SKKN Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng - Pdf 45

MỤC LỤC
Trang


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, thanh niên, học sinh đang
trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và sự
bùng nổ thông tin, với nhiều thông tin thiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời
sống làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá
trị đạo đức truyền thống, tình trạng bạo lực học đường, thanh thiếu niên hư, trộm
cắp, cướp giật ngày càng gia tăng. Có nhiều nguyên nhân khách quan như tác động
của mặt trái của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, nhưng theo các
chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống (KNS).
Các em chưa được dạy cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống đã bị lôi
cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu.
Các em không được dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống và những KNS. Thực tiễn
này khiến các nhà giáo dục và những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đặc
biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh
trung học phổ thông. Vấn đề trung tâm liên quan đến việc giáo dục kĩ năng sống
cho thế hệ trẻ là thế hệ trẻ ngày nay thường phải đương đầu với những rủi ro đe dọa
sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập. Do đó, nếu chỉ có thông tin không đủ bảo vệ họ
tránh được những rủi ro này. Giáo dục kĩ năng sống hoặc giáo dục dựa trên tiếp cận
kĩ năng sống có thể cung cấp cho các em các kĩ năng để giải quyết được các vấn đề
nảy sinh từ các tình huống thách thức trong cuộc sống. Mặt khác, kĩ năng sống là
một thành phần quan trọng trong nhân cách con người trong xã hội hiện đại. Muốn
thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại, con người phải có kĩ năng
sống. Kĩ năng sống vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân. Giáo dục kĩ năng
sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện.
Ở bậc THPT chưa có chương trình giáo dục kỹ năng sống độc lập, việc giáo
dục KNS cho học sinh chủ yếu được thực hiện trên cơ sở giáo dục tích hợp qua các

Đồng.
2.2. Về địa bàn nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại trường THPT Bảo Lộc, thành phố Bảo
Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
3. Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu trong hai năm học, từ 2014-2015 đến 2015-2016.
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Kỹ năng sống
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm kỹ năng sống (KNS). Tuy nhiên, có thể tiếp
cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo UNESCO: Học để biết
(Learning to Know), học để khẳng định bản thân (Learning to Be), học để chung
sống (Learning to Live Together) và học để làm việc (Learning to Do).
Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là kỹ năng học tập, kỹ năng
làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng làm việc.

3


Tuy nhiên, kỹ năng sống (Life Skills) có thể hiểu là khả năng làm chủ bản
thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội và
khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức
thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh.
Theo UNICEF: “KNS là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái
độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành
động (làm gì và làm như thế nào)”.
Ở Việt Nam khái niệm KNS được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn, đó
là:
+ Khả năng thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng

Nhóm kỹ năng giao tiếp, hòa nhập, ứng phó với các tình huống cuộc
sống:
- Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng;
- Kỹ năng kiểm soát tình cảm, kìm chế thói hư tật xấu, sở thích cá nhân;
- Biết phân biệt hành vi đúng - sai, phòng tránh tai nạn;
- Kỹ năng trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình trước đám đông;
- Kỹ năng ứng phó với tai nạn đuối nước;
- Kỹ năng sống còn là những kiến thức về giới tính, chống lại sự cám dỗ từ tệ
nạn xã hội, chống xâm phạm tình dục;
- Kỹ năng ứng phó với một tình huống bạo lực trong học sinh (khi tình trạng
bạo lực trong học sinh thường xảy ra);
- Kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu như động đất, sóng thần, bão lũ; kỹ
năng ứng phó với tai nạn như cháy, nổ...;…..
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cụ thể của từng trường tùy thuộc tập quán,
điều kiện CSVC, sự nhận thức, năng lực của Hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên nhà
trường để định hướng nội dung, chương trình giáo dục KNS theo hướng lồng ghép
trong các môn học, thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo
dục khác do nhà trường, địa phương tổ chức.
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói
quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những
hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả; thông qua hoạt động giáo dục
KNS học sinh được rèn luyện năng lực tư duy qua đó chất lượng các môn học cũng
như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên góp phần phát
triển bền vững cho xã hội.
1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng sống
Quản lý giáo dục KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối
tượng quản lý nhằm đưa việc giáo dục KNS đạt được kết quả mong muốn một cách
hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT không thể tách rời khỏi
các chức năng của quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường nó bao gồm
hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực,

sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm. Do đó có sự kéo dài của thời
kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em
được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không). Điều đó cho ta thấy rằng
thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội.
Việc trang bị cho học sinh ở lứa tuổi THPT những KNS có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng, trang bị cho các em hành trang bước vào cuộc sống để sống tốt hơn,
thích ứng và giảm thiểu những tác hại gây ra trong tương lai cho chính bản thân các
em, cho đất nước và cho toàn cầu.
1.4.2. Vai trò, ý nghĩa của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
6


- KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: KNS chính là những nhịp cầu
giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, sẽ luôn
vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một
cách tích cực, phù hợp; KNS không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà góp
phần thúc đẩy phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề của xã hội và bảo
vệ quyền con người.
- Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ: Vì thế hệ trẻ là chủ
nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất
nước, nếu không có KNS các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản
thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình
thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá,
song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo,
kích động, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay,
thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu
cực, vì vậy việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ rất cần thiết, giúp các em rèn luyện
hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em
có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp với gia đình bạn bè và mọi người; sống tích cực, chủ động, an toàn

- Kỹ năng đánh giá người khác: Là khả năng có thể hình dung và đặt mình
vào hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác qua đó
chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc, tình cảm, hoàn cảnh cũng như nhu cầu của họ.
- Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Là khả năng con người hiểu rõ về bản thân
mình, các điều kiện đã có để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho bản thân mình một cách
hiệu quả nhất.
- Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống: Là khả năng con
người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất
yếu của cuộc sống, là khả nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân chính,
hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực
khi gặp khó khăn. Có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và
làm việc điều độ có kế hoạch, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, sống vui vẻ
chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không
đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân.
- Kỹ năng định hướng mục tiêu cuộc đời: Là khả năng con người biết đề ra
mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được
mục tiêu đó.
- Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả: Là khả năng con người biết sắp xếp
các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc chính,
trọng tâm trong một thời gian nhất định đạt hiệu quả cao nhất.
Kỹ năng này cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu
và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực
công việc.
Quản lý thời gian hiệu quả là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm
kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lý thời gian tốt góp phần quan trọng vào sự thành
công của cá nhân và của nhóm.
8


- Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc: Là khả năng con người nhận thức

“Một ngày để sống - Sống biết tiết kiệm”, Chương trình “Vượt qua nỗi sợ hãi”,
Chương trình “Học kì quân đội”, “Câu lạc bộ tình nguyện”, “Lá lành đùm lá
rách”… .
1.4.1. Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS
9


Để xây dựng kế hoạch giáo dục KNS được tốt Hiệu trưởng cần phải dựa trên
tình hình thực tế của nhà trường về: học sinh, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất,
điều kiện của nhà trường, điều kiện thục tế của địa phương … để định ra nội dung,
yêu cầu, biện pháp giáo dục KNS phù hợp nhất, đạt kết quả cao nhất có thể.
Kế hoạch giáo dục KNS có thể tách riêng hoặc nằm trong kế hoạch tổng thể
của nhà trường được xây dựng theo năm học có tính pháp quy được cơ quan quản
lý cấp trên trực tiếp phê duyệt. Kế hoạch phải mang tính cụ thể, xác định được mục
tiêu cần đạt, dự kiến nguồn lực thực hiện, phân bố thời gian hợp lý, đề ra các biện
pháp có tính khả thi để thực hiện.
Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho học sinh bao gồm: Quản lý xây
dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế
hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phụ trách, giảng dạy giáo dục KNS, kế hoạch
đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả
hoạt động giáo dục KNS.
Để hoạt động giáo dục KNS đạt hiệu quả nhà trường cần xây dựng phương
hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất nhằm động viên và phát huy tối đa
khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức
mạnh tổng thể trong hoạt động giáo dục giáo dục KNS.
1.4.2. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động giáo dục KNS
Quản lý việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS trước tiên là quản lý bộ máy
nhân sự tham gia giáo dục KNS trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục KNS
tạo nên sức mạnh của tập thể, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tham gia một cách

kế hoạch chủ nhiệm và tổ chức hoạt động cho học sinh, quản lý phát huy hiệu quả
giờ sinh hoạt của lớp, nhất là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đôn đốc, kiểm
tra đánh giá thi đua, đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh qua đó nâng cao chất
lượng giáo dục KNS cho các em.
- Quản lý hoạt động của Đoàn TN: bán sát nhiệm vụ năm học, nhu cầu cần
thiết về KNS của học sinh, Hiệu trưởng chỉ đạo BCH Đoàn trường xây dựng kế
hoạch hoạt động Đoàn, kế hoạch ngoại khóa, các nội dung sinh hoạt tập thể ...
thông qua các hoạt động đó giáo dục KNS cho học sinh phù hợp với đặc điểm lứa
tuổi, điều kiện của nhà trường, của địa phương và xu hướng phát triển của xã hội.
- Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục khác: Để tạo nên sức
mạnh tổng thể trong công tác giáo dục KNS cho học sinh, nhà trường cần huy động
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục
như Ban đại diện cha mẹ học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nơi
học sinh cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn như công an, y tế, Đoàn thanh
niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ, nhà thiếu nhi ... Để công
tác giáo dục KNS cho học sinh nhà trường đạt hiệu quả cao nhà trường cần tạo
dựng sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà
trường.
1.4.3. Chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS
* Chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục KNS
11


Để thực hiện đạt hiệu quả công tác giáo dục KNS cho học sinh Hiệu trưởng
phải quản lý, chỉ đạo thực hiện mục tiêu của giáo dục KNS là chuyển kiến thức,
thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thành thục các thao tác,
hành động đó trong cuộc sống thực tế theo xu hướng tích cực mang tính chất xây
dựng. Muốn vậy, người Hiệu trưởng phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện tuân thủ
một số nguyên tắc sau:
+ Giáo dục KNS phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh và hoàn cảnh



bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học hình thành một phong
cách sinh hoạt của nhà trường biểu hiện ở những nề nếp tốt như: trật tự, vệ sinh,
ngăn nắp, nghiêm túc, thân thiện, đoàn kết, tự giác, tự nguyện. Có dư luận tập thể
tốt, ủng hộ cái tốt, cái tiến bộ, phê phán cái sai, lạc hậu; có phong trào thi đua sôi
nổi, đúng thực chất và có mối quan hệ tốt giữa các thành viên trong nhà trường
như: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò và giữa các trò với nhau.
* Chỉ đạo phối hợp các lực lượng để giáo dục KNS:
Nhà trường cần phối hợp với các lực lượng nhằm tạo mối quan hệ gắn kết
giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương
pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi nguồn lực của
cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường
giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục.
1.4.4. Quản lý công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS
Để đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục KNS nhà quản lý
cần phải bám sát mục tiêu đề ra, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân
theo một quy trình đánh giá khoa học, cụ thể:
- Về loại hình đánh giá: thực hiện chương trình giáo dục KNS theo cách phân
loại chủ thể đánh giá, đó là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài.
Tự đánh giá: Là hoạt động của chủ thể đánh giá đối với chính bản thân mình,
tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với hệ chuẩn được xác định từ trước. Hoạt
động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân, về tổ chức của mình, giúp
tự khắc phục điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn. Tự đánh giá cũng
giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ
vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn.
Đánh giá từ bên ngoài: Được tiến hành bởi các cơ quan cấp trên hoặc từ một
tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn đã được xác định từ trước. Với
việc đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn được xác định từ trước, việc đánh giá

1.4.5. Đặc điểm, tình hình giáo dục của trường THPT Bảo Lộc
Trong những năm qua, trường THPT Bảo Lộc đã xây dựng kế hoạch, từng
bước thực hiện các mục tiêu phấn đấu về xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, đầu
tư thiết bị trường học; xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên, nhân viên đạt vượt chuẩn; xây dựng nền nếp, kỷ cương trường
học; duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo viên dạy
giỏi, học sinh giỏi;… Song song với việc nâng cao chất lượng chuyên môn, trường
THPT Bảo Lộc đã chú trọng đến công tác giáo dục pháp luật, nâng cao tư tưởng
nhận thức, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công
nhân viên; giáo dục KNS, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục truyền thống cho
học sinh. Cụ thể:
* Chi bộ: Gồm 32 đảng viên.
* Tình hình đội ngũ:
- Tổng số CB, GV, NV: 92 người, trong đó CBQL và GV 83 người, nhân
viên: 9 người.
14


- BGH: 03 người (01 hiệu trưởng; 01 hiệu phó chuyên môn; 1 hiệu phó phụ
trách CSVC, hướng nghiệp, thi đua khen thưởng; khảo thí & KĐCL, NGLL).
- Trình độ thạc sĩ: 7 người; Đại học: 76 người; Cao đẳng: 0; Trung cấp: 05
người; Chưa qua đào tạo: 03 người ( 02 bảo vệ, 1 lao công).
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên có năng lực sư phạm cao, xếp loại chuẩn giáo
viên xuất sắc và khá chiếm tỉ lệ hơn 90%.
* Tình hình CSVC:
- Nhà trường đã tiến hành nâng cấp cải tạo nhiều hạng mục phục vụ thiết
thực cho nhu cầu dạy - học với quan điểm đặt lợi ích của người học lên hàng đầu,
lắp đặt thêm nhiều máy chiếu trong các lớp học, trang bị bàn ghế mới cho 2 phòng
máy vi tính, cải tạo nhà xe, phòng truyền thống, cổng sắt các dãy phòng học, mái
che hành lang, khu văn phòng, hệ thống sân chơi bãi tập, ….

HS

2014-2015

1503

2015-2016

1308

Giỏi
SL

TL

165
165

Khá
SL

Trung bình

Yếu

TL

SL

TL

6

281

21.4
8

- Về hạnh kiểm được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Năm học

Số
HS

Tốt
SL

TL

Khá
SL

TL

Trung
bình

Yếu

SL


72.63

349 26.68

9

0.69

0

0.0

- Chất lượng giáo dục mũi nhọn
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Bảo Lộc luôn được chú
trọng và quan tâm, luôn nằm trong tốp cao của toàn tỉnh cả về số lượng và chất
lượng, sau đây là bảng thống kê kết quả học sinh giỏi trong các năm học qua:
Năm học

Số lượng học sinh giỏi
Tổng số HS
Giỏi
Cấp trường
Cấp tỉnh
Cấp quốc gia

2014-2015

96

55

hiện nay. Nhà trường đã chủ động trong xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ có
nội dung giáo dục KNS cho học sinh, chỉ đạo các lực lượng giáo dục trong nhà
trường tổ chức giáo dục KNS cho các em.
2.1. Đánh giá phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh
THPT Bảo Lộc
- Trên thực tế trường THPT Bảo Lộc đã vận dụng giáo dục KNS cho học sinh
thông qua các hình thức lồng ghép trong hoạt động NGLL, hoạt động ngoại khóa;
tích hợp trong giảng dạy các môn văn hóa cơ bản như: môn Vật lý, môn Sinh học,
môn Địa lý, môn Công nghệ... để có được nhận định đúng nhất tác giả đã tiến hành
khảo sát trên 80 CBQL và GV của các nhà trường, kết quả như sau:
Mức độ thực hiện
TT

Hình thức tổ chức

Thường
xuyên

Thỉnh
thoảng

Không
thực hiện

SL

TL

SL


42

58.
3

30

41.
7

0

0.0

3

Thông qua hoạt động ngoại khóa

35

48.
6

37

51.
4

0



54.
2

7

9.7

6

Thông qua các hoạt động Đoàn

26

36.
1

39

54.
2

7

9.7

7

Thông qua hoạt động lao động


6

8.4

9

Phối hợp các tổ chức trong nhà

24

33.

41

57.

7

9.7
17


trường giáo dục KNS cho học
sinh.
10

Phối hợp giữa nhà trường, gia
đình, xã hội để giáo dục KNS
cho học sinh.


Lập kế hoạch

Tốt

Bình
thường

Chưa tốt

SL

TL

SL

TL

SL

TL

Lập kế hoạch giáo dục KNS cho học
sinh theo năm học, tháng, tuần.

24

33.
3

42

17

23.
6

43

59.
7

12

16.
7

Lập kế hoạch đầu tư mua sắm cơ sở vật
chất tổ chức giáo dục KNS cho học
sinh.

18

25.
0

42

58.
3

12

Mức độ thực hiện
TT

Tổ chức thực hiện

Tốt

Bình
thường

Chưa
tốt
SL TL

SL

TL

SL TL

1

Thành lập Ban chỉ đạo giáo dục
KNS

21

29.
2


Xây dựng quy chế phối hợp trong
giáo dục giáo dục KNS cho HS.

24

33.
3

37

51.
4

11

15.
3

4

Ban hành văn bản hướng dẫn về
giáo dục giáo dục KNS cho HS.

24

33.
3

40


công

SL

TL

SL

TL

SL

TL

1

Hiệu trưởng

29

24.2

79

65.8

12

10.0


12.5

4

Giáo viên chủ nhiệm lớp

30

25.0

84

70.0

6

5.0

5

Giáo viên bộ môn

39

32.5

66

55.0




2.4. Đánh giá việc chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS cho học sinh ở trường
THPT Bảo Lộc
Để đánh giá thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, thông
qua phiếu khảo sát với các đối tượng CBQL, GVCN, giáo viên bộ môn, bí thư đoàn
thanh niên và phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên, kết quả thu được như sau:
Mức độ thực hiện
TT

Nội dung

Tốt

Bình
thường

Chưa tốt

SL

TL

SL

TL

SL

TL

52.
8

3

4.1

3

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
hoạt động ngoại khóa.

25

34.
7

47

65.
3

0

0.0

4

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
sinh hoạt tập thể.


1

2

21


sinh hoạt lớp.

8

7

6

Chỉ đạo giáo dục KNS thông qua
các hoạt động Đoàn.

25

34.
7

40

55.
6

7

33.
3

40

55.
6

8

11.1

Phối hợp các tổ chức trong nhà
trường giáo dục KNS cho học sinh.

27

37.
5

34

47.
2

11

15.
3


quả.
2.5. Đánh giá việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học
sinh ở trường THPT Bảo Lộc
Để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS nói
chung và KNS cho học sinh của Hiệu trưởng trường THPT Bảo Lộc, thông qua
phiếu khảo sát kết quả thu được như sau:
TT

NỘI DUNG

SỐ LƯỢNG

TỶ LỆ (%)

1

Kiểm tra đánh giá việc giáo dục KNS cho
học sinh thường xuyên, hiệu quả.

13

18.1

2

Có kiểm tra đánh giá việc giáo dục KNS
cho học sinh nhưng chưa thường xuyên.

47


lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho học sinh vào các môn học trong giờ học
chính khóa.
- Giáo viên chủ nhiệm đã quan tâm, thường xuyên phối hợp với cha mẹ học
sinh trong việc giáo dục KNS cho các em.

23


- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa ngoài trời, thăm các
Viện sinh học Tây Nguyên, Viện hạt nhân Đà Lạt, Viện Hải Dương học Nha Trang,
Rừng quốc gia Cát Tiên, Bảo tàng lịch sử, công trình thuỷ điện, ... giúp học sinh
liên hệ thực tế, trải nghiệm, từ đó hình thành nhận thức, thái độ, hành vi.
* Hạn chế
- Một số bộ cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan
trọng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, chưa bố trí lượng
thời gian hợp lý cho việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS.
- Việc tổ chức các hoạt động chủ yếu là giao trách nhiệm cho Bí thư Đoàn
thanh niên nên việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức chưa
có sự đầu tư, chuẩn bị kĩ lưỡng, chưa phát huy được sự tham gia, phối hợp của các
thành viên trong nhà trường.
- BGH nhà trường đưa nội dung chương trình giáo dục KNS cho học sinh chưa
phù hợp, thiếu sáng tạo; chương trình hoạt động còn sơ sài.
- Công tác phối hợp của các tổ chức đoàn thể, các lực lượng trong và ngoài
nhà trường chưa hiệu quả; chưa phát huy được sức mạnh của các lực lượng giáo
dục KNS.
Từ những hạn chế, tồn tại nêu trên, dẫn đến công tác hiệu quả giáo dục KNS
cho học sinh của trường THPT Bảo Lộc còn hạn chế. Điều này đòi hỏi cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục là Sở GD&ĐT Lâm Đồng và Hiệu trưởng trường
THPT Bảo Lộc tiếp tục nghiên cứu, tìm ra các biện pháp khắc phục và áp dụng các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục KNS cho học sinh, góp phần nâng

HS ở trường THPT Bảo Lộc
* Mục tiêu
- Giúp học sinh ý thức được hoạt động giáo dục KNS là hoạt động thiết thực
đáp ứng tốt nhu cầu của bản thân học sinh và nhu cầu của xã hội. Từ đó học sinh
mới tự nguyện chấp nhận yêu cầu của thầy cô giáo để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ
năng, trang bị cho bản thân thông qua nhận thức, hành vi, hành động, việc làm từ
đó xây dựng kế hoạch hành động với môi trường, với cuộc sống hiện tại và tương
lai.
- Giúp các lực lượng giáo dục KNS hiểu rõ vì sao cần phải thực hiện giáo dục
KNS cho học sinh và rèn luyện cho các em hình thành các kỹ năng sống của chính
mình nhằm thích ứng với cuộc sống trong hiện tại và tương lai.
* Nội dung và cách thức thực hiện
Giáo dục phổ thông được đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa tiếp cận với khu vực, với thế giới theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh,
nâng cao năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, tính tập thể, tư duy độc lập, kỹ năng
thực hành, vận dụng thực tiễn, kỹ năng sống ... Những nội dung phong phú đó
không thể chuyển tải hết trong thời lượng của các tiết học văn hoá trên lớp mà phải
thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các sinh hoạt
tập thể khác với các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú.
Nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức bồi dưỡng thường
xuyên nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh,
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status