Quy trình giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Đề thực hiện bài tiểu luận này em xin trân thành cảm ơn sự hướng dẫn
cũng như giảng dạy nhiệt tình của Ths. Vũ Thị Thu Hằng đã tạo nên nền tảng
để em có thể hoàn thiện bài tiểu luận “Tìm hiểu quy trình giải quyết tranh
chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành”
Bản thân em lần đầu tiên thực hiện đề tài nên trình độ và khả năng còn
hạn chế, nên không tránh khỏi những nhược điểm thiếu sót, chưa đáp ứng
được những yêu cầu mà đề tài đã nêu cũng như yêu cầu khắt khe của đề tài
nghiên cứu.
Vì vậy em mong nhận được sự chỉ bảo, gợi ý cũng như những đóng
góp ý kiến chân thành của cô để em có thêm kiến thức kinh nghiệm hoàn
thiện mình hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống con người lao động là hoạt động quan trọng nhất
nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động là
nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. khi mà nền kinh tế của các
quốc gia ngày một phát triển cùng với sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế –
xã hội vì vậy trong quá trình sử d ụng lao động đã xẩy ra nhiều bất đồng về
quyền và lợi ích , dẫn đến tranh chấp giữa người lao động , tập thể lao động
với người sử dụng lao động Chếđịnh giải quyết tranh chấp lao động là cô ng
cụ pháp lýđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động và người
sử dụng lao động , góp phần duy trì , ổn định quan hệ lao động , nâng cao
hiệu quả của hoạt độ ng sản xuất kinh doanh. Pháp luật lao động quy định

4. Kết cấu
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo bài tiểu luận gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình giải quyết tranh chấp lao động
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Chương 2: Thực trạng quy trình giải quyết tranh chấp lao động theo
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Ý nghĩa và giải pháp nhằm nâng cao quy trình quyết tranh
chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

4


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
1.1.

Các khái niệm cơ bản

1.1.1. Người lao động và người sử dụng lao động
- Người lao động: Là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động làm
việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành
của người sử dụng lao động .( Theo Khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Lao động
2012)
- Người sử dụng lao động: Là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ
gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động;
nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.( Theo Khoản 2
Điều 3 của Bộ luật Lao động 2012)
- Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao
trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;
b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả
thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều
kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ
hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ
chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với
người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi
làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo
nội quy của người sử dụng lao động;
d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp
luật;
đ) Đình công
Bên cạnh đó quyền của người sử dụng lao động cũng được pháp luật
6


Việt Nam hiện hành bảo vệ nhằm tạo ra sự công bằng thống nhất giữa các
bên. Nó được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Lao động năm
2012 như sau:
Điều 6. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
a) Tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh
doanh; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động;
b) Thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức nghề nghiệp và tổ chức
khác theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu tập thể lao động đối thoại, thương lượng, ký kết thoả ước
lao động tập thể; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; trao đổi
với công đoàn về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật

1.2.2. Đặc điểm của tranh chấp lao động :
Tranh chấp lao động phát sinh tồn tại gắn liền với quan hệ lao động.
Mỗi quan hệ này thể hiện ở hai điểm cơ bản : Các bên tranh chấp bao
giờ cũng là chủ thể của quan hệ lao động và đối tượng tranh chấp chính là nội
dung của quan hệ lao động đó.
Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, có nhiều lý do để các bên
không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được thống nhất
ban đầu. Tranh chấp lao động không chỉ là những tranh chấp về quyền, nghĩa
vụ mà còn bao gồm cả những tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên
trong quan hệ lao động. Trong nền kinh tế thị trường các bên của quan hệ lao
động được tự do thương lượng, thoả thuận hợp đồng, thoả ước phù hợp với
quy luật của pháp luật cũng như khả năng đáp ứng của mỗi bên.
Quá trình thoả thuận thương lượng đó không phải bao giờ cũng đạt kết
quả. Ngay cả khi đạt kết quả thì những nội dung đã thoả thuận được cũng có
thể trở thành không phù hợp do các yếu tố mới phát sinh tại thời đ iểm tranh
chấp. Tính chất và mức độ của tranh chấp lao động luôn phụ thuộc vào quy
mô và số lượng tham gia của một bên tranh chấp là người lao động. Sự ảnh
hưởng của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ ở mức độ hạn chế nên
thường được xem là ít nghiêm trọng.
Nhưng nếu trong một thời điểm, có nhiều người lao động cùng tranh
chấp với người sử dụng lao động, những tranh chấp đó lại cùng nội dung và
8


nhất là khi những người lao động này cùng liên kết với nhau thành một tổ
chức thống nhất để đấu tranh đòi quyền lợi chung thì những tranh chấp lao
động đó đã mang tính tập thể. Mức độ ảnh hưởng của tranh chấp tập thể tuỳ
thuộc vào phạm vi xảy ra tranh chấp. Tranh chấp lao động có ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của bản thân, gia đình người lao động , nhiều khi còn tác
động đến an ninh công cộng.

chấp giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi
ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động
khác, về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề, về xử lý kỷ
luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.
Tranh chấp lao động tập thể: Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp
giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên
quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về
thực hiện thoả ước lao động tập thể, về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động
công đoàn.
- Căn cứ vào tính chất của tranh chấp: Có thể phân làm hai loại đó là tranh chấp
về quyền và tranh chấp về lợi ích.
Tranh chấp về quyền: là những tranh chấp phát sinh trong việc thực
hiện các quyền, nghĩa vụ đã được quy định trong luật lao động, thoả ước lao
động tập thể, hợp đồng lao động.
Tranh chấp về lợi ích: là những tranh chấp về quyền lợi chưa được
pháp luật quy định hoặc để ngỏ, chưa được các bên ghi nhận trong thoả ước
tập thể hoặc đã được thoả thuận trong thoả ước nhưng không còn phù hợp do
các yếu tố phát sinh vào thời điểm tranh chấp( ví dụ: tập thể lao động yêu cầu
tiền lương cao hơn mức tiền lương đã thoả thuận).
- Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, tranh chấp lao động còn có thể được
phân loại căn cứ vào nội dung tranh chấp (tranh chấp về tiền lương, thời gian
làm việc, kỷ luật lao động…) hoặc quan hệ phát sinh tranh chấp (tranh chấp
trong quan hệ lao động, trong quan hệ học nghề, trong quan hệ bảo hiểm xã
hội…) hoặc khu vực tranh chấp (tranh chấp trong khu vực kinh tế nhà nước,
tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài…)
1.2.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động
Từ phía người lao động: Tranh chấp lao động xảy ra thường do các yêu
10


phù hợp với điều kiện của họ, vừa ngăn ngừa những hậu quả xấu xảy ra do
tranh chấp lao động phát sinh. Thông qua hoà giải để giải quyết tranh chấp
trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích chung của
xã hội .
Nếu các bên đã thương lượng không thành và một trong hai bên hoặc
cả hai bên gửi đơn yêu cầu giải quyết thì cơ quan có thẩm quyền trước hết
phải hoà giải tranh chấp giữa các bên. Giải quyết tranh chấp lao động công
khai, khách quan, nhanh chóng, đúng pháp luật. Muốn giải quyết được nhanh
chóng, muốn khôi phục, thừa nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và
ổn định sản xuất thì cơ quan có thẩm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
và ổn định sản xuất thì cơ q uan có thẩm quyền phải thật khách quan, công
khai và đúng pháp luật. Pháp luật quy định thời hạn giải quyết tranh chấp lao
động ngắn hơn thời hạn giải quyết số tranh chấp khác. Đảm bảo quyền tham
gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Đại
diện của các bên thường là người am hiểu pháp luật, hiểu điều kiện của các
bên, từ đó có thể giúp cơ quan có thẩm quyền có phương án giải quyết phù
hợp.
- Bảo đảm thực hiện hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của
hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.
Đây là cách giải quyết tiếp tục quá trình thương lượng, thỏa thuận giữa
2 bên có sự thuyết phục, giải thích của người hòa giải. Mục đích là làm cho
các bên hiểu nhau hiểu pháp luật để chính các bên lựa chọn hướng giải quyết
12


phù hợp, đảm bảo được sự duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp.
- Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.
Muốn giải quyết được nhanh chóng, khôi phục, thừa nhận quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên và ổn định sản xuất thì cơ quan có thẩm quyền thật
thật khách quan, công khai và đúng pháp luật.

pháp luật. ( Theo Điều 196 Luật lao động 2012 )
2.3. Các cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao
động
- Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động cấp huyện
Hội đồ ng hoà giải lao động cơ sở được thành lập ở các doanh nghiệp
sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên.
Hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải các tranh chấp
lao động xảy ra ở những doanh nghiệp sử dụng thường xuyên dưới 10 lao
động .
- Hội đồng trọng tài lao động
Hoà giải và giải quyết các tranh chấp lao động tập thể mà hội đồng hoà
giải cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện đã hoà giải, giải
quyết nhưng không thành, các bên đương sự có đơn yêu cầu hội đồng trọng
tài giải quyết.
- Tòa án nhân dân
Đây là cơ quan duy nhất độc lập chỉ tuân theo pháp luật, có quyền nhân
danh quyền lực nhà nước giải quyết dứt điểm các vụ án lao động và có quyền
quyết định cuối cùng về những cuộc đình công.
2.4. Phương thức giải quyết tranh chấp lao động
2.4.1. Giải quyết tranh chấp lao động thông qua thương lượng
Trong lĩnh vực lao động, thương lượng là phương thức giải quyết tranh
chấp được áp dụng để giải quyết cả tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp
lao động tập thể.
Từ lâu, thương lượng để giải quyết tranh chấp đã được các nước có nền
tư pháp mạnh và lâu đời như Anh, Mỹ, Pháp, Australia… sử dụng. hiện nay
14


nước ta đã đang sử dụng phương thức thương lượng trong giải quyết tranh
chấp lao động thương lượng là phương thức được sử dụng đầu tiên khi xảy ra


động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao
động tiến hành sau khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do một trong hai bên
từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng
thành nhưng một trong hai bên không thực hiện” ( Theo Khoản 6 Điều 194
của Bộ luật Lao động 2012 ). Phương thức giải quyết tranh chấp lao động tiếp
theo là hòa giải
Hoà giải là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp theo sự
lựa chọn được sử dụng từ lâu trên thế giới. Hoà giải là phương thức giải quyết
tranh chấp lao động được áp dụng phổ biến tại các quốc gia. Đây là phương
thức phù hợp để giải quyết cả tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao
động tập thể. Hoà giải là quá trình các bên tranh chấp đưa tranh chấp lao động
giữa họ ra trước người thứ ba trung lập để giải quyết. Người thứ ba trung lập
căn cứ vào tình tiết của vụ việc và tình hình giữa các bên để giúp đỡ các bên
đạt được thoả thuận có thể chấp nhận được. Trong quá trình tiến hành hoà giải
tranh chấp lao động, chủ thể hoà giải có quyền đưa ra những chỉ dẫn và gợi ý
về phương án giải quyết vụ tranh chấp để các bên lựa chọn nhưng không có
quyền đưa ra phán quyết về vụ tranh chấp. Chủ thể hòa giải phải mà người am
hiểu sâu rộng những kiến thức có uy tín, có hiểu biết về pháp luật lao động,
hiểu biết về tình hình kinh tế - xã hội và có kỹ năng hoà giải tốt thì họ mới có
thể đưa ra những giải pháp phù hợp, họ là người có trách nhiệm đứng ra dàn
xếp quá trình giải quyết tranh chấp lao động, tạo cho quá trình hoà giải có bầu
không khí khác so với quá trình thương lượng. Hoà giải là phương thức khá
phù hợp để giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp lao động tập
thể về lợi ích, quá trình hoà giải sẽ giúp các bên trong tranh chấp lao động
giảm áp lực do quan tâm đến những vấn đề cá nhân hoặc lợi ích cục bộ, hòa
giải mà bước đệm cho sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết để một trong hai
bên có thể sớm đưa vụ việc tranh chấp ra trước cơ quan tài phán để giải quyết
vụ tranh chấp lao động đó.
2.4.3. Giải quyết tranh chấp lao động bằng trọng tài

quyết của trọng tài lao động có giá trị tương tự như một bản thoả ước tập thể.
Phán quyết này sẽ đóng vai trò thay thế cho kết quả thương lượng tập thể giữa
17


tập thể lao động và người sử dụng lao động và điều chỉnh trực tiếp mối quan
hệ lao động tập thể giữa các bên. Qua đây chúng ta có thể thấy nếu tranh chấp
lao động tập thể về lợi ích đã được giải quyết thông qua hoà giải nhưng không
thành thì việc pháp luật bắt buộc phải giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài
lao động và tuỳ thuộc vào lĩnh vực xảy ra vụ tranh chấp. Pháp luật quy định
thủ tục trọng tài là bắt buộc với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích xảy
ra ở những lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt, quan trọng hoặc có ảnh hưởng đến
lợi ích công. Với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích xảy ra ở các lĩnh
vực khác, các bên tranh chấp có thể lựa chọn giải quyết thông qua trọng tài tự
nguyện (với phán quyết mang tính bắt buộc) nếu họ không muốn sử dụng các
hành động phản ứng công nghiệp. Quy định theo hướng này vừa duy trì được
sự ổn định của quan hệ lao động tập thể, sự ổn định của nền kinh tế - xã hội
nhưng vẫn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của thương lượng tập thể.
2.4.4. Giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án
Toà án nhân dân là cơ quan mang quyền lực nhà nước Việt Nam thực
hiện quyền hành pháp thực hiện giải quyết tranh chấp lao động theo một trình
tự, thủ tục chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh
chấp.
Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì Toà án có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động
tập thể về quyền.
Giải quyết tranh chấp lao động thông qua tòa án là phương thức giải
quyết tranh chấp lao động sau cùng khi chúng ta thực hiện các phương thức
trên mà không mang lại kết quả ( trừ một số trường hợp đặc biệt ). Theo quy
định của pháp luật, khi một tranh chấp lao động phát sinh, các bên không thể

2.5.1. Các quy trình tư vấn giải quyết tranh chấp lao động hiệu quả
1. Tư vấn tập thể
Nó là có liên quan với quá trình đàm phán, giải quyết tranh chấp và
quản lý các bất đồng giữa người quản lý và người lao động. Trong thương
lượng tập thể, công nhân được đại diện do người đại diện cho việc xác định
các điều khoản và điều kiện thoả đáng tin cậy trong công việc. Dưới đây
19


phương pháp giải quyết tranh chấp, nhân viên và quản lý ngồi lại với nhau để
tư vấn về chương trình nghị sự của nhân viên. Sau đó, một thỏa thuận đạt
được dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên liên quan để giải quyết các tranh
chấp hiện tại hoặc trong tương lai để tránh xảy ra tranh chấp lao động trong tổ
chức.
2. Tư vấn xử lý
Nhân viên khiếu nại là nhận thức đối xử bất công trong công việc.
Trong mọi tổ chức người lao động có đơn khiếu nại chống lại ông chủ của họ.
Do đó, một đơn tư vấn có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhân viên tại một
thời điểm nào cấu thành một đơn khiếu nại. Bất bình là triệu chứng của mâu
thuẫn lao động trong một tổ chức, họ cần phải được quản lý kịp thời và hiệu
quả. Vì vậy, một bước thích hợp cần phải được thực hiện đối với việc giải
quyết tranh chấp lao động có hệ thống bất bình trong tổ chức.
3. Tư vấn hòa giải
Hòa giải là giải quyết tranh chấp trong tư vấn lao động của các bên thứ
ba. Trong thuật ngữ đơn giản, hòa giải có nghĩa là hòa giải những khác biệt
giữa các cá nhân. Nó đề cập đến một quá trình mà các bên tranh chấp đã gặp
nhau trước khi một bên thứ ba nhằm giải quyết các tranh chấp. Họ tư vấn về
các vấn đề và đạt thuận tại một thỏa thuận. Trong các cuộc thảo luận, các bên
thứ ba chỉ có thể cung cấp gợi ý nhưng không thể ảnh hưởng đến một trong
hai bên để thực hiện nếu lời đề nghị của mình.

thuận với nhau về việc giải quyết vụ án .
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ: Các đương sự bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án lao động.
Xét sử công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng đúng pháp luật.
Các vụ án lao động được được xét sử công khai, khách quan kịp thời, đúng
pháp luật.
Tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết vụ án lao động là
Tiếng Việt Hiệu lực của bản án , quyết định về vụ án lao động của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã
hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân
tôn trọng; người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao động và các cơ
quan tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của toà án phải
21


nghiêm chỉnh chấp hành.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án lao
động.
2.5.3. Quy trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa
giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao
động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về
trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội,
về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn
vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

quyền yêu cầu tòa án nhân dân giải quyết. Thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp lao động cá nhân thuộc tòa án nhân dân cấp huyện, chỉ trong trường hợp
có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
thuộc thẩm quyền của Toà Lao động Toà án nhân dân cấp tỉnh. (Theo điều
201 Luật lao động 2012)
Ngươi khởi kiện có thể nộp đơn trực tiếp tại cơ quan tòa án hoặc có thể
gửi qua bưu điện. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự giửi đơn tại tòa
án hoặc ngày có con đấu bưu điện nơi gửi. Trong 05 ngày kể từ ngày nhận
đơn, tòa án phải xem xét và có một trong những quyết định sau:
-Thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền của mình
-Chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và báo cho người
khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án khác
-Trả lại đơn kiện nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 168 Bộ luật Tố
tụng dân sự
Như vậy sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo,
nêus thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và đáp ứng đầy đủ các
điều kiện thụ lý thì tòa án xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho
người khởi kiện ( Điều 171). Khi người khởi kiện nọp biên lai thu tiền tạm
23


ứng án phí thì tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và tiến hành vào sổ thụ lý. Kể
từ đây tờ án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong
việc giải quyết vụ án lao động.
Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án báo gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu) và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho
yêu cầu khởi kiện;
- Bản sao giấy chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu), Sổ hộ khẩu
gia đình (có sao y bản chính);

động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hoà giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động. (Theo Điều 203 Luật lao động 2012)
 Trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại cơ sở
Theo quy định tại Điều 204 Bộ luật lao động 2012 quy định về Trình
tự, giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại cơ sở:
1. Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể được thực hiện theo quy
định tại Điều 201 của Bộ luật này. Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh
chấp lao động tập thể.
2. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên
không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền các bên có quyền yêu
cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết;
b) Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích các bên có quyền yêu
cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết.
3. Trong trường hợp hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2
Điều 201 của Bộ luật này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải
thì các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status