đe dọa tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động của
các ngân hàng vì năng lực cạnh tranh của một NHTM là cơ sở cho hoạt động kinh
doanh hiệu quả và mức chịu đựng rủi ro cao. Do vậy, năng lực cạnh tranh của NHTM
phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện là điều kiện không thể thiếu ở bất cứ

NHTM khác những nhận thức nhất định về tính tất yếu phải nâng cao năng lực cạnh
tranh và một số những ý kiến về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân
hàng, với mong muốn ngành ngân hàng Việt Nam hoạt động hiệu quả và ngày càng
vững mạnh.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và các danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 3 chương, như sau:
- Chương I: Tổng quan năng lực cạnh tranh của NHTM.
- Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Kỹ thương Việt Nam.
- Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho NHTMCP Kỹ thương
Việt Nam.
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Trong nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau dẫn đến những khái niệm
khác nhau về ngân hàng:
- Theo Peter Rose trong cuốn “ Quản trị ngân hàng thương mại” thì: “Ngân hàng
là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ than toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
- Theo từ điển tài chính ngân hàng thì: “NHTM là tổ chức chịu sự điều tiết về
luật lệ của một nước hoặc pháp luật của một nước và thuộc sở hữu của các cổ đông.
Ngân hàng có nhiệm vụ thu nhận tiền gửi, cấp tín dụng và một số loại dịch vụ tài chính
khác”
- Theo từ văn bản pháp luật gần đây nhất của Chính phủ Việt Nam: Điều 20
Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: “NHTM là ngân hàng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
Như vậy có thể hiểu NHTM là tổ chức tài chính trung gian chuyên hoạt động

và bản thân ngân hàng, ngân hàng sử dụng một phần nguồn vốn lập các quỹ dự trữ
dưới hình thức: tiền mặt, tiền gửi tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc các
chứng khoán có tính thanh khoản cao…
Cấp tín dụng: Đây là hoạt động chính, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra
thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay, chiết khấu thương
phiếu và chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán…
Đầu tư tài chính: NHTM sử dụng nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình
thức đầu tư như góp vốn, liên doanh, mua cổ phần, chứng khoán và các giấy tờ có
giá…nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng.
Sử dụng vốn cho các mục đích khác: mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho
hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở, hệ thống kho bãi và các chi phí khác.
1.1.2.3. Nghiệp vụ trung gian
Là việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng để thu lệ phí hay các
khoản hoa hồng như: Dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ uỷ thác; dịch vụ thanh toán; quản lý
tài sản quý giá; kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ; mua bán hộ chứng khoán, phát
hành hộ cổ phiếu, trái phiếu; tư vấn về tài chính, đầu tư…
1.2. Năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.1. Cạnh tranh giữa các NHTM
1.2.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khi có nhiều chủ thể
kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực và cùng hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận, cạnh tranh sẽ xảy ra trong đó những chủ thể này trở thành đối thủ của nhau.
Như vậy cạnh tranh xảy ra giữa nhiều chủ thể kinh tế có cùng mục tiêu hoạt động,
trong một môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật.. cụ thể.
Đối với các NHTM, cạnh tranh là sự tranh đua giữa các ngân hàng thông qua
rất nhiều phương thức, yếu tố, hành động để giành phần thắng trên thị trường trong
việc thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, thương hiệu…nhằm đạt
được mục tiêu lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng.
Các NHTM cạnh tranh với nhau trong tất cả các hoạt động: huy động vốn, cho
vay, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Và đối thủ cạnh tranh của một NHTM là tất cả các

các ngân hàng đều có hạn trong khi nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao đòi
hỏi các NHTM phải liên kết với nhau trong quá trình tác nghiệp. Đây là sự liên kết tự
nhiên, có tính quy luật và có thể dự báo trước. Trong điều kiện hội nhập sự hợp tác
giữa các NHTM sẽ càng được mở rộng cả về quy mô và chất lượng.
- Cạnh tranh giữa các NHTM phải hướng tới thị trường lành mạnh, tránh rủi ro
hệ thống: Hành vi cạnh tranh của các NHTM có tính nguy hiểm cao vì uy tín và lợi
ích, hoạt động của mỗi ngân hàng có ảnh hưởng mang tính dây truyền đến hệ thống
các quyền lợi khác nhau trong xã hội: người gửi tiền, người vay tiền, các ngân hàng, tổ
chức tín dụng khác. Đây là mối lo thường trực của cơ quan công quyền có chức năng
quản lí cạnh tranh ở mọi quốc gia, vì thế Nhà nước và các NHTM luôn hợp tác với
nhau vì mục tiêu tạo an toàn hoạt động cho toàn hệ thống.
- Cạnh tranh giữa các NHTM phụ thuộc nhiều vào môi trường bên ngoài: Lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, mặt khác các ngân hàng hoạt động trong một
môi trường nhất định ở đó có các đặc điểm kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội
riêng do đó trong cạnh tranh các NHTM sẽ chịu sự tác động từ các nhân tố trong môi
trường đó. Mỗi diễn biến thay đổi của các nhân tố này sẽ tác động nhanh chóng và
mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh và cạnh tranh của các ngân hàng.
- Các NHTM cạnh tranh trên cơ sở có sự can thiệp của ngân hàng Trung ương:
Trong thị trường dịch vụ ngân hàng, mặc dù Nhà nước khuyến khích sự cạnh tranh
nhưng vì mục tiêu giữ ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi của công chúng, Nhà
nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh bằng việc thực thi những chính sách
đặc thù như chính sách tiền tệ hay chính sách kiểm soát đặc biệt. Sự can thiệp này có
thể khiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường dịch vụ ngân hàng có
phần bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của quy luật cạnh tranh.
- Cạnh tranh giữa các NHTM chịu sự tác động của thị trường tài chính quốc tế:
Sự mở rộng quan hệ hợp tác và phạm vi hoạt động của các chủ thể kinh tế nói chung
và các NHTM nói riêng ra thị trường quốc tế làm cho hoạt động kinh doanh của các
NHTM chịu sự ảnh hưởng từ phía đối tác, đồng thời gắn chặt với các diễn biến về tỷ
giá, lãi suất...của thị trường tài chính quốc tế. Các NHTM phải có các chính kinh
doanh và cạnh tranh thích ứng với những diễn biến của thị trường tài chính quốc tế.

điều này lại dẫn đến mức giá cả không cạnh tranh. Trong khi đó mục tiêu của mọi tổ
chức kinh tế trong kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, để đạt được điều đó cần tối thiểu
hoá chi phí và tối đa hóa thu nhập. Như vậy cạnh tranh về giá cả có nhiều hạn chế, vì
nó làm giảm bớt thu nhập của các ngân hàng.
* Cạnh tranh phát triển hệ thống phân phối: Nội dung cạnh tranh này là
việc các ngân hàng đẩy mạnh phát triển hệ thống kênh phân phối và các cách để tiếp
cận, thu hút khách hàng, bao gồm:
- Phát triển kênh phân phối truyền thống: mở rộng hệ thống các chi nhánh, đại
lý, tăng cường hợp tác với ngân hàng, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
- Phát triển kênh phân phối hiện đại: ATM, Home banking, Internet banking, E
Banking…các kênh phân phối hiện đại với ưu thế chi phí giao dịch thấp, tốc độ thực
hiện nhanh, đang dần trở thành xu hướng chung trong kinh doanh ngân hàng.
- Đẩy mạnh các hoạt động quảng cáo, giới thiệu, cung cấp thông tin về sản
phẩm ngân hàng đến với khách hàng. Thiết lập các kênh thông tin giúp khách hàng
tiếp cận và tìm hiểu về sản phẩm dịch vụ tài chính dễ dàng hơn.
Dịch vụ ngân hàng có đặc tính nhanh bão hoà, không thể lưu trữ nên việc xây
dựng các kênh phân phối rất quan trọng trong kinh doanh ở các NHTM, để nhanh
chóng tiếp cận, đưa dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng, giúp nắm bắt kịp thời
nhu cầu và phản ứng của khách hàng, nhằm chủ động hoàn thiện sản phẩm dịch vụ.
* Cạnh tranh về loại hình dịch vụ ngân hàng: Đa dạng hoá dịch vụ tạo ra
nhiều lựa chọn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng. Qua đó tạo cho ngân hàng lợi
thế cạnh tranh. Ngày nay kinh tế, xã hội phát triển nhu cầu dịch vụ ngân hàng gia tăng
nhanh chóng và thường xuyên thay đổi, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng là nội dung
cạnh tranh bắt buộc các ngân hàng phải quan tâm.
* Cạnh tranh về công nghệ ngân hàng: Đây là nội dung cạnh tranh vô cùng
quan trọng, quyết định tính thành bại trong kinh doanh của một ngân hàng. Công nghệ
làm tăng năng suất lao động, giảm thiểu chi phí hoạt động cho ngân hàng, mặt khác
nâng cao chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ đa năng cung cấp cho khách hàng.
Vì thế các ngân hàng rất quan tâm đến vấn đề công nghệ của bản thân và đối thủ để có
chiến lược đầu tư phát triển hợp lý.

Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung và
các tài sản khác. Quy mô vốn chủ sở hữu có thể thay đổi trong quá trình hoạt động của
NHTM.
Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do chịu tác động lớn từ môi trường
kinh tế và đối tượng khách hàng đa dạng, vốn chủ sở hữu là nguồn tài chính quan
trọng hàng đầu để chống đỡ các rủi ro. Đây là nguồn vốn quan trọng dùng để đánh giá
năng lực tài chính của ngân hàng vì nó cung cấp tài chính cho các hoạt động kinh
doanh của NHTM, quyết định sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong
tất cả các hoạt động.
- Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách hàng
do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ khi lựa
chọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách hàng gửi tiền.
- Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giới
hạn bởi các tỷ lệ về giới hạn tín dụng trong mối tương quan với vốn tự có, do đó vốn
tự có càng lớn, càng tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nhiều đối tuợng
khách hàng và nhiều khách hàng lớn, đồng thời nó là cơ sở để khách hàng tin tưởng
vào năng lực cho vay và giải ngân của ngân hàng. Ngân hàng còn có thể đạt mức lãi
suất cho vay hợp lý, cạnh tranh nhờ vào lợi thế quy mô.
- Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng
khác: vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư công nghệ, trang thiết bị máy móc để phát triển
dịch vụ mới và tăng năng suất, tính nhanh chóng, hiệu quả, an toàn tiện cho các dịch
vụ ngân hang hiện tại tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng.
Mặt khác, vốn chủ sở hữu quyết định việc mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động
của ngân hàng. Vốn tự có còn được dùng xác định quy mô huy động vốn, các tỷ lệ giới
hạn tín dụng đối với khách hàng, các tỷ lệ về an toàn hoạt động để làm căn cứ quản lý
và kiểm soát hoạt động của các NHTM. Ở Việt Nam, các tỷ lệ này được quy định
trong luật ngân hàng sẽ được đề cập trong những phần sau. Trong xu thế hội nhập,
nâng cao tính cạnh tranh của vốn tự có là yêu cầu khách quan đối với mỗi NHTM để
đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng và mở rộng hoạt động ra
thị trường tài chính quốc tế.

Ngoài ra còn có các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo, mức trích lập dự
phòng, mức độ tập trung và đa dạng hoá danh mục tín dụng. Ngược lại các chỉ tiêu
trên, những chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì chúng đảm bảo cho việc cấp và thu hồi
các khoản vay của ngân hàng.
* Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh và khả năng phát
triển của NHTM, qua đó phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
vì nó cho thấy năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng so với các đối thủ. Để
đánh giá khả năng sinh lời của NHTM người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Quy mô lợi nhuận sau thuế: là giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế của
ngân hàng trong một thời gian nhất định, thường là một quý, năm. Chỉ tiêu này càng
lớn càng tốt.
+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận: là chỉ tiêu cho biết tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận của kỳ này so với kỳ trước. Tốc độ này càng cao càng tốt, chứng tỏ ngân hàng
hoạt động ngày càng hiệu quả.
+ Cơ cấu thu nhập: Cho biết thu nhập được hình thành từ nguồn nào, từ hoạt
động kinh doanh thông thường hay từ các khoản bất thường. Cơ cấu thu nhập trong đó
có tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động chính của ngân hàng lớn là cơ cấu tốt, phản ánh
tính ổn định của nguồn thu nhập và tính hiệu quả trong hoạt động.
+ Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: ROA (Return on Assets): Tỷ lệ này cho biết
một đồng tài sản của ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập.
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROA = ——————————— x 100%
Tổng tài sản có bình quân
ROA thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản của NHTM và là thông số chủ
yếu về tính hiệu quả của công tác quản lý, cho thấy khả năng của hội đồng quản trị
trong quá trình chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Do đó ROA
càng lớn càng tốt.
+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – ROE (Return on Equity): Là thước đo
hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà các cổ

Đối với thu nhập ngoài lãi, là các thu nhập thu được từ các hoạt động cung cấp
dịch vụ, ủy thác, cho thuê…. đánh giá qua các chỉ tiêu:
+ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên: MN – Non Interest Margin:
Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi
MN = ———————————————
Tổng tài sản
+ Thu nhập cận biên trước các giao dịch đặc biệt – NRST: là chỉ tiêu phản ánh
khách quan khả năng sinh lời do đã loại bỏ các nguồn thu từ hoạt động bất thường.
Tổng thu nhập – Thu nhập bất thường
NRST = —————————————————
Tổng tài sản
Nhìn chung các chỉ tiêu về khả năng sinh lời gắn với chi phí phải đạt mức lớn
hơn 0 thì ngân hàng mới có lợi nhuận. Các chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ
việc tối đa hóa thu nhập và tối thiểu hoá chi phí được ngân hàng thực hiện hiệu quả,
thể hiện ở mức chênh lệch giữa thu nhập và chi phí cao.
* Khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh. Tính an toàn
trong hoạt động kinh doanh về mặt tài chính là nhân tố quan trọng quyết định khả năng
cạnh tranh của NHTM.
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Năm 1987, Hội đồng dự trữ liên bang Mỹ đại
diện cho Mỹ và đại biểu 11 quốc gia công nghiệp hóa hàng đầu tuyên bố hiệp định sơ
bộ về tiêu chuẩn vốn – Hiệp định Basel áp dụng đối với các ngân hàng, tổ chức tài
chính. Theo đó, mức độ an toàn của vốn được xác định qua hệ số CAR như sau:
Vốn chủ sở hữu
CAR = ——————————————————
Tổng tài sản có quy đổi theo mức độ rủi ro
Hệ số CAR theo hiệp định Basel tối thiểu phải đạt 8% mới tạo an toàn hoạt
động cho các NHTM. Ở Việt Nam Điều 4 mục 2, quyết định 457/2005/QĐ- NHNN
Về việc ban hành "Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức
tín dụng" quy định: Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy
trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản "Có" rủi ro.

Ngoài ra có thể đánh giá định tính về khả năng an toàn thanh khoản của một
NHTM thông qua năng lực quản trị điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý thanh khoản,
và các trang thiết bị công nghệ phục vụ cho công tác quản lý thanh khoản.
- Các chỉ tiêu an toàn tín dụng: Cho vay là hoạt động có nhiều rủi ro nhất nên
các chỉ tiêu an toàn hoạt động tín dụng là các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức an
toàn hoạt động của NHTM. Chất lượng tín dụng tốt là cơ sở khẳng định tính bền vững
trong hoạt động của ngân hàng, tạo tính cạnh tranh cho ngân hàng trong việc thu hút
khách hàng vay vốn do tin tưởng ở khả năng cung cấp vốn và duy trì cung cấp vốn
trong quá trình giải ngân. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá an toàn tín dụng của một
NHTM là:
Dự nợ có tài sản đảm bảo
+ Tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo: = ———————————— x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này phản ánh mức độ an toàn của khoản vay, tỷ lệ này càng cao mức an
toàn càng được đảm bảo. Vì khi có tổn thất xảy ra với các khoản vay thì các tài sản
đảm bảo sẽ được thanh lý để bù đắp thiệt hại cho ngân hàng.
Dư nợ quá hạn trong kỳ
+ Tỷ lệ nợ quá hạn: = ——————————— x 100%
Tổng dư nợ trong kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh giới hạn an toàn hoạt động của ngân hàng, vượt quá
giới hạn này ngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản cao. Theo thông lệ quốc tế,
tỷ lệ này ở mức 5% sẽ đảm bảo an toàn, lành mạnh hoạt động tín dụng. Tỷ lệ này càng
thấp chất lượng tín dụng của ngân hàng càng tốt và ngược lại.
Nợ xấu trong kỳ
+ Tỷ lệ nợ xấu – NPL = ————————
Tổng dư nợ
Cũng như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu càng thấp càng tốt.
Tóm lại trong hoạt động kinh doanh các NHTM phải luôn đảm bảo các chỉ số
về an toàn hoạt động ít nhất ở mức yêu cầu của pháp luật, là cơ sở duy trì và phát triển
hoạt động của ngân hàng một cách an toàn, bền vững.

- Mức độ đa dạng hóa các ngành nghề, lĩnh vực cho vay và đầu tư.
- Quy mô, tốc độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động cho vay và đầu tư: Các chỉ
tiêu này càng lớn càng tốt, cho thấy hiệu quả hoạt động cho vay và đầu tư cao, mang
lại nguồn thu lớn cho ngân hàng.
Thu từ hoạt động cho vay và đầu tư chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn
thu của ngân hàng, nhưng là hoạt động rủi ro cao. Việc tìm kiếm, khai thác và lựa chọn
được nhiều khách hàng, lĩnh vực tốt để cho vay và đầu tư sẽ giúp hạn chế rủi ro, hơn
nữa mang lại thu nhập lớn, tăng cường khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
* Khả năng mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ: Mở rộng và phát
triển sản phẩm dịch vụ là việc tăng cường số lượng và chất lượng, khả năng tiếp cận
cho các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, phản ánh qua các mặt:
- Số lượng dịch vụ cung cấp: Kinh tế càng phát triển tính đa dạng của nhu cầu
về loại hình dịch vụ ngân hàng càng cao, việc tạo được nhiều sản phẩm dịch vụ đáp
ứng mức độ phát triển của nhu cầu sẽ tạo ra khả năng thu hút khách hàng và tăng thu
nhập cho ngân hàng. Do đó bên cạnh các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống,
các NHTM cần tập trung nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới
đáp ứng nhu cầu khách hàng, và phù hợp với năng lực của ngân hàng.
- Chất lượng sản phẩm, thể hiện ở tính tiện ích, tính chính xác, tính nhanh
chóng và an toàn của sản phẩm dịch vụ. Chất lượng sản phẩm dịch vụ đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng sẽ thu hút được khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.
- Giá cả dịch vụ: Giá cả cạnh tranh giúp đẩy mạnh việc thu hút và sử dụng sản
phẩm dịch vụ, mở rộng quy mô hoạt động dịch vụ của ngân hàng.
- Khả năng tiếp cận và thu hút khách hàng, thể hiện ở số lượng sở giao dịch, chi
nhánh, đại lý trong và ngoài nước; số lượng và hiệu quả các hoạt động marketing;
thông tin cung cấp cho khách hàng...Các yếu tố này hỗ trợ tích cực việc đưa dịch vụ
của NHTM đến với khách hàng. Mặt khác giúp nắm bắt nhu cầu, tiếp nhận chính xác,
nhanh chóng thông tin phản hồi của khách hàng để phát triển sản phẩm dịch vụ.
Hoạt động dịch vụ mang lại thu nhập lớn, đồng thời có độ rủi ro và chi phí thấp
do đó phạm vi và mức độ cạnh tranh ngày càng lớn, việc mở rộng và phát triển các sản
phẩm dịch vụ ngày càng được các NHTM quan tâm.

Cán bộ, nhân viên ngân hàng là những người trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ
ngân hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, thực hiện chiến lược,
định hướng của ban lãnh đạo ngân hàng. Vì vậy năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân
viên còn được phản ánh ở khả năng ứng phó xử lý các tình huống nhanh, đạo đức và
thái độ phục vụ, tác phong chuyên nghiệp, mức độ thành thạo nghiệp vụ...
1.2.3.4. Năng lực công nghệ
Công nghệ ngân hàng bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ
thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động và các hệ
thống trong nội bộ ngân hàng: hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo các
rủi ro...Các hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho
khách hàng cũng như khả năng quản lý, quản trị hoạt động của nhà quản lý ngân hàng.
Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có
thể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng. Do đó công nghệ là nhân tố quan
trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM, thể hiện qua các mặt sau:
* Khả năng trang bị công nghệ mới: Với tốc độ phát triển nhanh của công
nghệ ngân hàng, sự bùng nổ thông tin, và mức độ thay đổi thường xuyên nhu cầu dịch
vụ ngân hàng trong nền kinh tế, công nghệ hiện tại không đủ khả năng cung cấp thông
tin, công cụ phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển dịch vụ sẽ làm mất đi cơ
hội kinh doanh của ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ phải bao gồm khả năng đổi
mới các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật, kinh tế và trang bị công nghệ mới, hiện
đại, thể hiện ở mức đầu tư về vốn, nhân lực cho phát triển công nghệ, các kế hoạch
chiến lược trong việc tập trung nguồn lực phát triển công nghệ mới.
* Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của khách
hàng và nhu cầu quản lý của ngân hàng: Thể hiện ở số và chất lượng các công cụ,
các báo cáo, các thông tin mà công nghệ thực hiện phục vụ cho công tác quản trị, quản
lý cho ngân hàng. Và số, chất lượng các dịch vụ được tạo ra từ hệ thống công nghệ
hiện tại của ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của khách hàng.
Ngân hàng sở hữu một cơ sở công nghệ tốt và biết phát huy tối đa chức năng của công
nghệ đó khả năng cạnh tranh sẽ được tăng cường mạnh mẽ.
* Tính liên kết và độc đáo của công nghệ: Do đặc tính phải đổi mới, chi phí

trường
Môi quốc
trường tế
văn
hóa
MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH NGÀNH
Đối Đối
thủ thủ
tiềm hiện ẩn tại

Các
Khách
sản
hàng phẩm

thay
thế
Nhà cung cấp
MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ
- Năng lực tài chính
- Bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực
- Công nghệ
- Năng lực quản trị, điều hành
- Uy tín, thương hiệu
- Văn hóa doanh nghiệp
…..
- Môi trường nội bộ ngân hàng: Đây là những nhân tố chủ quan thuộc về nội tại

và cạnh tranh của NHTM ở tất cả các mặt từ các điều kiện thành lập, các quy định hoạt
động, đến các chính sách phát triển ngành, các ưu đãi... Mặt khác hệ thống pháp luật
mặt khác tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các NHTM bằng
cách tạo khung pháp lý để phát triển môi trường cạnh tranh, đảm bảo lợi ích chính
đáng và hợp pháp của các ngân hàng, ngăn chặn và xử phạt hoạt động cạnh tranh
không lành mạnh...Những điều này tạo ra cơ hội hay thách thức cho các ngân hàng làm
gia tăng hay kìm hãm khả năng cạnh tranh, trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả cạnh tranh
của ngân hàng.
- Yếu tố kinh tế: Tình trạng nền kinh tế, đặc biệt các yếu tố kinh tế vĩ mô: tỷ
giá, lạm phát, lãi suất, tăng trưởng GDP…tác động cả hai mặt tích cực và tiêu cực đến
tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ trong nền kinh tế, do đó
ảnh hưởng đến khả năng huy động và cho vay, đầu tư, phát triển dịch vụ của NHTM,
qua đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các ngân hàng.
- Yếu tố văn hóa, xã hội: Các yếu tố thuộc môi trường xã hội tác động tới năng
lực cạnh tranh của NHTM là: lòng tin của dân chúng với các ngân hàng, thói quen tiêu
dùng, tiết kiệm của người dân; trình độ dân trí, khả năng hiểu biết các dịch vụ ngân
hàng, mức thu nhập của người dân, các quan điểm và tinh thần kinh doanh, đạo đức
nghề nghiệp…Những đặc điểm đó tác động đến ngân hàng ở hai mặt là cầu và cung
đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và chất lượng nguồn nhân lực.
- Yếu tố công nghệ: Môi trường công nghệ có tác động lớn tới hoạt động của
NHTM vì công nghệ là nhân tố quan trọng tạo nên cơ sở hạ tầng kỹ thuật để các ngân
hàng thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng, quản lý và bảo mật thông
tin, giám sát và cảnh bảo rủi ro...Sự phát triển của công nghệ có thể mở ra nhiều cơ hội
cho các NHTM ứng dụng vào hoạt động kinh doanh, giúp ngân hàng giành ưu thế
trong cạnh tranh. Nếu không nắm bắt được công nghệ ngân hàng sẽ nhanh chóng bị tụt
hậu, làm suy yếu năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, người ta còn mở rộng thêm yếu tố hội nhập vào mô hình PEST, yếu
tố này tác động xuyên suốt với cả 4 yếu tố trên. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã
gắn các hoạt động kinh tế, bao gồm cả hoạt động của ngân hàng với các diễn biến
trong nền kinh tế thế giới. Có nghĩa là mọi hoạt động của một NHTM ở một quốc gia

Người cung
ứng
Khách
hàng
Sản phẩm
thay thế

Trích đoạn Giải pháp tăng cường huy động vốn Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động cho vay và đầu tư Nâng cao hiệu quả hoạt động marketing
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status