tiểu luận tiền lương trong khu vực công - Pdf 45

MỤC LỤC
Mở đầu................................................................................................................................... 2
Chương 1............................................................................................................................... 1
Cơ sở lí luận về tiền lương khu vực công và tăng trưởng kinh tế......................................1
1.1. Các khái niệm...............................................................................................................................................1
1.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công............................................1
1.3. Mối quan hệ giữa tiền lương trong khu vực công và tăng trưởng kinh tế............................................2
1.4. Vai trò của tăng trưởng kinh tế đến tiền lương khu vực công...................................................................2
b. Nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế................................................................................................2

CHƯƠNG 2........................................................................................................................... 4
Thực trạng mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công và tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam giai đoạn 2010 – 2015...................................................................................................4
2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam giai đoạn 2010-2015................................................4
2.2. Tình hình tiền lương khu vực công tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015...........................................5
2.3. Mối quan hệ phát triển kinh tế và tiền lương trong khu vực công tại Việt Nam giai đoạn 2010-2015....7
Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công được thể hiện qua sự tác động của
tăng trưởng kinh tế đến tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định. Bởi lẽ tiền lương tối thiểu phụ thuộc
và ngân sách nhà nước và sự quy định của nhà nước về tiền lương tối thiểu.................................................7
2.5. Đánh giá mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn
2010 – 2015........................................................................................................................................................9
a. Những mặt đã đạt được.............................................................................................................................9
b. Hạn chế.....................................................................................................................................................10
2.6. Nguyên nhân gây ra sự biến động trong quan hệ tiền lương và tăng trưởng kinh tế............................10

Chương 3............................................................................................................................. 12
Một số đề xuất về tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công nhằm nâng cao
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương khu vực công.................................12
3.1. Kiến nghị để tăng trưởng kinh tế..............................................................................................................12
3.2. Kiến nghị với tiền lương trong khu vực công............................................................................................13


viên chức và Người lao động làm việc trong khu vực công căn cứ vào số lượng, chất lượng
lao động và phải phù hợp với khả năng ngân sách của quốc gia và các quy định của pháp
luật.
Tăng trưởng kinh tế (GDP) là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng
qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng
trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng. Tăng trưởng kinh tế thể hiện ở
mức tăng và tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và hoặc tổng sản lượng quốc gia
(GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời
gian nhất định.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và được thực hiện trong một năm để
bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
1.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công
Đối với khu vực công thì cán bộ, công chức, viên chức họ cũng hưởng lương tương tự
như các doanh nghiệp đã nói ở trên. Tuy nhiên, phần lương của họ luôn bị phụ thuộc vào
ngân sách nhà nước. Và ngân sách nhà nước lại bị phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế. Nếu
tăng trưởng kinh tế cao sẽ đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh trong nước đạt hiệu quả
cao và phần tiền nộp vào ngân sách nhà nước từ các tổ chức hoạt động kinh tế trong nước
tăng lên, từ đó làm cho ngân sách nhà nước tăng lên. Khi ngân sách nhà nước tăng lên thì
khoản tiền tri trả cho cán bộ, công chức, viên chức trong các khu vực công cũng tăng lên. Từ
đó, tiền lương trong khu vực công này sẽ góp phần trang trải một phần cuộc sống cho cán bộ
công chức, viên chức và người lao động.


1.3. Mối quan hệ giữa tiền lương trong khu vực công và tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế suy cho cùng cũng là tăng năng suất lao động, đổi mới chất lượng
lao động, tăng đầu tư và nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới thể chế.Nếu điều kiện kinh tế
phát triển cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật thì năng suất lao động tăng lên đồng nghĩa với
việc mức tích lũy được nâng cao để đầu tư và tăng phúc lợi xã hội. Đồng thời tăng năng suất
lao động tác động đến tăng tiền lương cho người lao động trong khu vực công, tăng phúc lợi

phẩm mới có tăng trưởng kinh tế. Vì vậy tăng trưởng kinh tế được đóng góp bởi quy mô lao
động.
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh
tế ngày nay. Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối với
tăng trưởng như Solow (1956). Solow (1956) cho rằng “ toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu
người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật ”.


CHƯƠNG 2
Thực trạng mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công và tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam giai đoạn 2010 – 2015
2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội GDP,
GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015 có sự thay đổi không đồng đều. Ứng với sự
thay đổi này đã có những thay đổi trong thu nhập của Người làm công ăn lương. Đặc biệt nó
ảnh hưởng lớn đến tiền lương trả cho các cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công.
Bởi lẽ, tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách nhà nước.
Đồ thị 2.1: Tình hình tăng trưởng kinh tế GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2015

Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=13419
Theo đồ thị trên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 được
biểu diễn qua đồ thị đường, nhằm thể hiện sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế GDP. Tuy
nhiên đường biểu diễn này không chạy thẳng và có nhiều đoạn gấp khúc để biểu thị tăng
trưởng kinh tế thay đổi qua các năm trong giai đoạn 2010-2015.
Từ năm 2010 đến 2015, với 6 năm phát triển GDP Việt Nam có những thay đổi rõ rệt
qua các năm. Năm 2010, GDP trong nước đạt 6,78% đạt tốc độ tăng cao nhất trong giai
đoạn 2010 – 2015. Sau năm 2010 ngay lập tức GDP sụt giảm còn 5,89% ở năm 2011 giảm
0,89% so với năm 2010. Trong các năm từ 2010 đến 2012, GDP của Việt Nam mang sự sụt



công việc. Cơ chế hợp đồng lao động sẽ tạo sự linh hoạt trong thay đổi nhân sự, buộc người
lao động phải tích cực làm việc và thu hút được nhân tài từ khu vực tư vào khu vực công làm
việc. Ngoài ra, cần thu gọn đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước, ví dụ
đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công vẫn có khả năng lao động thì trong ngắn hạn
nên ưu tiên bố trí nguồn lực chuyển sang trợ cấp một lần để giảm gánh nặng cho ngân sách
nhà nước trong những lần điều chỉnh tiền lương về sau.
Bảng 2.2: Tiền lương tối thiểu giai đoạn 2010 - 2015
Văn bản

Năm

Thời gian hiệu lực

Mức lương


Nghị định
28/2010/NĐ-CP
Ngày 25/03/2010

2010

01/05/2010

730.000

2011

01/05/2011


01/05/2015

1.210.000

Nghị định
22/2011/NĐ-CP
Ngày 04/04/2011
Nghị định
31/2012/NĐ-CP
Ngày 12/04/2012
Nghị định
66/2013/NĐ-CP
Ngày 27/06/2013

Nguồn: Tổng hợp
Công thức tính lương cơ bản cho người lao động làm việc trong khu vực công như sau:
TLi= MLmin x hệ số lương trong thang bảng lương ( công thức 1)
Trong đó :
TLi : Tiền lương mà người lao động nhận được
MLmin : Mức tiền lương tối thiểu theo quy định của nhà nước
Qua công thức 1 ta thấy, yếu tố quan trọng cấu thành nên tiền lương trong khu vực
công chính là tiền lương tối thiểu ( MLmin). Từ công thức, tiền lương của Người lao động
cao khi mà MLmin cao và tiền lương của người lao động trong khu vực công thấp khi mà
MLmin thấp.
Theo bảng trên, từ năm 2010 đến 2015, mức tiền lương tối thiểu có xu hướng gia tăng.
Mức lương tối thiểu giữ ở mức thấp nhất là 730 000 đồng. Mức này thấp nhất trong giai
đoạn 2010-2015. Năm 2012, tiền lương tối thiểu là 1050 000 đồng tăng 320 000 đồng so với
năm 2010. Trong khoảng thời gian từ 2013-2015, cùng với sự gia tăng GDP tiền lương tối
thiểu cũng gia tăng từ 1150000 đồng ( 1/7/2013) lên 1210000 đồng tính đến 31/8/2016.



2013

5.42

2014

5.98

2015

6.68
Nguồn: Tổng hợp

Năm 2010 có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất là 6.78%. Đây là mức tăng khá cao so
với mức tăng 6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu
đề ra 6,5%. Trước sự sụt giảm của GDP từ 6.78% năm 2010 xuống 5.25% trong năm 2011,
năm 2012 mức tiền lương tối thiểu tiếp tục tăng để đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu cho các
cán bộ công chức, viên chức và người lao động trong khu vực công. Trong những năm từ
2013 đến 2015, GDP tiếp tục tăng trưởng cao, và mức lương tối thiểu cũng gia tăng theo.
Năm 2013 GDP đạt 5.42 %, sau đó tăng dần đến 2015 chạm mốc 6.68%. Với sự gia tăng này
đã một phần nào đó cải thiện được đời sống của cán bộ, công chức trong khu vực công. Từ
đó làm cho họ yên tâm công tác và công hiến hết khả năng của bản thân để phục vụ mục tiêu
tăng trưởng kinh tế của quốc gia.


2.4. Tác động của tiền lương trong khu vực công vào tăng trưởng kinh tế
Do ngân sách nhà nước là rất có hạn nên số tiền dùng để trả lương cho cán bộ, công
chức, viên chức trong khu vực công là có giới hạn. Theo tính toán của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, mức lương tối thiểu chung do Chính phủ ban hành chỉ bảo đảm
được phần lương thực, thực phẩm và chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tối thiểu của công

lương trong khu vực công. Nghĩa là không có đầu tư, tiêu dùng cá nhân giảm thì đương
nhiên tổng sản phẩm quốc dân mà cán bộ, công chức đóng góp cho tăng trưởng kinh tế là rất
thấp. Từ đó có thể nói tiền lương mà họ nhận được chưa góp phần tăng trưởng kinh tế.
2.5. Đánh giá mối quan hệ giữa tiền lương khu vực công với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam giai đoạn 2010 – 2015
a. Những mặt đã đạt được
Trong giai đoạn 2010 – 2015, GDP của nước ta có những biến động và thay đổi không
theo một chiều là tăng lên hoặc giảm đi liên tục từ 2010 đến 2015, mà nó phát triển thất
thường, năm thì tăng cao năm thì xuống thấp. Đặc biệt như năm 2010 đạt GDP cao nhất
nhưng hai năm sau đều giảm. Nhận thấy đà sụt giảm này là ngiêm trọng nhà nước và người
dân ta đã nỗ lực để cải thiện GDP và kết quả GDP đã tăng cao trong ba năm gần đây. Đây là
một nỗ lực đáng nghi nhận của nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời ghi nhận sự đóng góp của
đội ngũ người lao động làm việc trong khu vực công của nước ta.
Với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đã làm gia tăng tiền lương trong khu vực công,
nhằm cải thiện nhu cầu sống của số lượng lớn cán bộ, công chức trong khu vực công. Trong
giai đoạn từ 2010 đến 2015 tiền lương tối thiểu đã có sự gia tăng, điều này cho thấy mức tiền
lương mà người lao động nhận được trong khu vực công gia tăng nhờ tiền lương tối thiểu gia
tăng. Tiền lương tối thiểu gia tăng đã làm tăng thu nhập và tăng mức sống cho người lao
động. Khi cuộc sống của người lao động làm việc trong khu vực công dần dần được đáp ứng
họ sẽ yên tâm làm việc và yên tâm cống hiến khả năng của bản thân, từ đó thực hiện được
đầy đủ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Khi tăng trưởng


kinh tế đạt đà phát triền đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước tăng lên và tiền lương trả từ
ngân sách nhà nước cho cán bộ công chức nhà nước lại tăng lên.
Ngoài việc thu nhập từ lương của bản thân trong khu vực công, Người lao động trong
khu vực công còn tự tạo việc làm cho bản thân nhằm làm gia tăng thu nhập. Các hoạt động
tự tạo việc làm này đã thúc đẩy đầu tư cho nền kinh tế và làm gia tăng sản phẩm quốc dân.
Từ đó làm gia tăng ngân sách nhà nước và tiền lương của người lao động trong khu vực
công lại gia tăng.


trong khu vực công vẫn tăng, sau đó tăng trưởng kinh tế tăng kéo theo lương tăng. Sự thay
đổi trong mối quan hệ này biến động không theo một quy luật hay theo một quy trình nào
đó. Một số nguyên nhân gây ảnh hưởng đến mối quan hệ giữ tiền lương khu vực công và
tăng trưởng kinh tế bao gồm:
Nguyên nhân thứ nhất, nhu cầu sống và mức sống của người cán bộ, công chức trong
khu vực công mới chỉ được đáp ứng 50% từ tiền lương khu vực công. Vì vậy, mặc dù tăng
trưởng kinh tế của cả quốc gia có xu hướng giảm nhưng lương phải tăng để khuyến khích
người lao động làm việc và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Nguyên nhân thứ hai, ngân sách nhà nước là có giới hạn. Do đó, tăng trưởng kinh tế
chưa tác động mạnh vào tiền lương, vì vậy, phần lương tăng thêm là rất chậm. Tăng trưởng
kinh tế biến động thất thường, không theo một chiều, có năm tăng có năm giảm, do vậy tiền
lương phải điều chỉnh để phù hợp tăng trưởng kinh tế và ngân sách nhà nước.


Chương 3
Một số đề xuất về tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công nhằm nâng cao
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiền lương khu vực công
Ở Việt Nam, giai đoạn 2010 – 2015, tăng trưởng kinh tế có những biến động phức tạp,
không theo một chiều nhất định, biến đổi qua từng năm. Bởi lẽ, tiền lương trong khu vực
công phụ thuộc vào ngân sách nghĩa là có tăng trưởng mạnh thì mức độ thu của ngân sách
cao, do đó biến đổi tiền lương sẽ mạnh, còn mức độ tăng trưởng chậm thì mức độ tăng tiền
lương sẽ chậm do mưc độ đóng góp vào ngân sách ít hơn. Sau đây, em đề xuất một số kiến
nghị về tăng trưởng kinh tế và tiền lương trong khu vực công nhằm góp phần cho tăng
trưởng kinh tế, từ đó làm gia tăng ngân sách nhà nước và làm gia tăng tiền lương khu vực
công do bị ảnh hưởng bởi ngân sách nhà nước.
3.1. Kiến nghị để tăng trưởng kinh tế
Tiếp tục tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành hiệu quả chính sách tiền tệ, chính
sách tài khóa và các chính sách khác để kiểm soát tốt lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Việt
Nam, tăng dự trữ ngoại hối, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh tái cơ cấu

nghiệp, mà rộng ra là cho cả nền kinh tế.
3.2. Kiến nghị với tiền lương trong khu vực công
Thứ nhất, tăng lương công chức nhất thiết phải là sự lựa chọn chiến lược và quyết tâm
chính trị của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ở cấp cao nhất. Chỉ có đột phá trong chính sách
tiền lương để công chức có thể sống bằng lương dựa trên sự đổi mới trong đánh giá công
chức mới giải quyết được những bất cập trong xây dựng và thực thi chính sách trên mọi lĩnh
vực và tạo được chuyển biến về chất trong cải cách hành chính ở nước ta.
Thứ hai, để khuyến khích những người làm việc thật sự có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cần thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc chứ không phải theo ngạch,
bậc đơn thuần. Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động. Muốn vậy, tiền lương tối
thiểu phải tương ứng chỉ số giá sinh hoạt từng thời kỳ và phải tính đến sự phù hợp với từng
ngành, nghề, cũng như đặc thù riêng của từng khu vực.
Thứ ba, phải thay đổi cơ bản kết cấu tiền lương công chức, trong đó bao gồm phần
lương “cứng” theo thang, bậc lương quy định chung và bằng với mức lương tối thiểu mà
từng người đang được hưởng; và phần lương “mềm” thưởng theo năng suất, hiệu quả công
việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, được chi trả từ nguồn kinh phí tăng lương do Chính
phủ phân bổ cho mỗi đơn vị.
Thứ tư, cải cách tiền lương cần làm rõ mối quan hệ giữa chính sách tiền lương với các
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục và phần tiền nhà ở, điện, nước, phương
tiện đi lại, trang bị đồ dùng cho chuyên gia cao cấp và cán bộ lãnh đạo trong cơ cấu tiền
lương. Thực hiện cải cách tiền lương công chức, đặc biệt áp dụng dụng hệ thống trả lương
dựa trên năng lực và hiệu quả công việc là một việc khó và chưa được áp dụng ở Việt Nam
nhưng cần thiết phải thực hiện để tạo nên thay đổi căn bản và đột phá về chính sách tiền
lương.
Tất cả các kiến nghị về tiền lương như trên đều nhằm mục đích bảo đảm tiền lương
trong khu vực công được tri trả bền vững cho người công chức, viên chức nhà nước. Từ đó,
cuộc sống của họ được bảo đảm. Chỉ khi cuộc sống của người công chức, viên chức nhà
nước được bảo đảm thì họ mới chú tâm cống hiến hết năng lực của bản thân cho các mục
tiêu tăng trưởng kinh tế.


6.
http://tusta.org.vn/index.php/tin-tuc-va-su-kien/63-tin-tuc-va-su-kien/578luong-cong-chuc-bao-nhieu-thi-du
7.
2198813.html

http://vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/cong-chuc-lam-giau-bang-cach-nao-

8. Luật ngân sách nhà nước năm 2002.
9. http://luanvanaz.com/cac-nhan-to-anh-huong-den-tang-truong-kinh-te.html
10. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/trien-vongtang-truong-kinh-te-viet-nam-nam-2016-va-mot-so-kien-nghi-73192.html
11.
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/cai-cachtien-luong-o-khu-vuc-cong-cua-singapore-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam53909.html




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status