skkn một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Mã số:……………….

Kính gửi: Hội Đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh.
Tác giả sáng kiến: LÊ THỊ THỦY
Đơn vị: Trường tiểu học Tân Hội.
Các đồng tác giả: Không
I. Đề nghị xét công nhận sáng kiến: “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở
học sinh lớp 4”
Lĩnh vực áp dụng Chuyên môn: Tiếng Việt
II. Mô tả giải pháp:
1.Tình trạng giải pháp đã biết
Các giải pháp đã đề xuất và vận dụng nhằm khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp
4 là: luyện phát âm, phân tích và so sánh, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả, làm
các bài tập chính tả.
Các giải pháp mà tôi nghiên cứu trong đề tài này trong quá trình thực hiện có
những ưu và khuyết điểm sau:
* Ưu điểm: Trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay, việc áp dụng các biện
pháp trong đề tài đã làm cho kết quả khắc phục lỗi chính tả của học sinh có tiến bộ rõ
rệt. Học sinh ngày càng yêu thích môn chính tả. Những giải pháp bản thân đưa ra được
sự đồng tình, ủng hộ của đồng nghiệp cũng như lãnh đạo nhà trường.
* Khuyết điểm: Sáng kiến này chỉ mới áp dụng trong phạm vi tại đơn vị, chưa
nhân rộng ra các đơn vị khác.
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
a. Mục đích của giải pháp
Bản thân đã tiến hành thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra
một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4, giúp các em mạnh dạn, tự tin
1

*Phân tích và so sánh

2


Những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh
với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “buồng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “ buồn”, giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- buồng = b + uông + thanh huyền
- buồn = b + uôn + thanh huyền
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng buồng có âm cuối là “ng”, tiếng buồn có
âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không viết sai.
*Giải nghĩa từ
Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ thường
được thực hiện trong các tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn…nhưng nó cũng
là việc làm rất cần thiết trong giờ Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó
dựa và phát âm hay phân biệt cấu tạo tiếng.
Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc
chú giải, đặt câu ( nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ
đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt bổng và bỗng
+ Giải nghĩa từ bổng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bổng
(bay lên cao một cách nhẹ nhàng); tìm từ có chứa tiéng bổng ( bay bổng…).
+ Giải nghĩa từ bỗng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bỗng
(một sự việc xảy ra một cách bất ngờ, đột ngột không đoán trước được); tìm từ có chứa
tiếng bỗng ( bỗng đâu, bỗng xuất hiện,…).
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải
nghĩa từ.
*Ghi nhớ mẹo luật chính tả

khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh,
bấp bênh, công kênh, …
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng,
loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng
ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng
keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng,
bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch,…

4


Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
*Làm các bài tập chính tả
Giáo viên đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận
dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau
mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để học sinh ghi nhớ.
- Bài tập trắc nghiệm:
* Khoanh tròn vào chữ cái trước chữ viết đúng chính tả:
a. hướng dẩn

b. hướng dẫn

c. buồn chuối

d. buồng chuối

e. uốn lượng

g. uống lượng


vực

chải

chảy

nước

tóc

- Bài tập chọn lựa chọn
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong truyện vui sau:
Tìm chỗ ngồi
Rạp đang chiếu phim thì một bà đứng dậy len qua hàng ghế ra ngoài. Lát
(sau/xau), bà trở lại và hỏi ông đầu hàng ghế ( rằng/ rằn):
- Thưa ông! Phải (chăng/chăn) lúc ra ngoài tôi vô ý giẫm vào chân ông?
5


-

Vâng, nhưng ( sin/ xin) bà đừng ( băng khoăng/băn khoăn), tôi không

(sao/xao)!
-

Dạ không! Tôi chỉ muốn hỏi để (sem/xem) tôi có tìm đúng hàng ghế của

mình không.


giữ…

lặng…

bình…

học…

nhường…

gia…

rung …

thông…

* Điền tiếng láy thích hợp và chỗ trống:
Dáng tre vươn mộc …., màu tre tươi nhũn…. Rồi tre lớn lên, cứng …, dẻo …,
vững chắc.
6


- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, có tiếng chứa
phụ âm đầu hoặc dấu thanh theo yêu cầu,…
* Tìm các từ láy:
a) Có tiếng chức âm s:

M: suôn sẻ

- Cây trồng để làm đẹp:
- Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
* Đặt câu để phân biệt các cặp từ sau:
nổi- nỗi
đổ- đỗ
thuở- thở
biếc- biết
7


- Bài tập giải câu đố:
Chim gì luyện tựa con thoi
Báo mùa xuân đẹp giữa trời say sưa.
( Là con gì?)
Để nguyên vằng vặc trời đêm
Thêm sắc- màu phấn cùng em tới trường.
( Là chữ gì?)
Ngoài các biện pháp nêu trên, tôi còn rèn chính tả cho học sinh qua các môn học
khác. Khi chấm bài ở các môn khác, tôi cũng sửa lỗi thật kĩ và chính xác. Động viên
học sinh đến thư viện, giới thiệu sách hướng dẫn viết chính tả. Học sinh đọc nhiều,
hiểu nhiều nên ít sai lỗi chính tả hơn.
3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi tuy phạm vi và đối tượng nghiên cứu
còn hạn hẹp nhưng những kinh nghiệm mà bản thân tôi đề xuất đã được áp dụng ở lớp
tôi chủ nhiệm và bước đầu mang lại kết quả khả quan. Các biện pháp mà tôi đưa ra còn
có thể áp dụng được trong phạm vi cả tổ. Đề tài này còn có thể áp dụng cho các khối
lớp khác trong trường. Rộng hơn nữa, có thể vận dụng các biện pháp này cho các
trường lân cận có điều kiện, cơ sở vật chất giống trường tôi. Ngoài ra với sáng kiến
kinh nghiệm này giáo viên có thể áp dụng cho tất cả các niên học.


Dưới trung bình

Trên trung bình

Dưới trung bình

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

15

62,5%

9

37,5%

quy định riêng. Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải tuân theo những quy định,
quy tắc đã xác lập. Phân môn chính tả có nhiệm vụ cơ bản là giúp học sinh nắm vững
quy tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả. Ngoài ra, phân môn chính tả còn có
nhiệm vụ rèn cho học sinh một số phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, chính xác; bồi
dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt.
Trong những năm qua, các em học sinh ở trường tôi còn viết sai nhiều lỗi chính tả.
Trước bối cảnh đó, tôi quyết tâm tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và tìm ra một số giải
pháp giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả.
II. Lý do chọn đề tài
Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều. Có những học sinh viết sai hơn
10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu
các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh
hưởng đến kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác,
hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát. Vì vậy, để
hạn chế tình trạng viết sai chính tả tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp khắc phục lỗi
chính tả ở học sinh lớp 4” nhằm giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết
đúng chính tả: viết đúng chữ ghi âm đầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí,
tiến tới viết đẹp, viết nhanh.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài này chỉ thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra môt số biện
pháp khắc phục. Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 41.
10


IV. Mục đích nghiên cứu
Tôi đã tiến hành thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra “Một số
biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 4”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn
khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo
phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Giúp học sinh học tốt các phân môn của Tiếng
Việt và các môn học khác. Rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, tinh

rèn chính tả nói riêng. Do các em mắc lỗi nhiều từ những năm học trước nên việc rèn
chính tả đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và công sức. Qua việc chấm tập, giảng dạy
học sinh ở lớp, tôi có thống kê một số lỗi như sau:
* Về thanh điệu
- Tiếng Việt có 6 thanh điệu ( ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh

không phân biệt được 3 thanh hỏi, ngã, sắc. Tuy có 3 thanh nhưng số lượng tiếng mang
thanh này không ít và rất phổ biến – kể cả những người có trình độ văn hóa cao.
Ví dụ: sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lấn lộn,…
* Về âm đầu
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ d/gi: đám dỗ, gia giẻ ,…
+ r/g: cá gô, cố rắng,…
+ c/k: céo cờ,…
+ g/gh: con gẹ, gê sợ,…
+ ng/ngh: ngỉ ngơi, nge nhạc,…
+ s/x: cây xả, sinh sắn,…
-

Trong các lỗi này, lỗi về g/gh, s/x, ng/ngh đối với lớp tôi chủ nhiệm là

phổ biến hơn cả.
* Về âm chính
- Học sinh thường lẫn lộn chữ ghi âm chính trong các âm sau đây:
+ i/iê/ê: diệu dàng, thiêu hoa, …
+ o/ô: con ông, ong bà, óng khói,…
+ ơ/ư/ươ: bứu cổ, con hưu, thở nhỏ, hơi thuở, hơ vòi,…
+ u/ uô: đui gà, luối huối
* Về âm cuối
-

ngã. Mặc khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu rất phổ
biến. Một số học sinh miền Nam thường hay lẫn lộn 2 thanh hỏi, ngã với nhau.
- Về âm đầu
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu d/gi, r/g,
g/gh, ng/ngh , s/x. Mặt khác, người miền nam còn lẫn lộn v và d. Ngoài ra trong quy
ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng c/k/qu…) dĩ
nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với học sinh tiểu học (nhất
13


là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
- Về âm chính
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
+ Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ được
ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi / ie, ươ, uô / lại được ghi bằng
dạng iê, yê, ia.ya, ươ, uô, ua ( bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua – muôn ) ;
âm đệm lại được ghi bằng 2 con chữ u và o ( ví dụ: huệ, hoa).
+ Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối
với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
- Về âm cuối
Người miền Nam chúng ta phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng/nh và t/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối
i/u lại được ghi bằng 4 con chữ i/y ( trong: lai/lay), u/o ( trong: sau/sao) do đó lỗi về
âm cuối là lỗi thường mắc phải và khó khắc phục đối với học sinh miền Nam.
- Quy tắc về viết hoa danh từ riêng
Học sinh thường mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ người và tên riêng nước ngoài
và một số danh từ đặc biệt ( Nhà nước , Quốc tế, Trung thu,…). Học sinh lớp tôi chủ
nhiệm có khoảng ¼ số em mắc lỗi này, nhất là những học sinh yếu không được giáo
viên nhắc nhở khi đang viết bài chính tả.
III. Các biện pháp đã tiến hành khắc phục lỗi chính tả cho học sinh

Ví dụ: Phân biệt bổng và bỗng
+ Giải nghĩa từ bổng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bổng
(bay lên cao một cách nhẹ nhàng); tìm từ có chứa tiéng bổng ( bay bổng…).
+ Giải nghĩa từ bỗng: Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu nghĩa của tiếng bỗng
(một sự việc xảy ra một cách bất ngờ, đột ngột không đoán trước được); tìm từ có chứa
tiếng bỗng ( bỗng đâu, bỗng xuất hiện,…).
Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải
nghĩa từ.
4. Ghi nhớ mẹo luật chính tả
Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng
loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu. Ngay từ
lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh
chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie. Ngoài ra, giáo viên còn có thể cung cấp
15


một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s: sả, si, sồi, sứ, sung , sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu,
sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa,… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu,
săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô,…
+ Luật bổng – trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh hay dấu của hai yếu tố
ở cùng một hệ bổng ( ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm ( huyền/ ngã/nặng). Để nhớ được hai
nhóm này, giáo viên chỉ cần cho học sinh thuộc hai câu thơ:
Em huyền mang nặng, ngã đau
Anh ngang, sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền,
nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ: Bổng


c. buồn chuối

d. buồng chuối

e. uốn lượng

g. uống lượng

* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô
trống trước những chữ viết sai chính tả:
ruộng vường

ruộng vườn

cây thước

cây thướt

nằm ngũ

nằm ngủ

trong thấy

trông thấy

* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng
chính tả:
A

Vâng, nhưng ( sin/ xin) bà đừng ( băng khoăng/băn khoăn), tôi không

(sao/xao)!
-

Dạ không! Tôi chỉ muốn hỏi để (sem/xem) tôi có tìm đúng hàng ghế của

mình không.
Truyện vui nước ngoài
* Xếp các từ ngữ sau đây thành hai cột ( từ ngữ viết đúng chính tả, từ ngữ viết sai
chính tả):
c) sắp sếp, sáng sủa, sản sinh, tinh sảo, bổ xung, sinh động
d) thân thiếc, thời tiết, công việc, nhiệc tình, chiết cành, mải miết
Từ viết đúng chính tả

Từ viết sai chính tả

…………..

………………

- Bài tập điền khuyết:
* Điền vào chỗ trống:
an/ang: Mấy chú ng… con d.... hàng ng… lạch bạch đi kiếm mồi.
Lá bàng đang đỏ ngọn cây,
Sếu gi… m… lạnh đang bay ng… trời.
Tố Hữu
Mẹ rằng : Quê mẹ, Bảo Ninh

ên/ênh:


- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, có tiếng chưa
phụ âm đầu hoặc dấu thanh theo yêu cầu,…
* Tìm các từ láy:
a) Có tiếng chức âm s:

M: suôn sẻ

Có tiếng chứa âm x:

M: xôn xao

b) Có tiếng chức thanh hỏi:

M: nhanh nhảu

Có tiếng chứa thanh ngã:

M: mãi mãi

* Tìm các từ chứa tiếng có vần ươn/ ương, có nghĩa như sau:
- Cố gắng tiến lên để đạt tới mức cao hơn, tốt đẹp hơn.
- Tạo ra trong trí óc hình ảnh những cái không có ở trước mắt hoặc chưa từng có.
* Tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/gi diền vào chỗ trống:
Đánh dấu mạn thuyền
Xưa có người đi thuyền, kiếm … bên hông, chẳng may làm kiếm … xuống
nước. Anh ta liền đánh… vào mạn thuyền chỗ rơi. Người trên thuyền thấy lạ bèn hỏi:
- Bác làm … thế ạ?
-

IV.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh
có tiến bộ khá rõ rệt. Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết ít mắc
lỗi chính tả. Những em trước kia thường sai 9, 10 lỗi thì nay còn 3, 4 lỗi, những em
trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi…Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức
khiêm tốn và việc giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả là một quá trình lâu dài song tôi
vẫn cảm thấy vui vì công việc mình làm bước đầu có hiệu quả.
Thống kê điểm chính tả năm học 2011-2012:
Sĩ số

Khảo sát chất lượng đầu năm
Trên trung bình

24

Cuối học kì I

Dưới trung bình

Trên trung bình

Dưới trung bình

SL

TL

SL

TL

hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi giáo viên
20


phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong
vài tuần nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải và
tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kì. Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn
nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu làm quen với Tiếng Việt, giáo viên nên hướng
dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ
quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra,… từ đó phát hiện ra
những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa
chữa, uốn nắn.
- “ Ở đâu có thầy giỏi, ở đó có trò giỏi”. Vì vậy người giáo viên cần phải không
ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề. Có nắm chắc
kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc phục lỗi một cách có
hiệu quả.
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi đã hình thành cho học sinh của tôi kĩ năng
sử dụng tiếng Việt. Trong đó các em được đặc biệt chú ý tới kĩ năng viết ( có kết hợp
với kĩ năng nghe). Ở đề tài này, học sinh còn được cung cấp một số kiến thức về chữ
viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả…Ngoài ra, thông qua việc thực
hiện đề tài, học sinh còn được rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp,
thay thế, bổ sung , so sánh, khát quát hóa…, học sinh được cung cấp những hiểu biết
sơ giản về văn học, văn hóa Việt Nam. Từ đó các em còn được bồi dưỡng lòng yêu cái
đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, sự công bằng, góp phần hình thành lòng yêu
mến tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
III. Khả năng ứng dụng triển khai
Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi tuy phạm vi và đối tượng nghiên cứu còn

II.
III.
IV.
V.

Bối cảnh của đề tài
Lý do chọn đề tài
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

trang 1
trang 1
trang 1
trang 2
trang 2

Phần nội dung
I.
II.
III.
IV.

Cơ sở lý luận
Thực trạng của việc rèn chính tả ở lớp 4 hiện nay
Các biện pháp đã tiến hành khắc phục lỗi chính tả cho học sinh
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

Phần kết luận
I. Những bài học kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status