MỘT số BIÊN PHÁP GIÚP học SINH lớp 6 làm tốt văn MIÊU tả - Pdf 45

SNG KIN KINH NGHIM
MT S BIấN PHP GIP HC SINH LP 6 LM TT VN MIấU T
1. T VN
Trong chng trỡnh Trung hc C s mụn Ng vn l mt trong nhng mụn Khoa hc Xó hi
cú vai trũ rt quan trng. Mụn hc ny tỏc ng rt sõu sc n i sng tỡnh cm, tõm hn ca
mi con ngi. Nú hng con ngi n nh cao ca chõn, thin, m; i thi ho vn Nga: Mc
xim Gocki tng vit: Vn hc giỳp con ngi hiu c bn thõn mỡnh, nõng cao nim tin vo
bn thõn v lm ny n con ngi khỏt vng hng n chõn lý. Vn hc chp ụi cỏnh
cỏc em n vi mi thi i vn minh, vn ti tng lai vi c m, hoi bóo, lý tng cao
p. Nhng t lõu mụn Ng vn khin hc sinh cú suy ngh ú l mụn hc khụng d t im
cao, phn ting vit khụ khan, phn vn di dũng nờn ngi hc, ngi vit. Vỡ th i vi vi mi
thy cụ giỏo dy mụn ng vn, THCS núi chung, v mụn ng vn 6 núi riờng, ngoi vic cung
cp kin thc ni dung bi hc theo SGK, chun kin thc k nng, ti liu hccũn phi khụng
ngng tỡm tũi, i mi sỏng to phng phỏp ging dy to hng thỳ cho cỏc em. Song mt
nhim v cng khụng kộm phn quan trng na l giỏo viờn dy ng vn THCS l: lm th
no giỳp hc sinh rốn luyn tt k nng lm vn nht l vn miờu t.
Qua thc t nhiu nm ging dy mụn Ng vn 6 v qua thi gian bi dng hc sinh gii
ti trng, tụi thy hc sinh gii mụn ng vn l ch cú th m trờn u ngún tay. Khi chm bi
tp lm vn a s cỏc em bin bi vn miờu t thnh vn k di dũng, khụ khan, vn t nghốo
nn. Vy lm th no nõng cao cht lng dy hc tp lm vn nht l vn miờu t cho hc
sinh lp 6? tỡm cõu tr li cho cõu hi ny l c quỏ trỡnh. Vi vai trũ l mt ngi giỏo viờn
ng lp trc tip ging dy cỏc em, tụi ó tỡm tũi phõn tớch thc trng v la chn: Mt s
phng phỏp giỳp hc sinh lp 6 lm tt vn t.

II.GII QUYT VN
1. C s lý lun v thc tin
i mi ni dung, phng phỏp dy v hc ó, ang v s l mt trong nhng yờu cu cp
bỏch ca s nghip i mi do ng, Nh nc v cỏc cp ngnh Giỏo dc ra. Mc tiờu ca
cụng cuc i mi phng phỏp dy v hc l nhm a ra nhng yờu cu o to con ngi
cho phự hp vi xu hng chung ca thi i. Mi vt u vn ng theo xu hng thay i v
khụng ngng phỏt trin. Chớnh vỡ vy, vic i mi cụng tỏc giỏo dc khụng ch dng li s

gỡ cú trng). Thc trng hc sinh cũn nhiu suy ngh sai lc nh vy, ó lm cho tit Tp lm vn
tr thnh mt gỏnh nng, mt thỏch thc i vi giỏo viờn THCS.
Từ những cơ sở trên,tôi thiết nghĩ: Quá trình rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 6 là
một việc làm thiết thực. Vỡ vy vi vai trũ, nhim v ca mt giỏo viờn ang ng trờn bc ging,
tụi mnh dn ra v vn dng mt s bin phỏp giỳp hc sinh hc tt vn miờu t nh sau:
3. Cỏc bin phỏp tin hnh gii quyt vn
Xut phỏt t nhn thc vn nh trờn, trong quỏ trỡnh ging dy phõn mụn tp lm vn lp 6
trng THCS tụi ó tin hnh nh sau:




Dy tt cỏc gi tp lm vn theo k hoch ging dy b mụn dó c ban giỏm hiu kớ
duyt.
Khi dy ụn tp lm vn miờu t tụi chia theo tng dng bi, nhúm bi v phõn mng ni
dung kin thc c th
Rốn cỏc phng phỏp, k nng lm vn miờu t cho hc sinh
Sau dõy l mt s bin phỏp giỳp cỏc em hc sinh lp 6 lm tt vn miờu t
3.1. Giỏo viờn phi nm vng ni dung, chng trỡnh v phng phỏp dy Tp lm vn:
Dy nh th no hc sinh hc tt v nm vng phng phỏp lm vn miờu t, vit c
nhng bi vn hay, hp dn sinh ng?ũi hi giỏo viờn ging dy mụn Ng vn phi nm vng
ni dung chng trỡnh, ng thi bit chn v vn dng phng phỏp phự hp truyn th
kin thc cho hc sinh. Bit c hc sinh cn gỡ, cha bit nhng gỡ xỏc nh ỳng mc tiờu
bi dy, xỏc lp c mi quan h gia kin thc bi dy vi kin thc c v kin thc s cung
cp tip theo. C th, giỏo viờn cn nm vng nhng vn sau :

1. Ni dung chng trỡnh Tp lm vn lp 6: Cỏc em bt u lm vn miờu t t hc kỡ
II vi s tit Tp lm vn miờu t 16 tit. Mc tiờu l trang b kin thc v rốn luyn k
nng lm vn, gúp phn cựng vi cỏc mụn hc khỏc lm giu vn sng, rốn luyn t duy,
bi dng tõm hn, cm xỳc thm m, hỡnh thnh nhõn cỏch cho hc sinh.

Xác định yêu cầu đề bài trước khi làm là một trong những kĩ năng rất quan trọng.Nó giúp các em
định hướng đúng đối tượng miêu tả,nội dung và phạm vi bài làm để tránh được hiện tượng lạc
đề xảy ra
*Ví dụ
Đề bài: “Em hãy tả lại quang cảnh sân trường em trước giờ vào lớp
Gv phải hình thành các bước tìm hiểu đề cho học sinh theo thứ tự lần lượt: Mét lµ thÓ lo¹i; hai lµ
néi dung cÇn lµm lµ g× ?; ba lµ ph¹m vi đề bài.
+Thể loại: Miêu tả
+ Nội dung: Cảnh sân trường em trước giờ vào lớp
+ Phạm vi: Trước giờ vào lớp


Giỏo viờn phi ch cho hc sinh thy c õy l mt vn tng hp: Vậy thế nào là cảnh
tổng hợp? Giáo viên chỉ rõ cho học sinh thấy xác định cảnh tổng hợp nhờ những từ ngữ nào.
Gv gii thớch cho hc sinh t cnh tng hp ngha l: cảnh gồm nhiều cảnh nhỏ, cảnh lẻ.
Những cảnh nhỏ, của quê hơng,min quờ, hay trng hc thờng là cánh đồng, dòng sông, con đờng làng,sõn trngsau đó giúp học sinh hình dung đợc cụ thể về cảnh miêu tả ở thời gian
nào (mùa nào) ở không gian nào ( cảnh đó nh thế nào) Việc xác định đợc đúng yêu cầu của
đề nh ở ví dụ trên sẽ giúp các em rất nhiều trong việc định hình đợc đối tợng miêu tả.
3.3. Rốn k nng quan sỏt, tng tng, so sỏnh v nhn xột trong vn miờu t
1. a. Rốn luyn k nng quan sỏt cho hc sinh
i tng ca bi vn miờu t l s vt, thiờn nhiờn, l con ngi, cuc sng con ngi. Cú
th coi ú l mt th gii phong phỳ v a dng phc tp ang din rt hay i theo tng ngy
tng gi. Tuy vy khụng phi t nhiờn m ta hiu ngay v nm vng c im ca tng s vt ,
s vic, con ngi miờu t ỳng bn cht ca nú. Chớnh vỡ th mi giỏo viờn dy mụn Ng
vn cn phi hỡnh thnh ngay t u k nng quan sỏt v ghi chộp.
i vi cỏc em hc sinh, khi lm vn miờu t k nng quan sỏt v ghi chộp cng rt cn
thit,tuy nhiờn cỏc em khụng th cú c cỏc k nng ú v s dung thnh tho c, tt c mi
ch l tp dt: tp quan sỏt , tp ghi chộp, tp phỏt hin ra c im ni bt ca cỏc s vt, hin
tng. T ú cú vn sng phong phỳ lm tt bi vn miờu t.
Miờu t l v li bng li nhng c im ni bt ca cnh, ca ngi giỳp ngi nghe,

lặng, đỏ, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắc
lên trên.Rồi một ngày mưa rào. Mưa dăng dăng bốn phía. Có quãng nắng xuyên xuống biển óng
ánh đủ màu:xanh lá mạ,tím phớt,hồng xanh biếc…Có quãng thâm sì, nặng trịch. Những cánh
buồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khỏe nhẹ bồi hồi, như ngực áo bác nông dân cày
xong ruộng về bị ướt”
* Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm xúc mạnh nhất đến
bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tả sau. Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả
người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉ nên tả những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả
đầy đủ chi tiết như nhau của đối tượng.
Ví dụ : Nhà văn Đoàn Giỏi miêu tả chợ Năm Căn theo mạch cảm xúc riêng của mình, qua đó thể
hiện niềm tự hào của tác giả về vùng đất trù phú, giàu có nơi tận cùng phía Nam Tổ quốc:
“Nhưng Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô
phang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc. Những bến vận hà nhộn nhịp dọc
dài theo sông; những lò than hầm gỗ đước sản xuất loại than củi nổi tiếng nhất của miền Nam;
những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực trên mặt nước như những khu phố
nổi, và nơi đây người ta có thể cập thuyền lại, bước sang gọi một món xào, món nấu Trung Quốc
hoặc một đĩa thịt rừng nướng ướp kiểu địa phương kèm theo vài cút rượu, ngoài ra còn có thể
mua từ cây kim cuộn chỉ, những vật dụng cần thiết, một bộ quần áo may sẵn hay một món nữ
trang đắt giá chẳng hạn, mà không cần phải bước ra khỏi thuyền. Những người con gái Hoa kiều
bán hàng xởi lởi, những người Chà Châu Giang bán vải, những bà cụ già người Miên bán rượu,
với đủ các giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn vận sặc sỡ, đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độc
đáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau”
* Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử
dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,…) để quan sát, cảm nhận sự vật, hiện
tượng miêu tả.
1. Kĩ năng tưởng tượng
Tưởng tượng có vai trò rất lớn trong văn miêu tả.Nó không chỉ là yếu tố tạo nên sự phong phú
trong cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà con giúp cho người làm văn tả tìm được
những từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật phù hợp để bài văn hay hơn, sinh động hơn.

Vũ); “Cô bé cứ như một cây lúa non, lặng lẽ lớn lên từ bùn đất”…
– Có thể so sánh người với các hiện tượng thiên nhiên: “Giọng lão ta lúc nào cũng gầm vang
như sấm” “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”…
– Có thể so sánh vật với vật, cảnh với cảnh: “cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo
mới”( Vũ Tú Nam); “Vầng trăng non giữa bầu trời đầy sao hệt như một cái liềm vào ai bỏ quên
giưa cánh đồng lúa chín” (Theo Vích – to Huy gô); “ Măng chồi lên nhon hoắt như một mũi gai
khổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy” (Ngô Văn Phú)…
– Có thể so sánh vật với con người: Cây bàng già sừng sững, uy nghi như một người lính gác
canh giữ cho khu vườn được bình yên”; “ cây bưởi như một người mẹ đang cần mẫn cõng trên
mình lũ con đầu tròn trọc lóc”; “Chim già đãy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám” (Đoàn
Giỏi)
Nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:
– So sánh theo hướng thu nhỏ lại: “ Trái đất như một giọt nước màu xanh lơ lửng giữa không
trung” ; “xa xa, những cánh buồm nâu như những cánh bướm rập rờn trên mặt biển”…
– So sánh theo hướng phóng đại lên: “Rệp bò lổm ngổm hư xe cóc – muỗi lượn nghênh ngang
tụa máy bay” (Hồ chí Minh) ; “chiếc lá tre thả xuống dòng nước, chòng chành, xoay xoay, rồi trôi
đi như một con thuyền, chở theo ước mơ của chúng tôi”…


– So sánh theo hướng cụ thể hóa: “ Từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi” (truyền
thuyết Thánh Gióng); “Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như long
đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn” (Nguyễn Tuân)
– So sánh theo hướng trừu tượng hóa: “ Nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài
người, lúc con người phải viết vào than tre” (Nguyễn Tuân)…
Tuy nhiên khi sử dụng kĩ năng so sánh, cần lưu lưu ý là phải biết sáng tạo, biết tìm điểm mới,
điểm riêng. Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh đã quá cũ, quá sáo mòn theo kiểu:
“Miệng cười tươi như hoa”, “Những hạt sương long lanh như những hạt ngọc đính trên cành hoa
hồng” ; “ Cánh đồng lúa chin trông như tấm thảm vàng trải rộng đến chân trời”
1. Kĩ năng nhận xét trong văn miêu tả
Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình.

thi nhau chòi ra… bằng ngón tay … bằng con chuột .Rồi bằng con cá chuối to”…
* Ví dụ : Trong văn bản “Cô Tô” –SGK ngữ văn 6 ,nhà văn Nguyễn Tuân khi miêu tả vẻ đẹp
trong sáng,tràn đầy sức sống toàn cảnh Cô Tô một ngày sau bão,đã thể hiện được cảm nhận
riêng của mình về một vùng đất ông từng qua:


“Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa .Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từ
khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu sự sống con người thì , sau mỗi lần dông bão , bao giờ
bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy . Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt , nước biển lại
lam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi ,và cát lại vàng giòn hơn nữa .Và nếu cá có vắng tăm biệt
tích trong ngày động bão thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi .Chúng tôi leo dốc lên đồn
Cô Tô hỏi thăm sức khỏe anh em bộ binh và hải quân cùng đóng sát nhau trong cái đồn khố
xanh cũ ấy.
Trèo lên nóc đồn, nhìn ra bao la Thái Bình Dương bốn phương tám hướng , quay gót 180 độ mà
ngắm cả toàn cảnh Cô Tô. Nhìn rõ cả Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam, mà càng thấy yêu mến hòn
đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây”.
3.4. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả:
Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn cùng trí tưởng tượng phong phú hợp với yêu cầu về nội
dung và thể loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em nắm vững
các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định đối tượng miêu tả. Trong mỗi bài văn
phải thể hiện cái mới cái hay, cái riêng và cảm xúc của mình.
a.Kiểu văn tả đồ vật, loài vật, cây cối.
Đối tượng ở kiểu bài này rất cụ thể và thường là những vật quen thuộc trong cuộc sống hàng
ngày của chúng ta. Nhưng kiểu bài này lại khó ở chỗ đối tượng miêu tả , nhiều khi cấu tạo lại
đơn giản nên khó phát triển ý, bài viết ngắn cụt lủn, hời hợt. Vì thế ,mỗi giáo viên khi dạy dạng
bài này cần lưu ý cho các em học sinh những yêu cầu sau để bài làm tốt hơn
– Thứ nhất: Khi làm kiểu bài này cần miêu tả từ bao quát đến cụ thể, từ giới thiệu chung đến
miêu tả chi tiết. Riêng tả loài vật cây cối có thể theo quá trình trưởng thành của đối tượng với các
giai đoạn cụ thể
– Thứ hai: Đối tượng miêu tả của bài này là những đồ dùng, vật dụng, những hình ảnh quen

trong những cành khẳng khiu ấy vẫn trần trề nhựa sống.Rồi tiết trời như ấm lại, xuân đã về. Chỉ
một tuần thôi thì những trồi non xanh li ti đã điểm hết những cành to, cành nhỏ. Thoáng cái đã
thấy mầu xanh non bao phủ lấy toàn thân cây và chuyển dần sang mầu xanh đậm. Những chiếc
lá của tầng thấp, tầng cao phát triển nhanh đến kì lạ. Từ bé bằng bàn tay trẻ nhỏ mà nay đã phè
phè như cái quạt mo.Cho đến khi mùa hạ về, lá vàng rợp mát cả một khoảng sân và đây là thời
điểm mà tụi nhỏ chúng tôi tụm năm tụm bẩy vui đùa nhảy nhót hết sức thỏa mái vào những giờ
chơi dưới gốc bàng mát rượi thân yêu này. Bàng còn là nơi gọi chim về tụ hội ca hát nhảy múa
trong vòm lá. Càng tô điểm cho cây vẻ đẹp mĩ miều.Tụi nhỏ chúng tôi yêu cây bàng này lắm bởi
nó đã gắn bó với ngôi trường tôi. Nó còn là nơi chứng kiến bao kỉ niệm vui buồn của chúng tôi.
Dù mai này có phải xa mái trường, xa cây bàng yêu dấu này thì hình ảnh về cây bàng mãi mãi
in đậm trong tâm trí tôi.
1. Kiểu văn tả cảnh
Đối tượng miêu tả bao gồm cảnh thiên nhiên và cảnh sing hoạt. Có thể coi đây là những bức
tranh bằng ngôn ngữ, dừng lại một khung cảnh nào đó, một hoạt động nào đó, một hoạt động
nào đó của thiên nhiên của con người (Một phiên chợ tết, một bến đò hoặc ga tàu đông khách,
một cuộc thi thả diều, một cánh rừng,một dòng sông, một làng quê,yên tĩnh,…). Nội dung của
kiểu bài này không nghèo nàn, thậm chí rất phong phú nhưng do kinh nghiệm quan sát của học
sinh còn yếu, kiến thức nghèo nàn, trình độ sắp xếp ý còn hạn chế nên bài làm thường có bố cục
lộn xộn, thiếu cân đối.
Khi làm kiểu bài này giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau
– Đối với văn tả cảnh thiên nhiên, người viết có thể chọn một trong số các trình tự tả : theo
trình tự thời gian, không gian, số lượng cảnh,…Bức tranh thiên nhiên không bao giờ ở dạng tĩnh
mà luôn có sự thay đổi, vì vậy khi tả phải làm nổi bật được sự thay đổi này (Mùa này khác mùa
kia, buổi này khác buổi kia, thời điểm này khác thời điểm kia…)
– Ngoài việc tả bao quát toàn cảnh, người tả cần tìm được một số hình ảnh tiêu biểu để tập
trung tả chi tiết, cụ thể. Đặc biệt là khi tả cảnh thiên thiên nào thì cũng phải đặt nó trong một
không gian, thời gian cụ thể, và phải có mối quan hệ mật thiết với các hiện tượng tự nhiên,như
gió, nắng… Các biện pháp nghệ thuật, so sánh, nhân hóa nên được vận dụng nhiều để góp phần
làm cho bài văn tả sinh động hơn.
– Đối với văn tả cảnh sinh hoạt thì cần chú trọng chọn tả theo trình tự thời gian và trình tự

tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ.”
=>Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh Dượng Hương Thư
khi vượt thác rất khéo léo, dũng cảm và dạn dày kinh nghiệm. Về cơ bản, để làm được bài văn tả
người thành công, giáo viên cần giúp học sinh đảm bảo các yêu cầu sau các yêu cầu sau:
– Xác định đối tượng cần miêu tả: Thầy cô giáo, bạn bè hay người thân,… tả chân dung hay tả
người trong tư thế hoạt động
– Quan sát đối tượng miêu tả và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu: Chân dung nhân vật(khuôn mặt,
mái tóc, nước da,…); tính cách nhân vật(qua ngôn ngữ , tính cách, hành động, cử chỉ của nhân
vật)
– Trình bày các chi tiết đã lựa chọn theo một trình tự hợp lý sao cho phù hợp với mục đích miêu
tả và làm nổi bật được đối tượng miêu tả
– Cảm nhận của người viết về nhân vật mà mình miêu tả


(Lưu ý khi ra đề tả người cần chú ý đến đối tượng tả có trong vốn sống của các em và nên ra
những dạng đề mở. Bên cạnh những cụ thể như: hãy tả lại bà ngoại, ông nội của em, nên có
những đề bài mở hơn tự do hơn như:tả lại một người mà em yêu thương nhất trong gia đình). Sự
lựa chọn này sẽ giúp các em bày tỏ cảm xúc tình cảm một cách chân thực nhất.
3.5 Rèn luyện về cách diễn đặt trong văn miêu tả
a, Cách dùng từ ngữ, hình ảnh
Việc lựa chon từ ngữ trong văn miêu tả là yêu cầu quang trọng, đòi hỏi phải được đặt ra một
cách nghiêm túc. Muốn làm tốt yêu cầu này thì người viết văn miêu tả trước hết phải có một vốn
từ phong phú. Vấn đề tích lũy vốn từ cần được tiến hành thường xuyên và dưới nhiều hình thức:
thông qua các giờ học văn – Tiếng việt trong nhà trường ; thông qua giao tiếp hàng ngày, thông
qua quá trình đọc sách , đọc tài liệu tham khảo liên quan tới văn miêu tả… Tất nhiên, có vốn từ
phong phú chưa hẳn là đã thành công mà điều quan trọng là người viết bài phải có sự lựa chọn
tinh tường, sao cho giữ một hệ thống các đồng nghĩa, gần nghĩa, có thể lẩy ra một vài từ phù
hợp,chính xác nhất.Điều cần chú ý là phải luôn có thói quen tìm được từ gợi hình, biểu cảm và
phải chọn từ ngữ phù hợp với đối tượng,với văn cảnh. Muốn làm nổi bật hình ảnh của đối tượng
thì chú ý nhiều tới hệ thống từ tượng hình(Tả màu sắc,hình dạng,trạng thái…) ; muốn làm nổi bật

trẻ đứa nào đứa nấy da cứ đen bóng như bôi nhọ mỡ ”, “ Dòng sông thay chiếc áo màu xanh
hằng ngày bằng dải lụa đào”)
b, Cách đặt câu, dựng đoạn trong văn miêu tả
*Cách đặt câu trong văn
Cũng như văn tự sự, cách đặt câu trong văn miêu tả đòi hỏi người viết phải linh hoạt và công
phu. Có thể là câu dài với đầy đủ các thành phần chính phụ, có nhiều tầng ý nối tiếp nhau. Cũng
có thể là những câu ngắn ( câu đặc biệt hoặc câu tỉnh lược). Vấn đề đặt ra ở đây là phải biết
chọn kiểu câu phù hợp với hoàn cảnh, với tình huống, nội dung miêu tả, và cả với cảm xúc của
người miêu tả nữa.
Sau đây tôi xin giới thiệu một số trường hợp lựa chọn kiểu câu thường gặp như sau:
– Kiểu câu dài, nhiều tầng ý, nhiều vế nối nhau thường phù hợp với việc miêu tả khung cảnh
thiên nhiên êm đềm, yên ả, hoặc những hoạt động diễn ra nhẹ nhàng, liên tiếp nối nhau; hoặc khi
cảm xúc của con người đang dâng tràn, tuôn chảy…
– Kiểu câu ngắn ( câu đặc biệt, câu tỉnh lược) với các dấu câu ( dấu chấm than, dấu chấm hỏi,
dấu chấm lửng…) thường dùng để diễn tả những cảm xúc mạnh, những hoạt động nặng, diễn ra
nhanh gọn liên tục; những tình huống bất ngờ…
– Kiểu câu có sử dụng phép tu từ đảo ngữ : thường dùng trong những trường hợp cần nhấn
mạnh một đặc điểm, một trạng thái nào đó của đối tượng được miêu tả.
Tuy nhiên với học sinh lớp 6, việc yêu cầu học sinh sử dụng linh hoạt các kiểu câu còn gặp nhiều
khó khăn. Vì thế giáo viên nên hướng dẫn học sinh lựa chọn các kiểu câu phù hợp với đối tượng
và đề bài.
Ví dụ :
-Tả cảnh đồng quê yên ả thanh bình: cánh đồng trải ra xa tít tắp, mênh mông với sóng lúa lăn
tăn gợn nhẹ, đuổi nhau chạy dài đến tận chân trời. (Câu dài)
-Tả ánh trăng khuya: Trời đã về khuya, ánh trăng dường như càng sáng hơn, vằng vặc giữa
vòm cao mênh mông, lặng lẽ tỏa ánh sáng dịu dàng và tinh khiết xuống mặt đất, huyền ảo và đẹp
lạ kì. (Câu dài)
-Tả em bé đang tập đi: Cu Tí đang chập chững tập đi . Hai bàn chân bấm xuống. Hai tay dang
ra để giữ thăng bằng. Một bước. Hai bước. “ Uỵch”. Cu Tí khóc òa lên vì bị ngã. Mẹ vội đỡ Tí
dậy, thơm một cái vào đôi má trắng hồng. Tí ta nhoẻn cười, nước mắt vẫn đọng trên mí. Hai bàn

được tách ra để miêu tả trong một đoạn văn độc lập. Ví như tả người nói chung có thể chia thành
hai ý (hình dáng, tính tình)…
– Chia đoạn theo số lượng đối tượng được miêu tả: có thể sử dụng cách chia đoạn này cho kiểu
bài tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh sinh hoạt, tả thế giới loài vật, đồ vật…Ví như tả cảnh thiên nhiên
thì có: bầu trời – mặt đất; cảnh trong vườn – ngoài đồng; cảnh biển cả – cảnh núi rừng… Hoặc tả
không khí giờ học thì có: công việc của thầy cô giáo, công việc của học sinh, … Tả đàn gia súc,
gia cầm của gia đình thì có: bầy gà, đàn vịt, lũ trâu bò – mấy con lợn…
Sau khi học sinh chia đoạn rồi tôi hướng dẫn cách triển khai ý trong từng đoạn. Thông thường,
nếu toàn bộ thân bài triển khai trong một đoạn văn thì nhiều khi chỉ cần liệt kê cảnh cũng có thể
thành một đoạn ( dù rằng nội dung miêu tả sẽ nghèo nàn, dù rằng cách tả sẽ không hay). Nhưng
khi tách phần thân bài ra một số đoạn mà người viết không có đủ kiến thức để triển khai ý trong
một đoạn thì những đoạn văn ấy sẽ làm cho bài văn trở nên rời rạc, vụn vặt, thiếu liên kết. Như
vậy, thực tế này đòi hỏi người viết phải có khả năng mở rộng ý, phát triển hình ảnh miêu tả một
cách phong phú và hợp lí. Thông thường có thể mở rộng ý theo một số hướng sau: – – Mở rộng
ý bằng cách liên tưởng, so sánh đối tượng đang miêu tả với đối tượng khác. Hoặc đặt đối tượng
đang miêu tả trong các bước quan hệ với những đối tượng xung quanh.
– Mở rộng ý bằng cách đi vào miêu tả thật tỉ mỉ, thật chi tiết từng đường nét, hình dáng, đặc điểm
của đối tượng.
– Mở rộng ý bằng cách đan xen vào những câu văn tả là những câu văn nêu cảm xúc, suy nghĩ,
nhận xét.
– Mở rộng ý bằng cách kết hợp miêu tả đặc điểm với những lời giới thiệu về giá trị, về cộng dụng
của đối tượng được miêu tả


Ví dụ : Khi làm bài văn tả cây cối trong vườn vào một thời điểm cụ thể, ta có thể chia thân bài
thành một số đoạn ứng với một số đối tượng miêu tả như sau :
Đoạn một : tả một cây cối có đặc điểm tiêu biểu và gây ấn tượng nhất trong vườn (Lớn nhất, đặt
ở vị trí quan trọng nhất). Khi tả phải giới thiệu được vị trí, miêu tả, hình dáng, đặc điểm của thân,
lá,rễ,hoa,quả,…,tầm quan trọng của nó đối với các cây cối khác trong vườn, hoặc đối với con
người. Có trường hợp nêu lên lai lịch của nó(Ai trồng?Trồng lúc nào?Người trồng và thời điểm

Mở bài: Em có nhiều người bạn, bạn nào em cũng quý mến. Nhưng có lẽ thân thiết và gần gũi
nhất vẫn là bạn X.
Kết luận: Em và X rất thân thiết, gắn bó với nhau. Chúng em tự hứa với long mình rằng, dù cho
hoàn cảnh và điều kiện cuộc sống có thay đổi như thế nào thì tình bạn ấy vẫn không bao giờ
phai nhạt.
* Cách mở bài gián tiếp
Nếu cứ theo kiểu lắp khuôn như kiểu mở bài trực tiếp thì ta sẽ có một loạt Mở bài và Kết luận
gần như giống nhau mặc dù đối tượng cần miêu tả có thể không giống nhau. Vì thế để bài văn
miêu tả sáng tạo hơn, nên tôi hướng dẫn học sinh chọn một số cách mở bài và kết bài khác: Mở
bài gián tiếp (Cách này tôi thường áp dụng cho học sinh khá giỏi)
– Cách mở bài: có thể mở bài bằng một lời thông báo ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề (Ngày chưa
tắt hẳn,trăng đã lên rồi – Thạch Lam)
– Cũng có thể mở bài bằng lời giới thiệu tình huống để đối tượng miêu tả xuất hiện. Cách mở
này thường dài dòng (Ví như tả một người công nhân làm đường : Cái Thư, bạn tôi lạ lắm kia!Hễ
cứ ngồi với nhau là nó chẳng lần nào là nó không mở đầu bằng câu:“Mẹ tớ, ấy biết không, là
công nhân sửa đường đấy. Năm nào mẹ tớ cũng đươc bầu là lao động tiên tiến. Tổ mẹ tớ vá
đường giỏi nhất công ti. Nếu ấy được xem mẹ tớ làm việc, ấy phải thích mê đi. Này nhé!…”.
Một buổi sáng, chúng tôi được đi ô tô đến chỗ mẹ Thư làm việc –Nguyễn Thị Xuyến)
Cách kết bài
– Có thể kết thúc bằng một câu miêu tả
Ví dụ: Đêm đã khuya, vầng trăng càng sáng, vằng vặc trên vòm cao mênh mông như đang thao
thức cùng trời đêm
Hay: Cánh đồng lúa rập rờn, rập rờn trong gió. Hương thơm dìu dịu tỏa ra lan xa. Lan xa …
– Có thể kết thúc bằng một lời mở hoặc để lửng ý cho người đọc tự cảm nhận.
Ví dụ:Khi tả cảnh hoàng hôn trên sông Hương, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kết thúc bài
theo kiểu này: “Huế thức dậy trong nhịp chuyển động mới đi vào cuộc sống ban đầu của nó
– Hoặc cũng có thể kết thúc bằng một vài lời tâm tình trực tiếp với đối tượng được miêu tả
Ví dụ: Kết bài cho bài văn miêu tả mùa xuân: “Cảm ơn mùa xuân, cảm ơn những điều kì diệu mà
trời đất đã ban tặng cho thiên nhiên và con người”.
Ví dụ: Kết bài cho bài văn tả hình ảnh người mẹ: “Con yêu mẹ rất nhiều! Mẹ ơi!”

2.

2.Thân bài

*Tả khái quát cây đào
– Vị trí: Ở đâu(trong bình cắm hoa nếu là cành, trong chậu nếu là cây)
– Tên loại đào( bích đào, đào hồng hay đào phai)
– Sự quan tam và niềm vui của cả nhà với cây hoa
* Tả chi tiết
– Dáng vẻ, thế cây, màu sắc… của cây đào
– Hoa đào…
– Màu sắc và hình dáng của nụ đào….


– Cách mọc và hình dáng của lá đào…
– Hương hoa đào
* Cảm nghĩ về cây đào
– Nhớ đến truyện cổ tích Việt Nam (Sự tích hoa đào), hay truyện vua Quang Trung tặng công
chúa Ngọc Hân cành hoa đào nhân dịp tết Đinh Mùi…
– Thú chơi hoa đào trở thành nghệ thuật
– Liên hệ với bản thân: vui thích, yêu quý cây đào, trang trí để cây them lộng lẫy…

3. Kết bài
Ấn tượng khó phai về cây đào
Đề bài: Tả quang cảnh sân trường trong giờ ra chơi
1.

Mở bài

– Kỉ niệm khó quên nhất trong tuổi học trò là các giờ ra chơi

*Thân bài
– Tả hình dáng bên ngoài
– Tả tính cách, hành động, cử chỉ, việc làm…
– Kỉ niệm sâu sắc nhất với đối tượng miêu tả
Chú ý: + Đối tượng miêu tả là tả chân dung hay hoạt động)
+ Lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu của đối tượng được tả từ thực tiễn vốn sống của mình
+ Biết trình bày các hình ảnh đó theo một trình tự và ngôn ngữ hợp lý


*Kết bài
Thể hiện tình cảm của mình với đối tượng miêu tả
Nhóm bài tả người( Chân dung)

Nhóm bài tả người trong tư thế

hoạt độngĐề bài: Em hãy tả lại hình ảnh người thân trong gia đình( tả mẹ)
1.Mở bài
– Niềm hạnh phúc khi đươc sống bên người thân
– Người gần gũi và yêu thương nhất là mẹ
2.Thân bài
* Tả bao quát
– Dáng người: Đậm, khỏe khoắn, nhanh nhẹn.
– Làn da, nụ cười, ánh mắt, khuôn mặt, trang phục…
– Tài năng đặc biệt (nếu có)
* Tả chi tiết
– Tính cách: cởi mở, dễ gần, nên ai cũng quý mến
– Trong gia đình:
+ Nhanh nhẹn, đảm đang, tháo vát, thu vén mọi việc trong nhà
+ Tận tụy, hi sinh cho chồng con
– Trong công tác

+ Mắt chăm chú nhìn…
– Các hoạt động của ông khi câu cá
+ Tay nắm chắc cần câu, vừa như nới lỏng, vừa như chắc chắn..
+Nhanh nhẹn, dứt khoát khi giật cần câu, nhẹ nhàng mềm mại khi buông câu
+ Cười giòn tan thích thú khi câu được cá
– Cảm nghĩ của cá nhân
3. Kết bài
– Hình ảnh ông nhàn nhã, thư thái, bình dị gây ấn tượng về lối sống của con người cần mẫn
chăm chỉ.
– Yêu quý ông

3.7 Thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả tiết chẩm trả bài TLV
* Chấm bài
– Trước khi chấm bài tôi đọc qua một lượt bài làm của các em học sinh để có cái nhìn bao quát
chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài đúng thể loại, nội dung
và trọng tâm bài viết chưa.
– Sau đó tôi chấm từng chi tiết từng bài: đọc kĩ từng bài, sửa từng lỗi nhỏ: dùng từ, lỗi về câu, lỗi
chính tả cho các em (nếu có) và tôi đặc biệt chú ý đến cách diễn đạt sử dụng các hình ảnh, các
biện pháp tu từ của các em
– Bên cạnh đó tôi cũng ghi lại những từ, câu văn, đoạn văn hay và những bài làm văn tốt.
– Sau khi chấm bài xong, tôi tổng hợp điểm theo vào sổ cá nhân và so sánh kết quả bài làm của
từng hoc sinh với kết quả bài kiểm tra trước.Từ đó biết được em nào có sự tiến bộ; em còn lơ là,
chủ quan với việc học.
* Trả bài
– Trước hết tôi nhận xét,đánh giá chung về phần bài làm của cả lớp: về việc nắm vững các yêu
cầu của đề bài, thể loại, xác định đúng nội dung trọng tâm
– Sau đó tôi gọi từng học sinh lên nhân bài của mình và chỉ ra lỗi sai của các em đó để em rút
kinh nghiệm trong những bài kiểm tra sau



vn cõy vo mựa qu chớn,khụng hiu sao lũng ngi t nhiờn thy thanh thn v th thỏi hn

4. Hiu qu ca sỏng kin kinh nghim
* Quá trình thực hiện kinh nghiệm của tôi qua mt s năm đứng lớp, tôi tin chắc rằng những gì
tôi đã trình bày, đã viết phn no ó đem đến sự chuyển biến tớch cc trong quỏ trỡnh lm văn
miêu tả cho các em. Hu ht cỏc em ó xúa b c mc cm ngi hc, ngi vit vi mụn Ng
vn v bc u cú hng thỳ vi mụn hc ny.
Sau đây tôi xin đa ra một vài con số thực tế và kết quả cụ thể của học sinh ở môn Tập
làm văn lớp 6, sau khi tụi ó ỏp dng mt s cỏc bin phỏp rốn cỏc k nng lm vn miờu t núi
trờn :
Lp

S s

Gii
SL

%

Khỏ
SL

%

Tbỡnh
SL

%

Yu

0.0

III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi thấy mình đã đạt được một số thành
công đáng kể: Chất lượng dạy môn Ngữ văn đạt và vượt chỉ tiêu của trường, nằm trong tốp đầu
của huyện. Các em học sinh đã không còn mặc cảm và ngại học bô môn này nữa. Bước đầu các
em đã có kĩ năng làm tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng. Đây chính là tiền đề để các
em làm tốt phân môn tập làm văn ở các lớp trên. Tuy vậy, trong quá trình ôn tập và giảng dạy sẽ
có nhiều vấn đề nảy sinh cần được trao đổi và bàn bạc thêm.
Trên đây chỉ là một số ý kiến của bản thân tôi. Đối với mỗi giáo viên chúng ta ai cũng mong
muốn những điều tốt đẹp nhất cho học sinh của mình. Chính vì vậy, tất cả các em học sinh lớp 6
có thể làm tốt văn miêu tả, sinh động hấp dẫn, đạt kết quả cao vẫn là một vấn đề còn để ngỏ. Tôi
rất mong được sự đóng góp những ý kiến chân thành, quý báu của các đồng nghiệp để khi dạy
môn Ngữ Văn THCS nhất là phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 6 đạt được kết quả cao hơn
nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Đồng Sơn, ngày 10 tháng 02 năm 2016
BAN GIÁM HIỆU DUYỆT

NGƯỜI VIẾT

LÊ THỊ THOA




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status