LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị về “Nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật tại Huyện Diễn châu – Tỉnh
Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020”, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi
còn nhận được sự dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các tổ chức,
cá nhân trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS-TS.
Nguyễn Bá Dương - người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng BVTV, phòng Thanh tra của Chi Cục
Bảo vệ thực vật tỉnh Nghệ an, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện
Diễn châu, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Diễn châu
đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu, hoàn thành
luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Học viện chính trị Khu vực I, Trường chính trị
Tỉnh Nghệ an, Chi cục BVTV Tỉnh Nghệ an đã tận tình giúp đỡ tôi cũng như
tạo điều kiện tốt nhất có thể trong học tập cũng như nghiên cứu để hoàn thành
đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các tập thể, cá nhân, đồng nghiệp,
bạn bè và người thân đã động viên khích lệ trong thời gian học tập và thực
hiện đề tài tốt nghiệp.
Diễn Châu, ngày
tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn: Lê Thế Hiếu
1
MỞ ĐẦU
các sản phẩm nông nghiệp; Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế xã
2
hội thì mức độ ô nhiễm, trong đó có ô nhiễm về thuốc BVTV ngày càng gia
tăng. Thuốc BVTV được sử dụng nhiều trong nông nghiệp, để lại dư lượng
trong nông sản sau thu hoạch vượt quá mức cho phép là do nhiều nguyên
nhân liên quan đến công tác vệ sinh an toàn thực phẩm mà thời gian qua,
nông dân Việt Nam nói chung và nông dân huyện Diễn châu nói riêng còn
nhiều tồn tại, bất cập, vi phạm các quy định của Nhà nước, của Tỉnh; tình
trạng kinh doanh buôn bán, sử dụng thuốc BVTV không đúng Luật, không
đúng kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly vẫn xảy ra, đặc biệt ở những
xã sản xuất rau trên địa bàn huyện Diễn châu. Công tác quản lý thuốc BVTV
cũng còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa hiệu quả.
Để nâng cao nhận thức của người nông dân trong việc sử dụng thuốc
BVTV cũng như nâng cao hiệu quả việc quản lý sử dụng thuốc BVTV, chúng
tôi thực hiện đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác Quản lý thuốc bảo vệ
thực vật tại huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 – 2020”.
2.
Giới hạn của đề án.
2.1 Giới hạn về nội dung:
Về nội dung: Với yêu cầu của đề tài và thời gian có hạn, chúng tôi tập
trung tìm hiểu và phân tích thực trạng công tác quản lý sử dụng thuốc BVTV
ở Diễn châu giai đoạn 2011- 2014. Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý để
nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuốc BVTV và nhận thức của người
nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV giai đoạn 2015 - 2020.
2.2 Giới hạn về không gian, thời gian:
- Về không gian: Đề tài thực hiện trong phạm vi huyện Diễn châu – Nghệ
4
NỘI DUNG
1. Cơ sở khoa học của đề án
1.1 Cơ sở khoa học.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
a, Khái niệm về quản lý
Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người
xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt
động QL xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm.
- Theo Các Mác Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp
hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến
mức độ nhiều hay ít sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc
cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn
bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một
người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ
huy”.
- Theo W.Taylor QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm
và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. QL là các
hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ
lực của người khác.
- Theo Harold Koontz thì quản lý là một “hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm”.
- Theo Richard Winter: QL là việc hiện thực hóa các mục tiêu của tổ
chức theo cách có hiệu quả và hiệu suất cao, thông qua việc lập kế hoạch, tổ
chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức. [dẫn theo 9 – tr.58]
Trong các định nghĩa trên, định nghĩa của R.Winter bao quát hơn cả vì
đã chỉ rõ quy trình hành động trong quản lý.
dựa trên đối tượng sinh vật hại: Thuốc trừ bệnh; Thuốc trừ nhện; Thuốc trừ
sâu; Thuốc trừ tuyến trùng; Thuốc trừ cỏ; Thuốc điều hòa sinh trưởng; Thuốc
trừ ốc; Thuốc trừ chuột.
- Thời gian cách ly: Là khoảng thời gian tối thiểu kể từ ngày sử dụng
thuốc BVTV lần cuối cùng đến ngày thu hoạch sản phẩm trong quá trình
trồng trọt hoặc thời gian tối thiểu từ khi sử dụng thuốc BVTV lần cuối cùng
đến khi sử dụng sản phẩm trong quá trình bảo quản.
6
- Kỹ thuật sử dụng thuốc: Sử dụng theo 4 đúng
+) Đúng thuốc
+) Đúng lúc
+) Đúng liều lượng, nồng độ
+) Đúng cách
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý:
1.2.1. Cơ sở chính trị:
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn luôn quan tâm đến
vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đặc bặt là từ Đại hội Đảng lần thức
VI đã nêu 4 bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học “Đảng phải luôn
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”.
Đại hội VI đã đề ra những quan điểm và chính sách đổi mới, trước hết là đổi
mới kinh tế; phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất
hàng hóa xã hội chủ nghĩa. Từ những tư tưởng chỉ đạo trên và rút kinh
nghiệm từ khoán theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV), Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị (khóa VI) đã thổi vào nông nghiệp, nông thôn nước ta một
luồng gió mới, cuộc sống của người dân đã được cải thiện nhanh chóng. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: Trên cơ sở khẳng định những thành quả của
gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp
hóa với dân chủ chủ hóa và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn;
tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống,
xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và
nông thôn, thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển dân số. Ba là, phát huy
lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học, công
nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp 20 ứng ngày càng cao
nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh ra
xuất khẩu. Bốn là, phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã
dàn trở thành nền tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh té tư nhân phát triển theo
đúng pháp luật. Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và
những người có khả năng phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công
8
nghiệp, dịch vụ ở nông thôn”. Đại hội IX của Đảng chủ trương phải rút ngắn
thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020,
nước ta trở thành một nước công nghiệp. Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ phải
ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế đi đôi với phát
triển vắn hóa – xã hội, tăng cường các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung
ương khóa IX đã ra Nghị quyết về “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010” [29 – tr.93].
Đại hội X của Đảng xác định: “Phải luôn luôn coi trong đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn... Gắn phát triển kinh
tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông
thôn với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị
xã hội” [30 – tr.75].
công ước Rotterdam... Việc tăng cường quan hệ với các tổ chức quốc tế như
FAO, WHO, UNEP.. cũng như sự tham gia của Việt Nam vào các tố chức
trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương đã giúp ta có thêm
thông tin đầy đủ về công tác quản lý thuốc ở các nước trong khu vực, học hỏi
được kinh nghiệm tốt của các nước để áp dụng vào Việt Nam.
Quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật là hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có
điều kiện. Nhà nước thống nhất quản lý việc sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu,
bảo quản, dự trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo
quy định của pháp luật. (Điều 28 – thông tư 03/2013 của bộ NNPTNT ban
hành ngày 11/1/2013)
Tổ chức, cá nhân sử dụng thuốc BVTV phải đúng đối tượng, chủng loại,
liều lượng, nồng độ quy định, đúng thời gian, thời hạn sử dụng, thời gian cách
ly và phạm vi cho phép; Phải được tập huấn về phương pháp sử dụng thuốc
BVTV và các biện pháp sử dụng bảo đảm an toàn.
Mạng lưới quản lý thuốc BVTV
Để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về thuốc BVTV, nước ta đã
10
duy trì và từng bước củng cố hoạt động của mạng lưới bảo vệ thực vật từ
trung ương đến địa phương (pháp lệnh BV &KDTV và hiện nay là Luật
BV&KDTV).
Ớ Trung ương có Cục Bảo vệ thực vật (bao gồm các phòng chức năng và
các Trung tâm Bảo vệ thực vật vùng). Ớ địa phương có các Chi cục Bảo vệ
thực vật tỉnh và các Trạm Bảo vệ thực vật huyện trực thuộc. Có thể nói, hệ
thống này là nơi triển khai một cách có hiệu quả các chủ trương, chính sách
của nhà nước về bảo vệ thực vật (trong đó có quản lý thuốc BVTV).
Bên cạnh mạng lưới bảo vệ thực vật, sự ra đời của lực lượng thanh tra
chuyên ngành cũng đã tạo ra được một công cụ hữu hiệu, giúp cho việc quản
3.Trung tâm Bảo vệ thực vật vùng: là đơn vị trực thuộc Cục BVTV, phụ
trách về công tác BVTV ở các vùng trên cả nước.
4. Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh thuộc Sở NN&PTNT có hệ thống tổ chức
ngành dọc từ tỉnh xuống huyện cụ thể là các Trạm Bảo vệ thực vật huyện là
đơn vị thuộc ngành dọc của Chi Cục BVTV, có trách nhiệm hưởng dẫn
khuyến cáo trực tiếp việc sử dụng thuốc hóa học BVTV tại địa bàn tỉnh đó.
5. UBND các cấp từ Tỉnh, Thành phố đến các xã thị trấn là cơ quan
quản lý nhà nước về công tác BVTV, trong đó UBND xã Thị trấn là cơ quan
quản lý trực tiếp toàn diện công tác BVTV tại địa bàn, có trách nhiệm quản lý
việc kinh doanh buôn bán, cho phép các tổ chức cá nhân được phép buôn bán,
thanh tra kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh buôn
bán,sử dụng thuốc cũng như quảng cáo hội thảo thuốc BVTV (Thông tư
03/TT-BNN&PTNT ngày 17/3/2014)
Ngoài ra, còn có các cơ quan liên quan phối hợp trong công tác quản lý
sử dụng thuốc hóa học BVTV như: Phòng Nông nghiệp huyện, Thanh tra,
quản lý thị trưởng, công an, cảnh sát môi trưởng...
1.3. Cơ sở thực tiễn:
1.3.1 Kinh nghiệm về quản lý sử dụng thuốc BVTV trên thế giới:
Ớ tất cả các quốc gia việc sử dụng và buôn bán thuốc BVTV được đặt
dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước, về thực chất đây được hiểu
là quản lý các nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người và sự ô nhiễm môi
12
trường. Chính vì thế, Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã ban hành những
quy định riêng về quản lý thuốc BVTV cho nước mình. Các cơ quan quản lý
Nhà nước có chức năng kiểm soát đối với các nhà sản xuất, những người
buôn bán, những người sử dụng thuốc BVTV và cả các chủ thể sản xuất kinh
doanh lương thực và các hàng hóa có sử dụng thuốc BVTV. Các Chính phủ có
xu hướng thiết lập cơ chế quản lý nhằm mục đích sử dụng an toàn và hiệu
trồng bị nhiễm sâu bệnh trong đó có gần 3.000 ha nhiễm nặng nhưng do việc
cung ứng thuốc BVTV tương đối đầy đủ, kịp thời đã giứp cho công tác phòng
trừ dịch hại của nông dân đạt kết quả khá tốt, đã hạn chế rất nhiều tác hại của
sâu bệnh. Theo số liệu thống kê của Chi cục BVTV Nghệ an, thiệt hại do sâu
bệnh gây ra trên lúa, rau màu hàng năm là 2-3%, trong khi ở các thập kỷ trước
thiệt hại do sâu bệnh gây ra trên cây trồng thường từ 5% (vụ xuân) đến 10%
(vụ Hè thu). Như vậy, thuốc BVTV ngày càng phát huy hiệu quả trong việc
phòng trừ sâu bệnh gây hại cây trồng.
Nếu việc sử dụng thuốc BVTV không đảm bảo theo quy trình ngoài việc
nông sản bị nhiễm dư lượng thuốc BVTV mà còn dẫn đến các sản phẩm thịt,
trứng, sữa cũng có thể nhiễm thuốc BVTV nếu gia sức hoặc vật nuôi ăn và
uống nước có nhiễm thuốc BVTV. Ô nhiễm nước ngầm và nước bề mặt là vấn
đề mà các nhà khoa học phải quan tâm, sự nhiễm độc thuốc BVTV ở các
nguồn nước mặt (sông, ao, hồ, suối...) đang gây những lo ngại lớn vì tài
nguyên nước hiện nay đang được khai thác rất mạnh cho mục đích sinh hoạt,
dư lượng thuốc BVTV đang là vấn đề cấp bách liên quan đến sức khoẻ của
người dân ở nông thôn.
Trong quá trình sử dụng, nếu thiếu hiểu biết về kỹ thuật sử dụng thuốc
BVTV sẽ gây ra những tác hại to lớn cho người, cây trồng, sinh vật có ích
trên đồng ruộng và môi trường sinh thái; Gây độc cho bản thân người sản
xuất, bao gồm những người trực tiếp phun thuốc, người xung quanh khu vực
sử dụng thuốc, những người trực tiếp chăm sóc cây trồng;
Mặt khác, sử dụng không đúng quy trình còn tạo ra những nòi sâu hại,
bệnh hại, cỏ dại... mang tính kháng thuốc cao, khiến cho thuốc trở thành vô
hiệu với chứng. Gây ra hiện tượng tái phát của sâu hại hoặc làm phát sinh
14
những đối tượng dịch hại mới rất khó phòng trừ; Vỏ bao bì thuốc BVTV sau
khi sử dụng, người nông dân thường vứt bừa bãi trên đồng ruộng, kênh
- Mặc dù đã có quy định về liều lượng, cách sử dụng thuốc BVTV nhưng
tình trạng lạm dụng thuốc vì mục đích kinh tế vẫn diễn ra. Nguyên tắc 4 đúng
khi sử dụng thuốc BVTV hầu như không được thực hiện đúng.
- Kết quả thanh tra năm 2013 của Chi cục BVTV Nghệ an tại các vùng
sản xuất rau về tình hình sử dụng thuốc BVTV cho thấy: có 23% hộ nông dân
vi phạm các qui định về sử dụng thuốc (694/3006 hộ nông dân). Trong đó:
Không bảo đảm thời gian cách ly sau phun thuốc: 36,8%; Sử dụng quá
liều lượng: 39,3%; Sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc: 1,2%.
Mỗi loại thuốc BVTV phòng trừ được một loại sâu hại nhất định, nhưng
cũng có loại thuốc hỗn hợp “nhiều trong một”, diệt trừ cùng lúc nhiều loại
dịch hại, sâu bệnh. Đây chính là loại thuốc tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại
nhất. Trong khi đó, người sử dụng chưa ý thức được mức độ nguy hiểm của
loại thuốc này và có tư duy “thuốc càng diệt được nhiều loại sâu càng tốt”,
nên đa phần “chuộng” loại thuốc tổng hợp, mà sử dụng nhiều, không tuân
theo các quy định đã đề ra.
Bất cập hiện nay là thuốc cấm sử dụng trên rau nhưng được sử dụng cho
cây trồng khác vẫn được phép lưu hành. Vì thế, không ai có thể kiểm soát nổi
người dân mua các loại thuốc hạn chế sử dụng, hay mua thuốc ngoài danh
16
mục để phun xịt trên rau.
b) Về kiến thức của người dân
Điều tra của Chi cục BVTV cũng cho thấy kết quả rất đáng lo ngại về
kiến thức về thuốc BVTV của người sử dụng. Nhiều người hoàn toàn không
hiểu biết gì về tính độc hại và các cách sử dụng an toàn thuốc BVTV. Tiếp cận
về tính độc hại của thuốc BVTV chủ yếu do kinh nghiệm.. Việc cất giữ thuốc
tuỳ tiện là một biểu hiện của sự thiếu hiểu biết. Do thiếu hiểu biết về thuốc
BVTV, có đến hơn 50% số người pha chế và sử dụng thuốc không theo hướng
dẫn, 38 % dùng tay pha chế thuốc.
nông dân đã và đang canh tác trên chính mảnh ruộng của mình là một vấn đề
hết sực quan trọng.
2.2. Thực trạng công tác quản lý thuốc BVTV trên địa bàn Huyện
Diễn Châu – Nghệ An
Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm ở toạ độ
105,30 - 105,45 vĩ độ Bắc, 18,20 - 19,50 kinh độ Đông. Địa bàn huyện trải dài
theo hướng Bắc - Nam. Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Nam giáp
huyện Nghi Lộc, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Yên Thành, phía Đông giáp
biển đông. Diện tích tự nhiên là 30.492,36ha, trong đó đất dùng cho sản xuất
nông - lâm - ngư nghiệp chiếm hơn một nửa.
Đất đai ở vùng ven biển nhìn chung độ màu mỡ không cao, vùng bán sơn
địa đa số là đất bạc màu, nhưng nhân dân Diễn Châu giàu kinh nghiệm trong
cải tạo đất và thâm canh nên nông nghiệp nên Diễn Châu vẫn là một trong
những huyện có nền nông nghiệp phát triển nhất của Nghệ An.
Về giao thông, Diễn Châu có Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt chạy dọc
Bắc - Nam, là điểm khởi đầu của Quốc lộ 7 nối với các huyện miền tây và
nước ban Lào, Quốc lộ 48 lên các huyện vùng tây bắc của tỉnh, các tuyến giao
thông nội huyện và liên huyện rất thuận tiện và hiện đại. Đây là điều kiện để
các công ty thuốc BVTV tập trung quảng bá và xây dựng các đại lý lớn để
buôn bán thuốc BVTV trong huyện và các huyện bạn cũng như là điểm trung
chuyển thuốc BVTV sang nước bạn Lào.
18
Toàn huyện có 38 xã và 1 thị trấn, trong đó có 1 xã miền núi (Diễn Lâm),
4 xã vùng bán sơn địa (Diễn Phú, Diễn Lợi, Diễn Thắng và Diễn Đoài), 8 xã
vùng biển (Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Thành, Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn
Kim, Diễn Hải và Diễn Hùng), số còn lại là các xã vùng lúa và vùng màu.
Dân số đến hết năm 2006 là 292.229 người.
BVTV đang công tác tại các cơ quan trung ương và địa phương.
a) Đánh giá về thực trạng các hộ kinh doanh buôn bán thuốc BVTV:
Chúng tôi thống kê và điều tra các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV trên
địa bàn huyện Diên châu: có 71 cơ sở có đăng ký kinh doanh thuốc BVTV, có
một số hộ kinh doanh mùa vụ không đăng biển bán hàng.
Kết quả thống kê lượng thuốc BVTV nông dân sử dụng trên địa bàn
huyện Diễn châu có khác nhau cho từng loại cây trồng; Vùng bán sơn địa
trồng các loại cây màu hàng năm ít sử dụng thuốc hơn, vùng lúa ít thứ 2 vùng
màu thâm canh lạc ngô ven quốc lộ 1A nhiều thứ 3 và vùng chuyên canh rau
là nhiều nhất.
Lượng thuốc hóa học BVTV nông dân sử dụng năm 2014 đã giảm hơn
năm 2011 về mặt số lượng là do công tác tuyên truyền, tập huấn cho nông dân
như chương trình IPM, ICM, SRI… đã giúp nâng cao được nhận thức của
nông dân và khuyến khích nông dân sử dụng các biện pháp sinh học trong
công tác BVTV.
Tuy nhiên, theo số liệu điều tra 108 hộ trồng rau của chúng tôi, 100% hộ
nông dân trồng rau tại xã Diễn Thành, Diễn Kỷ, Diễn thịnh… Huyện Diễn
châu sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại trên rau. Số hộ nông dân sử
dụng thuốc BVTV trên rau tăng nồng độ so với khuyến cáo là 30 hộ, chiếm
27,7 %. Số hộ sử dụng thuốc > 4 lần/1 vụ rau là 40 hộ, chiếm 37% trong đó
có một số hộ nông dân sử dụng thuốc tăng nồng độ so với khuyến cáo và sử
dụng nhiều loại thuốc (hỗn hợp).
Số hộ sử dụng thuốc không đảm bảo thời gian cách ly là 20 hộ, chiếm 18,5 %.
b) Đánh giá về xây dựng kế hoạch để quản lý thuốc BVTV:
Trong những năm qua, tuy có khó khăn về nhân sự, thẩm quyền thanh tra
kiểm tra theo luật thanh tra mới nhưng Trạm BVTV đã cố gắng tham mưu tốt
20
cho các cấp ngành tổ chức quản lý hoạt động buôn bán kinh doanh thuốc
- Phân công các nguồn nhân lực để thực hiện công việc quản lý: Nguồn
nhân lực điều động cho công tác thanh kiểm tra cũng bất cập, thành phần luôn
thiếu, khi thì thiếu quản lý thị trường, khi thì thiếu công an, khi thì thiếu
phòng NNPTNT;
UBND xã thì hoạt động không đều, có xã làm tốt, có xã làm ít, có xã
không làm mà chủ yếu nhờ Huyện, Tỉnh.
Trong khi Cán bộ BVTV huyện thì không có thẩm quyền thanh tra đột
xuất, muốn kiểm tra phải xin chủ trương, xin ý kiến và phải ra quyết định
thành lập đoàn kiểm tra, và quyết định này cũng phải căn cứ vào kế hoach từ
đầu năm, do đó rất khó khăn cho công tác kiểm tra xử lý vi phạm; Biết vi
phạm đó nhưng muốn xử phạt thì phải đủ thủ tục. Do vậy, hiện nay mọi vi
phạm mà cán bộ Trạm BVTV xử lý chủ yếu là nhắc nhở.
- tiến trình thực hiện các cuộc thanh tra đều theo kế hoạch được phê
duyệt từ đầu năm nên có lúc đạt chỉ tiêu nhưng cũng có lúc không đạt được,
thời gian muốn tiến hành thanh kiểm tra nếu có công việc khác thì phải dừng
lại, thành phần của đoàn cũng luôn luôn biến động, khi thì phó thủ trưởng, khi
thì nhân viên, khi thì thiếu nên rất khó đạt yêu cầu.
d) Đánh giá thục trạng công tác chỉ đạo: qua thực trạng trên cho thấy
thực trạng công tác thanh kiểm tra đã triển khai nhưng có lúc có nơi vẫn chưa
đạt yêu cầu đề ra; việc phối kết hợp trong thanh kiểm tra vẫn chưa đồng bộ,
sự phối hợp giữa Chi cục với UBND Huyện vẫn còn chưa nhịp nhàng, đặc
biệt có 1 số xã lơ là hoặc bỏ rơi công tác thanh kiểm tra xử lý vi phạm.
e) Kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất: Công tác kiểm tra đánh giá định
kỳ hoặc đột xuất cũng có tiến hành; có sự kiểm tra chéo giữa Thanh tra Sở
NNPTNT, thanh tra chi cục với các Huyện, thậm chí có sự giám sát của Hội
đồng nhân nhân Huyện, Tỉnh và có cả sự giám sát của Mặt trận tổ quốc nhưng
công tác thanh kiểm tra vẫn không đều; Ở UBND các huyện thì đều có các
văn bản liên quan đến công tác thanh kiểm tra, tuy nhiên kết quả xử lý vi
phạm rất ít, tập trung vào nhắc nhở, hoặc xử lý vi phạm hành chính.. còn ở
phải cách ly.
Trong cơ chế sản xuất nhỏ, cá thể, nông dân hoàn toàn tự lựa chọn và sử
23
dụng thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chí riêng của họ, gây khó khăn rất lớn
trong công tác quản lý. Mặc dù nhà nước đã ban hành quy định đối với việc
sử dụng các loại thuốc hạn chế và thuốc cấm sử dụng, nhưng trong công tác
thanh tra, giám sát và xử phạt đối với người trực tiếp sử dụng mới dừng lại ở
biện pháp tuyền truyền, giáo dục. Các chế tài xử phạt chưa đủ hạn chế những
vi phạm trong lĩnh vực thuốc BVTV. Chưa gắn kết được trách nhiệm của
người sử dụng thuốc với chất lượng sản phẩm của họ và vấn đề xử lý ô nhiễm
môi trường nông thôn. Hiện nay chúng ta chưa xây dựng được Chương trình
kiểm soát dư lượng do đó việc giám sát quá trình sử dụng thông qua kiểm tra
chất lượng nông sản còn gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, hàng loạt vấn đề có liên quan đến xử lý ô nhiễm môi
trường nông thôn do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ra như: thu hồi và tiêu
hủy bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng, xử lý nguồn nước, đất
bị ô nhiễm v.v...vẫn chưa được quan tâm đầy đủ.
Việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại không đảm bảo kỹ
thuật, chưa chấp hành đúng các quy định của Nhà nước như còn sử dụng
thuốc BVTV ngoài danh mục, thuốc BVTV hạn chế sử dụng, thuốc BVTV
không được sử dụng trên rau để phòng trừ sâu bệnh.
Hiện nay, hiện tượng phun thuốc trên rau không đúng kỹ thuật còn rất
phổ biến bắt nguồn từ chỗ người nông dân sản xuất nhỏ khó có đủ năng lực
và điều kiện nắm vững kiến thức về sử dụng thuốc BVTV, trong khi vai trò
của các tổ chức khuyến nông, BVTV còn chưa đủ mạnh cả về cơ chế, tổ chức
và chuyên môn. Hơn nữa, chưa có hình thức khuyến khích và chế tài phạt đối
với các hành vi sử dụng thuốc nên nông dân chưa thận trọng trong sử dụng
thuốc BVTV. Không hiếm các hộ nông dân dành riêng các ruộng rau ít dùng
thì phải tham mưu cho UBND huyện hoặc chi cục BVTV tỉnh ra quyết định
thành lập đoàn thanh tra, và kế hoach này phải xây dựng từ đầu năm thì mới
được. Nếu khi kiểm tra có chứng cứ vi phạm, lập biên bản đề nghị Chủ tich
UBND huyện hoặc Chi cục trưởng ra quyết định xử phạt; đây là 1 hạn chế rất
lớn trong việc huy động lực lượng cán bộ BVTV chuyên trách tăng cưởng
kiểm tra chấn chỉnh hoạt động kinh doanh buôn bán thuốc BVTV.
25