I HC QUC GIA H NI
TRNGI HC KHOA HC X HI V NHN VN
NGUYN TH MAI
HIệU QUả THựC THI
PHáP LệNH THựC HIệN DÂN CHủ ở Xã, ph-ờng, thị trấn
trên địa bàn nông thôntỉnh hảI d-ơng
LUN VN THC S CHNH TR HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
TRNGI HC KHOA HC X HI V NHN VN
NGUYN TH MAI
HIệU QUả THựC THI
PHáP LệNH THựC HIệN DÂN CHủ ở Xã, ph-ờng, thị trấn
trên địa bàn nông thôntỉnh hảI d-ơng
Chuyờn ngnh:Chớnh tr hc
Mó s:60 31 02 01
LUN VN THC S CHNH TR HC
Ngi hng dn:TS. PHM XUN THIấN
H NI - 2017
1
2.1.2.1. Phương thức sản xuất gắn với nông nghiệp lúa nước là chủ yếu; điều
kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn ......................................................... 40
2.1.2.2. Cộng đồng làng, xã cố kết chặt chẽ, con người đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau ... 41
2.1.2.3. Trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có
nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển .............................................................. 42
2.2. Đánh giá hiệu quả thực thi pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phƣờng, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dƣơng ........................ 44
2.2.1. Kết quả thực thi pháp lệnh .................................................................... 44
2.2.1.1. Quá trình tổ chức triển khai thực hiện ............................................... 44
2.2.1.2. Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; vai trò của Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức đoàn thể .......................................................................... 45
2.2.1.3. Kết quả thực thi những nội dung cụ thể của Pháp lệnh..................... 47
2.2.1.4. Một số hạn chế, khó khăn................................................................... 49
2.2.2. Tác dụng của việc thực thi Pháp lệnh đối với nhận thức của nhân dân
về Pháp lệnh .................................................................................................... 50
2.2.3. Tác dụng của việc thực thi Pháp lệnh vào việc hoàn thành các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương ......................................................... 51
2.2.4. Tác dụng của việc thực thi Pháp lệnh trong đấu tranh phòng chống
tham nhũng, lãng phí....................................................................................... 53
2.2.5. Tác dụng của việc thực thi Pháp lệnh trong việc củng cố, nâng cao chất
lượng của hệ thống chính trị ........................................................................... 54
2.2.6. Đánh giá chung ..................................................................................... 57
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 59
Chƣơng 3.NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LỆNHTHỰC
HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤNTRÊN ĐỊA BÀN NÔNG
THÔN TỈNH HẢI DƢƠNG ......................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 87
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 94
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, khái niệm dân chủ ra đời từ rất
sớm.Ngay từ đầu, dân chủ và thực hiện dân chủ đã thể hiện là khát vọng của
con người, nhất là của những người lao động. Cuộc đấu tranhvì dân chủ gắn
liền với cuộc đấu tranh giải phóng con người, giải phóng xã hội. Không phải
ngẫu nhiên mà mỗi thành quả đạt được của cuộc đấu tranh vì dân chủ đồng
thời là một nấc thang tiến bộ trong sự phát triển của lịch sử xã hội.
Dân chủ và thực hiện dân chủ có nội dung và ý nghĩa rất phong phú,
nhưng thực hiện dân chủ, trước hết và chủ yếu là thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân. Trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta
luôn coi trọng vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ. Dân chủ và thực hiện dân
chủ luôn được khẳng định là một trong những mục tiêu cơ bản và động lực quan
trọng của sự nghiệp cách mạng. Tổng kết 30 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định:
“Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm "dân là gốc", vì lợi ích
của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách
nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc” [30; 69]
Thực tiễn những năm qua đã chứng minh, những thành tựu của việc
thực hiện và phát huy dân chủ ở nước ta có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn
đối với sự phát triển của đất nước. Khi quyền làm chủ của nhân dân được tôn
trọng và đảm bảo sẽ thu hút được sự tham gia tích cực của quần chúng nhân
dân,góp phần tích cực vào việc giữ vững ổn định chính trị và thực hiện thắng
sống xã hội là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định thành, bại của
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức và thực hiện tốt dân chủ,
nhất là dân chủ cơ sở vừa là vấn đề lý luận sâu sắc, vừa là vấn đề thực tiễn
cấp bách ở nước ta nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng.
5
Để phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa hình, ổn định; phấn
đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, việc nhận
thức về mặt lý luận và nâng cao hiệu quả thực hiện và phát huy dân chủ, nhất
là dân chủ ở cơ sở cần được hết sức quan tâm.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của việc thực hiện Pháp lệnh, Quy chế dân
chủ ở cơ sở ở nước ta hiện nay; nhằm góp phần đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường thị
trấn ở tỉnh Hải Dương nói chung, trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương nói
riêng, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hiệu quảthực thiPháp lệnh thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương” làm đề
tài Luận văn Thạc sĩ Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu
Dân chủ và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhất là thực hiện dân
chủ cơ sở ở nước ta là một vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược.Vì
vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, thực hiện và phát huy dân
chủ.Chúng ta có thể chia các công trình nghiên cứu thành những nhóm nội
dung sau đây:
2.1. Nhóm những nghiên cứu về bản chất, nội dung của dân chủ và
dân chủ xã hội chủ nghĩa
Tiêu biểu là các công trình:Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minhcủa tác
giả Phạm Văn Bính (Chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2008;
Nguyễn Văn Cư, đăng trên Tạp chí Công tác khoa giáo, số 11 năm 2000;
“Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy động lực phát triển đất
nước” của tác giả Khúc Văn Hưởng, đăng trên Tạp chí Tuyên giáo điện tử,
ngày 30/03/2016;Quy chế, thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã: Một số vấn đề
lý luận và thực tiễncủa tác giả Dương Xuân Ngọc,Nxb.Chính trị quốc gia, Hà
Nội năm 2004; “Dân chủ xã hội chủ nghĩa - mục tiêu và động lực của đổi mới
7
ở nước ta” của các tác giả Phạm Ngọc Quang, Nguyễn Hiền Lương, đăng
trênTạp chí Cộng sản, số 828, năm 2011; ...
Các tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của dân chủ và thực hiện dân
chủ ở cơ sở, nhất là thực hiện dân chủ ở nông thôn; thực trạng triển khai và tổ
chức thực hiện Pháp lệnh, Quy chế dân chủ ở cơ sở; những hạn chế khó khăn
và vấn đề đặt ra trong thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn trong thời gian
qua, ... Qua đó,các tác giả đề ra các giải pháp thực hiện dân chủ trong tiến
trình đổi mới ở nông thôn.
2.3. Nhóm các nghiên cứu về thực hiện Pháp lệnh, Quy chế dân chủ
cơ sở trong thực tiễn nước ta hiện nay
Đây là nhóm nội dung rất phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề trong
thực tiễn Việt Nam. Tiêu biểu là các công trình: Đề tài khoa học cấp tỉnh:
Đánh giá hiện trạng việc thực hiện Pháp lệnh, Quy chế dân chủ ở cơ sở giai
đoạn 2006 - 2011 và giải pháp tăng cường trong thời gian tới” của Ban Dân
vận Tỉnh ủy Hải Dương, năm 2012; “Những giải pháp phát huy vai trò của hệ
thống chính trị cơ sở nhằm đảm bảo thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên” của tác giả Đỗ Văn Dương, đăng trên Tạp
chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số 7 năm 2013;“Thực hành và phát huy
dân chủ qua 30 năm đổi mới” của tác giả Lê Hữu Nghĩa, đăng trên Tạp chí
Cộng sản Điện tử, ngày 11/03/2016;“Hoạt động của chính quyền cấp cơ sở
Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương.
3.2. Nhiệm vụnghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận chung về dân chủ, dân chủ xã hội chủ
nghĩa; thực thi Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ... dưới góc
độ của Chính trị học. Dân chủ được đề cập với tư cách là một thể chế chính trị
và Pháp lệnh thực hiện dân chủ là cơ sở pháp lý của việc thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân.
9
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quảthực thi Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương. Đó là
kết quả của việc hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn
tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương
trong giai đoạn hiện nay, góp phần xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do
dân và vì dân.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượngnghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dân chủ, dân chủ xã
hội chủ nghĩa; ý nghĩa của việcthực hiện và phát huy dân chủ;hiệu quả thực
thiPháp lệnh ở cơ sở trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: luận văn phân tích những vấn đề lý luận
chung;khảo sát thực trạng triển khaiPháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp
lệnh.
định các chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thực thiPháp lệnh
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở nước ta nói chung, ở tỉnh Hải
Dương nói riêng; nhất làtrên địa bàn nông thôn.
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho những người
quan tâm; đội ngũ cán bộ, quản lý cơ sở; những người trực tiếp hoạch định
chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện các dự án, chính sách phát triển
kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đồng thời, luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các
11
trường đại học, cao đẳng, các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở nước ta.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục, nội dung luận văn
được kết cấu thành 03 chương; 06 mục:
Chương 1. Lý luận chung về dân chủ và thực thi Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Chương 2.Thực trạng thực thi Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương
Chương 3.Nâng cao hiệu quả thực thi Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn trên địa bàn nông thôn tỉnh Hải Dương
12
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ
VÀ THỰC THIPHÁP LỆNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ
đã có nhiều tiến bộ và có ý nghĩa phong phú, sâu sắc. Thuật ngữ “democracy”
- dân chủ được dùng khá phổ biến. Từ thế kỷ XVII - XVIIIở Phương Tây đã
xuất hiện nhiều lý thuyết về dân chủ. Trong đó đều thống nhất ở tư tưởng về
“quyền tự nhiên của con người, nhất là quyền tự do và quyền tư hữu” [53,
26]. Đồng thời, dân chủ còn mang ý ngĩa là một trong những hình thức chính
quyền với đặc trưng là chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và
bình đẳng của công dân.
Cùng với sự phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, nền dân chủ tư sản
đã có những bước tiến rất dài với sự phong phú về lý thuyết và mô hình. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân, quan niệm của họ vẫn không vượt lên khỏi
những bạn chế của thời đại. Dân chủ tư sản xét đến cùng cũng chỉ là nền dân
chủ không triệt để, dân chủ với giai cấp tư sản và những người có của;còn đại
đa số giai cấp công nhân và nhân dân lao độngtrong xã hội bị tước hết quyền
dân chủ.
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra một “bước ngoặt” cách
mạng trong sự phát triển lý luận về dân chủ. Lần đầu tiên ra đời lý luận khoa
học về một nền dân chủ kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động. Đồng thời, thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu
cho quá trình hiện thực hóa quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động.
Bản chất của dân chủ, xét đến cùng là “quyền lực thuộc về nhân dân”.
Về điều này, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô Ta (1975) C. Mác đã
chỉ rõ: Từ “dân chủ” nếu chuyển qua tiếng Đức có nghĩa là “nhân dân nắm
chính quyền” [37,44-45].
Mặt khác, dân chủ chính là một chỉnh thể nhà nước (chế độ nhà nước)
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong chỉnh thể nhà nước ấy, nhân
14
Thứ năm, dân chủ còn là nguyên tắc, phương thức hành động của
những tổ chức chính trị - xã hội.
Với ý nghĩa dân chủ là nhà nước của dân, do dân và vì dân, ngay sau
khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa, nhà chính trị, vị
lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta đã khẳng
định: “Nước ta là nước của dân. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Công cuộc đổi mới; xây dựng là trách nhiệm của dân”
[38, 698].
Trước yêu cầu của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển đất
nước, chúng ta cần tiếp tục mở rộng và thực hiện dân chủ tạo động lực trực
tiếp cho xây dựng xã hội dân chủ, đúng như sự khẳng định của Đảng ta tại Đại
hội X “ Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công
cuộc đổi mới... Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân.
Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức
phải thực sự là công bộc của nhân dân. Xác định các hình thức tổ chức và có
cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối với nhân
dân” [27, 125].
Tiếp tục khẳng định chủ trương, quan điểm này, Đảng ta trong Đại hội
XI đã chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, cán bộ,
công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân
dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công
dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân. Có cơ chế cụ
thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Thực hiện tốt
16
17
Với ý nghĩa đó, ngày nay, dân chủ là yêu cầu khách quan, là đòi hỏi
chính đáng của con người trong đời sống xã hội, là tác nhân thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, của cả nhân loại. Dân chủ của đại đa
số nhân dân, gắn với công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; được thực
hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,
được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm ...
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ hay
không dân chủ không phải nằm ở chỗ “đa nguyên”, “đa đảng”; thực chất của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ bảo đảm quyền làm chủ, phát
huy tính tự giác và sáng tạo to lớn của quần chúng lao động trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho con người
phát triển toàn diện. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ vì con người,vì
sự nghiệp giải phóng con người cho dù đó là con người với tư cách cá nhân
hay cộng đồng xã hội.
Trên cơ sở quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, các nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần vận dụng sáng tạo phù hợp với điều
kiện cụ thể. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, dân chủ
chính là bản chất của nhà nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ
là mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Như trên đã phân tích, dân chủ là một kiểu chế độ chính trị, cũng là một
kiểu cơ chế bàn bạc quyết định của các cá nhân và tổ chức tham gia.Để đảm
bảo dân chủ được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
cần đảm bảo các nguyên tắc có bản đó là:
Một là, nguyên tắc đa số:theo đó, thiểu số phải phục tùng đa số.
Hai là, nguyên tắc thiểu số: theo nguyên tắc này,các ý kiến của thiểu số
nếu khác với ý kiến của đa số thì được bảo lưu; không bị áp đặt hoặc phản
Nam nói riêng.
19
1.1.3. Hiệu quả hoạt động
Hoạt động của con người bao giờ cũng có mục đích và theo đuuổi
những lợi ích nhất định. Vì vậy, hiệu quả hoạt động bao giờ cũng cần được
tính đến. Vì vậy, hiệu quả là một phạm trù gắn với hoạt động của con người
và được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tất nhiên,
trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau mà quan niệm về hiệu quả, tiêu chí xá
định hiệu quả cũng khác nhau. Thông thường, khi đánh giá hiệu quả của một
hoạt động nào đó,người ta thường đánh giá trên hai khía cạnh: hiệu quả kinh
tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế: là phạm trù biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều
sâu, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình
tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất, kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít
nhất mà đạt kết quả cao nhất. Nói cách khác, hiệu qủa kinh tế được xác định
bởi tỷ số giữa “kết quả đạt được” và “chi phí bỏ ra” để đạt được kết quả đó.
Nhìn chung, khi đánh giá hiệu quả hoạt động người ta thường dựa trên
tỷ số giữa kết quả đạt được và nguồn lực được sử dụng, hay so sánh giữa “kết
quả đạt được” với “chi phí bỏ ra”. Như vậy, yếu tố kinh tế thường được đặt
lên trước hết. Có thể thấy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế là rất quan trọng và
rất cần thiết. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế của một hoạt động
nào đó không thôi thì chưa đủ. Bởi lẽ, mọi hoạt động của con người xét đến
cùng đều hướng đến mục tiêu phát triển xã hội. Vì vậy, ngoài hiệu quả kinh tế
không thể không tính đến hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội: trong quản lý xã hội, việc đánh giá hiệu quả xã hội
một hoạt động nào đó của con người là rất cần thiết.Theo Peter Drucker, nếu
nhà quản lý không đánh giá được hiệu quả thì họ không thể quản lý được.
những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân
bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ
quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát.
21
* Những nội dung công khai để dân biết
Nội dung công khai để dân biết được quy định tạiĐiều 5, bao gồm:
“1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.
2. Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công
trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân.
4. Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo
chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp.
5. Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,
xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn
phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo
hiểm y tế.
6. Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy
phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và
Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
8. Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng
kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều
chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.
23