Chuyên đề Công tác hạch toán kế toán Nguyên vật liệu tại công ty CP Xây dựng HBN Việt Nam - Pdf 44

T
B¸o c¸o thùc tËp
MỞ ĐẦU
rong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải
hạch toán độc lập. Hoạt đọng của các Doanh nghiệp đã và đang phát triển mạnh
mẽ cả về chiều sâu và bề rộng, tính phức tạp của nó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải có chiến lược kinh doanh cụ thể, phải có chính sách đúng đắn và quản lý chặt
chẽ mọi hoạt động kinh tế. Trong lĩnh vực quyết định đén sự thành bại của dn thì
kế táon có vại trò rất quan trọng.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát triển và ngành công nghiệp xây dựng là một minh chứng cho
bước phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế. Chính vì thế các doanh nghiệp
xây lắp cũng có cơ hội tồn tại và ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên
thương trường. Đặc thù của các sản phẩm xây lắp là chi phí NVL chiếm từ 75-
85% tổng chi phí sản xuất. Chính vì vậy việc hạch toán kế toán nguyên vật liệu
phải được thực hiện nghiêm túc ngay từ giai đoạn trước khi khởi công công trình.
Để có được những toà nhà cao tầng, những công trình kiên cố, các doanh nghiệp
xây lắp phải trải qua rất nhiều công đoạn từ thiết kế, giải phóng mặt bằng… và thi
công công trình. Vậy nếu không có sự quản lý chặt chẽ và sử dụng hợp lý nguyên
vật liệu thì chắc chắn các doanh nghiệp xây lắp sẽ không đạt được hiệu quả kinh
doanh.
Nguyên vật liệu không chỉ tạo nên chất lượng công trình mà nó còn mang lại
vẻ đẹp bên ngoài với những đường nét và màu sắc phong phú và đa dạng. Kế toán
nguyên vật liệu cũng là cả một quá trình khó khăn và giữ vai trò quan trọng nhất
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp xây lắp. nó đòi hỏi người làm công
tác kế toán phải có đầy đủ những phẩm chất của một nhân viên kế toán; đó là tính
trung thực, cẩn thận và trình độ chuyên môn cao.
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 1

phương pháp tập hợp chi phí thích hợp với qui mô, tính chất và điều kiện của hoạt
động xây lắp.
- Đối tượng để tính giá thành sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục
công trình và các giai đoạn công việc đã hoàn thành. Vì vậy các doanh nghiệp xây
lắp có thể lựa chọn một trong các phương pháp tính giá sau:
* Phương pháp trực tiếp.
* Phương pháp tổng cộng chi phí
* Phương pháp hệ số (phương pháp tỉ lệ)
- Dự toán trong xây dựng cơ bản thường được lập dựa vào các hạng mục
chi phí do đó để phục vụ cho việc kiểm tra và đối chiếu giữa những chi phí sản
xuất xây lắp thực tế phát sinh so với các chi phí theo dự toán cần phải phân loại
chi phí sản xuất ra thành 4 khoản mục:
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Chi phí nhân công trực tiếp
* Chí phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung.
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 3
B¸o c¸o thùc tËp
1.1.2. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu.
- Ghi chép, tính toán và phản ảnh kịp thời những thông tin về tình hình thực
hiện kế hoạch đầu tư, tình hình thực hiện giá thành sản phẩm xây lắp, tình hình
luân chuyển và sử dụng đối với vật tư, tài sản, tiền vốn trong doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu, định mức kinh tế kỹ thuật; xác định
chênh lệch giữa chi phí sản xuất xây lắp thực tế phát sinh so với chi phí theo dự
toán để tìm nguyên nhân và đề xuất biện pháp để ngăn chặn, phát hiện và xử lý
đối với những hành vì lãng phí, tham ô vi phạm chế độ chính sách hay kỷ luật
thanh toán.
- Xác định và phân tích kết quả của hoạt ộng kinh doanh xây lắp nhằm
củng cổ và tăng cường công tác hoạch toán kế toán trong doanh nghiệp.
- Cung cấp số liệu, tài liệu thôn gtin kinh tế tài chính phục vụ cho việc

khâu: thu mua, bảo quảnn dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu nhằm hạ thấp chi phí
sản xuất sản phẩm trong chừng mực nhất định, giảm bớt tiêu hao vật liệu, vật liệu
trong sản xuất, đảm bảo đúng tiến độ và nâng cao chất lượng của các công trình.
Có thể nói rằng vật liệu giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được trong qúa trình
thi công xây lắp.
1.1.5. Đặc điểm yêu cầu quản lý vật liệu trong doanh nghiệp.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất mang tính chất công
nghiệp, sản phẩm ngành xây dựng là những công trình, hạng mục công trình có
quy mô lớn, kết cấu phức tạp và không cố định ở nơi sản xuất (thi công) còn các
điều kiện khác đều phải di chuyển theo địa điểm xây dựng.
Từ đặc điểm riêng của ngành xây dựng là cho công tác quản lý sử dụng
nguyên vật liệu phức tạp vì chịu ảnh hưởng lớn của môi trường bên ngoài nên
cần xây dựng định mức cho phù hợp với điều kiện thi công thực tế. Quản lý vật
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 5
B¸o c¸o thùc tËp
liệu là yếu tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên do trình độ sản
xuất khác nhau nên phạm vi mức độ phương pháp quản lý cũng khác nhau.
Hiện nay nền sản xuất ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sở thoả mãn
không ngừng nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội. Việc sử
dụng vật liệu một cách hợp lý, có kế hoạch ngày càng được coi trọng. Công tác
quản lý vật liệu là nhiệm vụ của tất cả mọi người làm tăng kiệu quả kinh tế với
chi phí bỏ ra thấp nhất. Công việc hạch toán vật liệu có ảnh hưởng quyết định
đến việc hạch toán giá thành. Vì vậy để đảm bảo tính chính xác của việc hạch
toán gái thành thì trước hết việc hạch toán vật liệu cũng càn phải cẩn thận, rõ
ràng và chính xác.
Để đảm bảo tốt công tác hạch toán vật liệu trên đòi hỏi chúng ta phải quản
lý chặt chẽ và hiệu quả ở tất cả các khâu của từng loại. Doanh nghiệp có sự lựa
chọ kỹ càng ngay từ đầu về việc lựa chọn nguồn cung cấp nguyên vật liệu, địa
điểm giao hàng, thời hạn giao hàng, phương tiện vận chuyển, uy tín của người

Tổ chức ghi chép, phản ánh đầy đủ kịp thời số liệu hiện có và tình hình
luân chuyển vật tư về mặt giá trị, hiện vật, tính toán đúng đắn trị giá vốn (hoặc
giá thành) thực tế của vật tư nhập kho, xuất kho kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch thu mua vật tư về các mặt số lượng, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung
cấp kịp thời đầy đủ, đúng chủng loại cho quá trình thì công xây lắp.
Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật, hạch toán vật liệu, hướng
dẫn kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ
hạch toán ban đầu về vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ), mở chế độ
đúng phương pháp qui định nhằm đảm bảo sử dụng thống nhất trong công tác kế
toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kế toán trong
phạm vi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật tư phát
hiện ngăn ngừa và đề xuất biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu ứ đọng hoặc mất
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 7
B¸o c¸o thùc tËp
phẩm chất. Tính toán xác định chính xác số lượng và giá trị vật từ thực tế đưa vào
sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình thi công xây lắp.
1.2. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu.
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu.
Trong doanh nghiệp xây lắp, nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loại khác
nhau có vai trò, công dụng và tình chất riêng biệt để quản lý chặt chẽ và hạch
toán chi tiết nguyên vật liệu, kế toán doanh nghiệp phải phân loại vật liệu. Tuỳ
thuộc vào tính chất và loại hình doanh nghiệp khác nhau mà kế toán sử dụng các
tiêu thức phân loại khác nhau. Đối với các doanh nghiệp chủ yếu phân loại
nguyên vật liệu theo nội dung kinh tế, vai trò công dụng của nguyên vật liệu trong
quá trình sản xuất. Theo đó nguyên vật liệu được chia làm các loại sau:
1.2.1.1. Phân loại vật liệu theo nguyên vật liệu chính:
là những loại nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, là
cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm, xây lắp. Nguyên vật

hiện tại.
1.2.1.4. Trị giá thực tế nguyên vật liệu nhập kho:
Vật tư có thể hình thành từ hiều nguồn khác nhau như mua ngoài, gia công
chế biến, thuê gia công chế biến. Các loại vật tư có nguồn hình thành khác nhau
sẽ sử dụng phương pháp xác định trị giá vốn khác nhau. Cụ thể như sau:
- Đối với vật tư mua ngoài.
= + -
Trị giá mua thực tế của vật tư nhập kho: là số tiền mà doanh nghiệp phải trả
cho người bán và sẽ là số tiền ghi trên hoá đơn không kể thuế GTGT(theo phương
pháp khấu trừ thuế GTGT) hay sẽ là tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT
(theo phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp).
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 9
Trị giá vốn vật
tư mua ngoài
nhập kho
Trụ giá mua
thực tế của vật
tư nhập kho
Chi phí
thu mua
Các khoản giảm
trừ (nếu có)
B¸o c¸o thùc tËp
Chi phí thu mua: gồm cước phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, bảo hiểm…
Đối với vật tư do doanh nghiệp tự gia công chế biến

= + +
- Đối với vật tư do nhận từ góp vốn liên doanh.
Trị giá vốn của vật tư là giá do hội đồng liên doanh đánh giá được các bên

hàng nhập kho
Trị giá vốn của vật
tư đi thuê gia công,
chế biến
Chi phí
gia công
chế biến
Chi phí vận
chuyển bốc dỡ và
xếp hàng vào nhập
kho
Trị giá vốn thực
tế của vật tư
xuất kho
Số lượng vật tư
xuất trong kỳ
Đơn giá
bình quân
B¸o c¸o thùc tËp
Theo phương pháp này; cho giả thiết số nguyên vật liệu nhập kho trước thì
sẽ xuất trước và lấy trị gái vốn thực tế của số nguyên vật liệu đó là trị giá vốn của
vật liệu xuất kho.
Tính theo phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)
Giả thiết số vật liệu nhập kho sau thì xuất trước. Vật liệu xuất thuộc lô nào
thì lấy đơn giá mua thực tế của lô hàng đó là trị giá vật liệu xuất kho.
- Tính theo phương pháp đích danh:
Căn cứ vào khối lượng xuất kho và đơn giá nhập kho của lô vật liệu xuất
kho để tính trị giá mua thực tế của vật liệu xuất kho (nhập lô nào xuất lô đó, nhập
giá nào xuất giá đó)
1.3. Tổ chức công tác kế toán chi tiết trong doanh nghiệp.

• Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu số 07/VT).
Các chứng từ khi hạch toán ban đầu phải được tổ chức luân chuyển theo
trình tự và thời gian do kế toán trưỏng qui định và phục vụ việc phản ánh ghi chép
và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan. Tổ chức tốt
khâu hạch toán ban đầu, kế toán nguyên vật liệu sẽ thuận lợi cho khâu hạch toán
nhập - xuất - tồn kho nguyên vật liệu.
1.3.2. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu là việc phản ánh chi tiết cả về số lượng và
chất lượng từng loại nguyên vật liệu trên các sổ kết toán chi tiết từng loại nguyên
vật liệu đó. Trong thực tế các doanh nghiệp sản xuất hiện nay tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp mà áp dụng phương pháp hạch toán chi tiết nguyên
vật liệu theo các phương pháp sau:
• Phương pháp ghi thẻ song song.
• Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
• Phương pháp sổ số dư.
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 12
B¸o c¸o thùc tËp
* Phương pháp thẻ song song.
Nguyên tắc hạch toán.
Ở kho, thủ kho ghi chép về số lượng xuất kho trong khi phòng kế toán ghi
chép cả về số lượng và giá trị của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ.
- Trình tự ghi chép ở kho:
Hàng ngày, thủ kho căn cứ vào chứng từ nhập - xuất vật liệu ghi số lượng
vật liệu thực nhập, thực xuất vào thẻ kho hoặc sổ kho có liên quan. Thủ kho phải
thường xuyên đối chiếu số tồn thẻ kho với số tồn thực tế còn ở kho. Hàng ngày
hoặc định kỳ 3-5 ngày một lần sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải chuyển toàn bộ
chứng từ nhập - xuất kho về phòng kế toán.
- Trình tự ghi chép ở phòng kết toán:
Phòng kết toán mở thẻ hoặc sổ kế toán chi tiết vật liệu cho từng danh điểm

Kế toán tổng hợp
Sổ kế toán chi tiết
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Bảng kê tổng hợp
nhập - xuất - tồn kho
Ghi chú
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
B¸o c¸o thùc tËp
Sau khi nhận được chứng từ kế toán về nhập - xuất vật liệu kế toán kiểm tra
hoàn chỉnh và sắp xếp phân loại chứng từ lập bảng kê nhập bảng kê xuất theo
từng loại vật liệu. Cuối tháng tổng hợp số liệu trong bảng kê xuất từng loại vật
liệu đã xuất và vật liệu nhập rồi ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, sau đó tính ra
số tồn kho cuối tháng của từng loại nguyên vật liệu và ghi vào sổ đối chiếu luân
chuyển. Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân
chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
Ưu, nhược điểm
Ưu điểm: khối lượng ghi chép của kế toán giảm đi do ghi một lần vào cuối tháng.
Nhược điểm: Ghi sổ vẫn bị trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chi tiêu
hiện vật, hạn chế tác dụng kiểm tra vì chỉ thực hiện công tác kiểm tra đối chiếu
vào cuối tháng giữa kho và phòng kết toán.
Phạm vi áp dụng. Thích hợp cho các doanh nghiệp không nhiều nghiệp vụ
nhập, xuất, không có điều kiện ghi chép theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày.
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 15
B¸o c¸o thùc tËp
Sơ đồ 02: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phưưong pháp sổ đối chiếu
luân chuyển

tư vào sổ số dư. Sổ số dư do kết toán mở cho từng kho dùng cho phòng kết toán
kiểm tra và tính thành tiền.
- Trình tự ghi chép tại phòng kết toán.
Khi nhận được chứng từ nhâp, xuất vật liệu ở kho, kế toán kiểm tra chứng
từ và đối chiếu với các chứng từ có liên quan rồi ghi giá hạch toán của vật liệu và
tính thành tiền ghi vào từng chứng từ. Sau đó kết toán tổng hợp giá trị vật liệu
theo từng nhóm vật liệu ghi vào bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất. Căn cứ vào bảng
luỹ kế nhập, luỹ kế xuất lập bảng kê tổng hợp nhập xuất tồn kho vật liệu đồng
thời tính ra giá trị của từng nhóm vật liệu tồn kho cuối tháng trên bảng bổng hợp
nhập - xuất - tồn kho vật liệu công cụ dụng cụ. Cùng với việc ghi nhận số do thủ
kho chuyển đến, kế toán tính giá hạch toán cho từng loại, từng nhóm vật liệu tồn
kho và khi vào sổ số dư theo chỉ tiêu giá trị của từng thứ, từng nhóm và từng loại
vật liệu phù hợp.
Sau khi lập bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn kho vật liệu và ghi sổ số dư,
kết toán tiến hành kiểm tra đối chiếu về giá trị từng nhóm, từng loại vật liệu tồn
kho cuối tháng ở sổ số dư và bảng tổng hợp nhập xuất tồn kho vật liệu với số liệu
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 17
B¸o c¸o thùc tËp
ở sổ kế toán tổng hợp vật liệu. Số liệu nhập kho, xuất kho và tồn kho phải khớp
đúng với nhau.
* Ưu và nhược điểm
Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kh ovà phòng kế toán,
giảm được một khối lượng lớn công việc ghi chép sổ kế toán, tiết kiệm được thời
gian thực hiện công tác kết toán.
Nhược điểm: Không cho thấy sự biến động của từng thứ, từng nhóm, từng
loại vật liệu. Hơn nữa trường hợp kiểm tra đối chiếu không khớp nhau, khó khăn
trong việc kiểm tra và tìm hiểu nguyên nhân.
- Phạm vi áp dụng: Thích hợp cho doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có
nghiệp vụ nhập - xuất diễn ra thường xuyên và có giá trị lớn, nhiều chủng loại.

Tài khoản tiền là các TK 111, 112 và một số TK thuộc nhóm công nợ như
TK 331 - "Phải trả người bán" TK 338 - "Phải trả, phải nộp khác" Tuỳ thuộc vào
phương pháp kế toán khác nhau mà đơn vị sử dụng các tài khoản khác nhau. Nói
cụ thể là tuỳ thuộc cách phân loại nguyên vật liệu của kế toán mà chia TK tổng
hợp thành nhiều tiểu khoản phản ánh các loại nguyên vật liệu khác nhau. Ngoài ra
kế toán còn sử dụng một số tài khoản phản ánh thuế GTGT khấu trừ (TK 113) và
tài khoản thuế phải nộp gồm nhiều loại thuế, thuế GTGT đầu ra phải nộp, thuế
nhà đất, thuế môn bài thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt… (TK 333 (1,2,…,8).
1.3.5. Phương pháp kế toán: Thể hiện qua các sơ đồ dưới đây.
Nguyễn Thị Hồng Thư
Ghi hàng ngày
Ghi định kỳ
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
Trang 19
B¸o c¸o thùc tËp
Sơ đồ 04: Kế toán tổng hợp tình hình nhập - xuất nguyên vật liệu theo
phương pháp KKTX trong các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ
Nguyễn Thị Hồng Thư
TK 111,112,331
TK 151
TK 154
TK 338.1
TK 621, 627
TK 412
TK 411
TK 128, 222
Nguyên vật liệu sử dụng
không hết nhập lại kho

Xuất kho NVL góp vốn liên
doanh
Kiểm kê phát hiện vật tư
thiếu chưa rõ nguyên nhân
Xuất bán NVL
Đánh gí giảm vật tư
Chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng mua, hàng mua bị trả lại
Trang 20
B¸o c¸o thùc tËp
Sơ đồ 05: Kế toán tổng hợp tình hình nhập xuất NVL theo phương pháp KKTX
trong các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
Nguyễn Thị Hồng Thư
TK 151
TK 154
TK 338.1
TK 621, 627
TK 412
TK 411
TK 128, 222
Nguyên vật liệu sử dụng
không hết nhập lại kho
Đánh giá tăng vật tư
Kiểm kê phát hiện vật tư
thừ chưa rõ nguyên nhân
Nhận lại vốn góp liên
doanh
Nhận cấp phát , nhận
góp vốn liên doanh
Nhập kho nvl tự chế thuê

B¸o c¸o thùc tËp
1.3.6. Các hình thức kế toán xử dụng trong doanh nghiệp.
Quá trình hạch toán đối với các doanh nghiệp bao giờ cũng xuất phát từ các
chứng từ và kết thúc bằng báo cáo kế toán.
Chứng từ kế toán: Ngoài các chứng từ được sử dụng theo chế độ qui định
đã nêu trên, kế toán đơn vị còn có thể sử dụng các chứng từ có liên quan như: các
chứng từ thanh toán, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, phiếu báo vật tư còn lại cuối
tháng.
Sổ kế toán sử dụng: Theo qui định hiện hành của Bộ Tài chính các doanh
nghiệp xây lắp phải mở đầy đủ các sổ kế toán tuân theo qui định và sổ kế toán
tương ứng với hình thức ghi chép kế toán mà đơn vị sử dụng.
Doanh nghiệp có thể sử dụng mọt trong bốn hình thức sổ sách kế toán sau:
− Hình thức nhật ký sổ cái.
− Hình thức nhật ký chung.
− Hình thức chứng từ ghi sổ.
− Hình thức nhật ký chứng từ.
1.3.7. Tổ chức hệ thống sổ kế toán theo hình thức nhật ký sổ cái
Kết hợp trình tự ghi sổ theo trật tự thời gian với trình tụ ghi sổ phân loại
theo hệ thống toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào một sổ kế toán
tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái.
Tách biệt việc ghi chép kế toán tổng hợp với việc ghi chép kế toán chi tiết
vào hai loại sổ kế toán tổng hợp với việc ghi chép kế toán chi tiết vào hai loại sổ
kế toán khác nhau là sổ kết toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.
Không cần lập bảng cân đối tài khoản cuối kỳ vì kết toán có thể kiểm tra
tính chính xác của việc ghi sổ cái ở dòng cộng cuối kỳ của nhật ký sổ cái.
* Trình tự chung: Thể hiện qua sơ đồ dưới đây
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 22
B¸o c¸o thùc tËp
Hàng ngày kế toán căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp

phát sinh của các tháng trước và số phát sinh của tháng này tính ra số phát sinh
luỹ kế. Căn cứ vào số dư đầu và số phát sinh kế toán tính ra số dư cuối kỳ.
Khi kiểm tra đối chiếu số tổng cộng cuối kỳ trong sổ nhật ký sổ cái phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
− Tổng số tiền của cột phát sinh ở phần nhật ký phải bằng tổng số phát
sinh bên nợ của tất cả các tài khoản và bằng tổng số phát sinh bên có của
tất cả các tài khoản.
− Tổng số dư nợ các tài khoản bằng tổng số dư có của các tài khoản.
Các sổ thẻ kế toán chi tiết cũng phải được khoá sổ đểo cộng số phát sinh nợ,
số phát sinh có và tính ra số dư cuối tháng của từng đối tượng, căn cứ vào số liệu
khoá sổ của các đối tưọng lập bảng tổng hợp chi tiết cho từng tài khoản. Số liệu
trên bảng nhật ký sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết được sử dụng để lập báo cái tài
chính
1.3.8. Tổ chức sổ kết toán theo hình thức nhật ký chung.
* Đặc điểm:
Đặc trưng cơ bản của hình thức nhật kí chung là tất cả các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh đều phải được ghi chép vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật ký chung
theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán các nghiệp vụ đó sau đó
lấy số liệu trên các sổ nhật kí để ghi sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
* Trình tự:
Nguyễn Thị Hồng Thư
Trang 24
B¸o c¸o thùc tËp
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi
sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật kí chung, sau đó căn cứ số liệu
đã ghi trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp.
Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kết toán chi tiết thì đòng thời với việc ghi sổ Nhật ký
chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.
Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào
các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status