bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module 14, 17, 18, 23 thpt - Pdf 45

TRƯỜNG THPT AN DƯƠNG
TỔ : LÝ - THỂ DỤC - CÔNG NGHỆ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Dương, tháng 3 năm 2015

BÀI THU HOẠCH
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
NĂM HỌC 2014 – 2015
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Quang Hưng
Tổ chuyên môn: Lý – Thể Dục – Công nghệ
Công việc chuyên môn và kiêm nhiệm được giao: Giảng dạy môn Thể dục
lớp 11B4, 11B7, 11B9. Phó bí thư Đoàn trường
PHẦN I: KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Căn cứ Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non,
phổ thông và giáo dục thường xuyên;
Căn cứ Thông tư số 30/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/2011 của BGD&ĐT về
việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học phổ
thông;
Căn cứ công văn số 635/SGDĐT-GDCN ngày 08/7/2014 của Sở Giáo dục
và Đào tạo Hải Phòng về việc hướng dẫn thực hiện và kế hoạch bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên hè năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015.
Bản thân xây dựng kế hoạch tự BDTX năm học 2014-2015 như sau:
I. Mục đích bồi dưỡng:
- Nâng cao nhận thức, tư tưởng chính trị, ý thức trách nhiệm của nhà giáo,
trong giai đoạn cách mạng mới;
- Duy trì và tiếp tục phát huy kết quả các hoạt động tự bồi dưỡng đã được
thực hiện trong những năm học trước.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ bản thân, nâng cao mức độ đáp

Nội dung bồi dưỡng

Mục tiêu bồi
dưỡng

đun

Thời gian học
T.gian
tập trung (tiết)
tự học
(tiết) Lý.th T.hành

Xây dựng kế hoạch dạy
học theo hướng tích hợp
Tháng
10, 11
(2014)

THP
T
14

1. Các yêu cầu của một
kế hoạch dạy học theo Xây dựng kế
hoạch dạy học
hướng tích hợp
theo hướng tích
2. Mục tiêu, nội dung, hợp
phương pháp của kế


2

3

10

2

3

10

2

3

Tìm kiếm, khai thác, xử lí
thông tin phục vụ bài
giảng

Tháng
2, 3

1. Những thông tin cơ bản
THP phục vụ bài giảng
T
2. Các bước cơ bản
17 trong thực hiện phương
pháp tìm kiếm thông tin

Thực
hiện
các
sinh
phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả học tập
của học sinh


PHẦN II: TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BDTX
NĂM HỌC

CHUYÊN ĐỀ: “ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH
HỢP ”
Mã mô đun 14 – BDTX – năm học 2014 - 2015
I. Đặt vấn đề:
Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp đó là một trong những nội dung
trọng tâm Bộ GD-ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung
học cơ sở năm học 2014-2015. Dạy học theo hướng tích hợp là một trong những
quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong
nhà trường phổ thông và trong chương trình xây dựng môn học. Quan điểm tích
hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và
quá trình dạy học.
Thực tiển đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục và
dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm
cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn học,
các mặt giáo dục được thực hiện riêng lẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm
giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy
đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại.
Chuyên đề dạy học theo hướng tích hợp được trình bày với hai nội dung cơ bản:

lực sống tự lập.
- Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học . Trong quá trình học tập, học
sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong
mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các khái niệm đã học trong những mối
quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giã các môn học khác
nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như
vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến
thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng
gặp.
b. Phương pháp
Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp
vào các bài dạy, tùy theo từng môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như
liên hệ, lồng ghép bộ phận hay là toàn phần,( Phần nội dung bài học, phần bài tập
hay là tổng kết toàn bài...) Khi tích hợp giáo viên cần sử dụng ngôn từ kết nối sao
cho lô gic và hài hòa....từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống cho học
sinh.
c. Nội dung
Dạy học theo hướng lồng ghép tích hợp thực hiện ở một số nội dung môn học
và các hoạt động giáo dục: nội dung tích hợp được bao gồm những nội dung như
Tích hợp giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
giáo dục phòng chống tham nhũng; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo
vệ môi trường; giáo dục về dân số, đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo
dục về tài nguyên và môi trường, chủ quyền biển đảo theo hướng dẫn của Bộ GDĐT.
Mức độ tích hợp tùy theo từng môn học, nội dung để lựa chọn mức độ tích hợp,
đối với bộ môn tích hợp nội dung Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh thì mức độ tích hợp từ liên hệ ( chỉ khai thác nội dung bài học và liên hệ với
kiến thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mức độ hạn chế), tích hợp bộ phận
( chỉ một phần của bài học, hoạt động thực hiện nội dung giáo dục về tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, mức độ trung bình) đến tích hợp tòan phần ( cả một bài có
nội dung trùng khớp với nội dung giáo dục về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,

cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao.
Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối
hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy,
việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động".
2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của người học
Khi sử dụng PPDHTC, người học là khách thể của hoạt động dạy nhưng
là chủ thể của hoạt động học.Họ được tích cực tham gia vào các hoạt động học tập
dưới vai trò tổ chức của người dạy. Ở đây, người học được đặt vào trong các tình


huống có vấn đề, tự mình khám phá tri thức, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân, động não tư duy các
phương án giải quyết khác nhau trong một thời gian nhất định...Từ đó, không
những nắm được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn nắm được cách thức và con
đường đi tới tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó.
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Rèn luyện phương pháp tự học là mục tiêu, nhiệm vụ và là cách thức, con
đường của PPDHTC. Không đi theo con đường của cách dạy học truyền thống,
mang tính nhồi nhét tri thức cho người học, mà tiếp cận với cách dạy học hiện đạitự bản thân người học tìm kiếm, khám phá tri thức thông qua các kênh thông tin đa
dạng hóa khác nhau.
Trong sự bùng nổ thông tin của khoa học công nghệ và khoa học xã hội, xu
thế dạy học truyền thống mang tính áp đặt tri thức từ phía người dạy không còn
phát huy hiệu quả tích cực, thì phương pháp tự học được coi là phương pháp học
tập cơ bản.Người học là một kênh tự thông báo các thông tin khác nhau,thu nạp từ
nhiều nguồn và bước đầu tự xử lý, chọn lọc các đơn vị tri thức, nhằm phục vụ cho
mục đích của bản thân.
Chúng ta thử tưởng tượng xem, từ 2 đến 3 năm, lượng thông tin khoa học
công nghệ tăng lên 2 lần; còn 3-4 năm, thông tin khoa học xã hội tăng 2 lần.Như
vậy, khoảng 3 năm, thông tin về khoa học nói chung tăng gấp 2 lần. Không phải

nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, thể hiện trình độ nhận thức của từng
người, từ đó người học tự nâng trình độ của bản thân lên mức độ cao hơn. Như
vậy, thông qua việc học tập của từng cá nhân trong một tập thể, sự phối hợp học
tập hợp tác cho thấy, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi
người học, của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên nguồn tri thức của ngừơi dạy và
các tài liệu học tập có liên quan.
Trong các loại hình nhà trường hiện nay, phương pháp học tập hợp tác
được tổ chức theo nhóm đôi, nhóm nhỏ(4-6 người), nhóm lớn hơn(8-10 ngừơi),
theo lớp, các giờ Seminar, hoặc trường. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả và chất
lượng của giờ học, đặc biệt khi phải giải quyết các vấn đề phức tạp, khó hiểu. Lúc
này xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các thành viên trong nhóm để hoàn
thành yêu cầu, nhiệm vụ chung đề ra.
Trong hoạt động nhóm, các thành viên phải ý thức không nên ỷ lại; tính
cách năng lực tổ chức dần được bộc lộ; tình cảm bạn bè, tinh thần hỗ trợ được phát
huy...Chính mô hình hợp tác này sẽ giúp cho các thành viên làm quen dần với sự
phân công hợp tác trong đời sống xã hội.
Đất nước ta đang hội nhập một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường,
có sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các nước trên thế giới, vì vậy năng lực hợp
tác phải trở thành nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường, chuẩn bị bước đường tương
lai cho người học.
d. Kết hợp đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học
Vấn đề kiểm tra-đánh giá là một khâu không thể thiếu của quá trình dạy
học. Nó giúp cho người dạy điều chỉnh quá trình dạy, còn người học tự điều chỉnh
quá trình học của bản thân; từ đó mở ra một chu trình dạy học tiếp theo.
Trong quá trình dạy học, kiểm tra là phương tiện để đánh giá.Theo quan
điểm dạy học truyền thống, ngừơi dạy giữ độc quyền đánh giá ngừơi học. Điều này


dẫn đến, nhiều khi các em không hiểu tại sao mình được điểm số như vậy. Ý nghĩa
giáo dục trong đánh giá bị giảm sút đáng kể.

sau:
Dạy học cổ truyền
Các mô hình dạy học mới
Quan niệm Học là qúa trình tiếp thu và lĩnh Học là qúa trình kiến tạo; học sinh
hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩtìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện
năng, tư tưởng, tình cảm.
tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự


hình thành hiểu biết, năng lực và
phẩm chất.
Truyền thụ tri thức, truyền thụ vàTổ chức hoạt động nhận thức cho học
Bản chất
chứng minh chân lí của giáo viên. sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí.
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩChú trọng hình thành các năng lực
năng, kĩ xảo. Học để đối phó với (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương
thi cử. Sau khi thi xong những điềupháp và kĩ thuật lao động khoa học,
đã học thường bị bỏ quên hoặc ítdạy cách học. Học để đáp ứng những
Mục tiêu
dùng đến.
yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai. Những điều đã học cần
thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và
cho sự phát triển xã hội.
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV,
các tài liệu khoa học phù hợp, thí
nghiệm, bảng tàng, thực tế…: gắn
với:
Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo viên
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu

mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.
+ Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,
giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học
sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của
các phương tiện nghe – nhìn.
+ Vấn đáp tìm tòi (Đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được
sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính
quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáoviên
tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò
với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên
giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện
kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của
sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy.
b. Quy trình thực hiện
- Trước giờ học: xác định nội dung bài dạy, đối tượng học sinh xây dựng hệ thống
câu hỏi cho bài học. Đồng thời cũng dự kiến những tình huống và câu hỏi phụ để
gợi ý cho HS
- Trong giờ học: Sử dụng hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị và thu nhận thông tin phản
hồi từ học sinh
- Sau giờ học: Rút kinh nghiệm về hệ thống câu hỏi đã sử dụng
c. Một số lưu ý
- Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, sát yêu cầu đề bài
- Câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng
- Cùng một nội dung, giáo viên có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi
2. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
a. Khái niệm
- Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có
quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn
khó khăn, cản trở cần vượt qua.
- Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:

được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một
nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi
người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực,
không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong
nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm
khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của
cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra
một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao
cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
*Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
* Làm việc theo nhóm


- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
* Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong
bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các
băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng
cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của
mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành

1.1.1. Thông tin
Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết,
nhận thức cho con người cũng như các sinh vật khác. Thông tin tồn tại khách quan,
có thể được tạo ra, truyền đi, lưu trữ, chọn lọc. Thông tin cũng có thể bị sai lạc, méo
mó do nhiều nguyên nhân khác nhau: bị xuyên tạc, cắt xén… Những yếu tố gây sự
sai lệch thông tin gọi là các yếu tố nhiễu.
Thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều
nguồn khác nhau.
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra
những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Trong lĩnh
vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý.
Với quan niệm của công nghệ thông tin, thông tin là những tín hiệu, ký hiệu
mang lại hiểu biết, nhận thức của con người. Thông tin muốn được xử lý trên máy
tính phải được mã hoá theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và
xử lý được. Sau khi xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con
người có thể nhận thức được.
1.1.2. Công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT là một ngành ứng dụng công nghệ
vào quản lý xã hội, xử lý thông tin. Có thể hiểu CNTT là ngành sử dụng máy tính
và các phương tiện truyền thông để thu tập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền
thông tin. Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang
người khác bằng các ký hiệu, tín hiệu có ý nghĩa thông qua các kênh truyền tin.
Công nghệ thông tin và truyền thông có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Công nghệ thông tin và truyền thông đã và
đang tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong kinh tế xã hội nói chung và giáo
dục nói riêng.
1.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong sự phát triển xã hội
1.2.1. Vai trò đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
CNTT có vai trong quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước

Bảng/TV/Radio
Thông tin
Người học
Chủ động
PC
Tri thức
Nhóm
Thích nghi
PC + mạng
Trong các mô hình đã nêu, mô hình “tri thức” là mô hình giáo dục hiện đại
nhất, hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT và truyền
thông là mạng Internet. Mô hình mới này đã tạo nên nhiều sự thay đổi trong giáo
dục.
1.3.2. Thay đổi chất lượng giáo dục
CNTT được ứng dụng trong giáo dục đã làm thay đổi lớn về chất lượng giáo
dục
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua các
sở giáo dục đã chỉ đạo các trường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
và đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo


1.3.3. Thay đổi hình thức đào tạo
Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển đã tạo nên những thay đổi
lớn về giáo dục và đào tạo. Nhiều hình thức đào tạo mới đã xuất hiện
* Đào tạo từ xa:
* Đào tạo trực tuyến:
1.3.4. Thay đổi phương thức quản lý
Khi máy tính chưa ra đời, công nghệ thông tin chưa phát triển, công tác quản
lý và điều hành ở các cơ quan, xí nghiệp, trường học được thực hiện bằng thủ
công. Từ khi máy tính ra đời, công nghệ thông tin phát triển, công việc quản lý đã

Là một công cụ rất hiệu quả và một kho thông tin vô tận, nhưng Internet
cũng đòi hỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng và những điều
kiện nhất định.
Điều cần thiết đầu tiên là tiếng Anh. Tuy các nội dung tiếng Việt đang phát
triển với tốc độ rất nhanh nhưng nguồn thông tin lớn nhất và phong phú nhất trên
Internet là bằng tiếng Anh. Nếu không có ngoại ngữ, giáo viên bị hạn chế khá
nhiều.
Thứ hai là những hiểu biết cơ bản dù chỉ ở mức đại cương như truy cập vào
Internet thế nào? Làm thế nào để sử dụng những công cụ tra cứu, tìm kiếm như
Google, Yahoo, Altavista, hay kỹ năng chọn lọc từ khoá tìm kiếm phù hợp với mục
đích tra... sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìm kiếm tư liệu.
Ngoài những thông tin có thể tìm kiếm trực tiếp trên website, việc liên lạc
trực tiếp bằng thư điện tử (email) với các cá nhân, cơ sở nghiên cứu có thể tìm thấy
trên Internet hay giữa các đồng nghiệp với nhau có thể giúp cung cấp những tư liệu
chuyên môn quý.
Điểm cuối cùng cũng rất quan trọng đó là muốn khai thác Internet thì cần
phải truy cấp được vào Internet bằng cách nào. Vấn đề này đã trở nên dễ dàng khi
hầu hết các trường và gia đình đều đã nối mạng Internet.
2. Xây dựng thư viện điện tử ở trường THPT
Đối với giáo viên THCS, tạo một thư viện điện tử để lưu trữ thông tin phục
vụ công tác giảng dạy có một ý nghĩa thiết thực. Theo tôi mỗi trường nên ứng dụng
những thành tựu của CNTT để lập thư viện lưu trữ thông tin, tư liệu ảnh, video,
một số bài soạn mẫu phục vụ cho việc soạn và giảng bằng giáo án điện tử, các đề
kiểm tra dùng kiểm tra đáng giá kết quả học tập của học sinh, các nội dung phục vụ
ngoại khoá các môn học... sẽ nâng cao quá trình dạy học.
Với thư viện điện tử này, giáo viên đã có sẵn một số tư liệu để có thể xây
dựng giáo án điện tử riêng của mình, tham khảo một số bài giảng điện tử của đồng
nghiệp, hiểu biết thêm về những cơ sở lý luận của kiểm tra đánh giá và có thể biên
soạn nội dung bài kiểm tra cho hs trên cơ sở những bài mẫu.Dưới đây là cấu trúc
cây thư mục Thư viện điện tử:Tuy nhiên đây chỉ là một cây thư viện mà để tham

giải hiện trạng, nguyên nhân, hiệu quả, chất lượng giáo dục theo hai khia cạnh
khác nhau: kết quả học tập đạt được của học sinh so với kết quả học tập cửa học
sinh khác và kết quả học tập đạt được của học sinh so với mục tiêu giáo dục đã đặt
ra. Một trong những hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập ở Việt Nam hiện nay
là kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm khách quan.
Câu 2. Cho biết nội dung cơ bản của mục tiêu đánh giá.
- Mục tiêu giáo dục là một mô hình nhân cách cần đạt được, thông qua tập hợp
những kết quả cửa quá trình giáo dục và được thông báo duỏi dạng những chú đích
mong muốn đổi với các chú thể khi kết thúc quá trình. Mục tìêu giáo dục nói vê
kết quả đạt được trong thục tế.
- Mục tiêu đánh giá cần phải cân cú và thống nhất với mục tìêu giáo dục. Mục tìêu


tổng quát của đánh giá cỏ thể bao gồm:
+ Xác định trình độ nhận thức, những cho thiếu hụt kiến thức (có thể có) của học
sinh trước khi bước vào một giai đoạn học tập mỏi; chẩn đoán những khò khăn các
em cồ thể gặp phải để lầp kế hoach giúp đỡ. Đáp úng mục tìêu này gọi là đánh giá
chẩn đoán (hay còn gọi là đánh giá sơ bộ).
+ Đánh giá hiện trạng chất luợng dạy và học tại một thời điểm nhất định hoặc đánh
giá sụ phát triển được diển ra vào hai thời điểm (đầu, cuối) khi mà giữa hai thời
điểm đó tiến hành một tác động sư phạm nào đỏ. Đáp ứng mục tiêu này gọi là đánh
giá quá trình.
+ Xác định kết quả, chất lương học tập sau một học kì, một năm hoặc cả cẩp học.
Đáp ứng mục tiêu này gọi là đánh giá tổng kết. Căn cứ vào tính chất của giai đoạn
giáo dục và thời điểm tiến hành hoạt động đánh giá để lựa chọn mục tiêu đánh giá
thích hợp.
Câu 3. Liệt kê các hình thức đánh giá?
- Đánh giá chẩn đoán: đuợc tiến hành trước khi dạy một nội dung nào đó, nhằm
giúp giáo viên nắm được tình hình về những kiến thức có liên quan với bài học. Từ
đó có kế hoạch dạy học phù hợp.

- Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của moi học sinh và tập
thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận
ra sự tiến bộ của mình; khuyến khích, động viên việc học tập.
- Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu
của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học.
Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh
hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều
chỉnh hoạt động dạy của thầy.
* Ý nghĩa cùa việc kiếm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đổi với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đổi với cán bộ quản lí.
- Đổi với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên, cung cấp kịp thời
những thông tin “liên hệ ngựợc" giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
+ Về giáo dưỡng: Kiểm tra, đánh giá chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều
vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết.
+ Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Kiểm tra, đánh giá giúp học sinh có điều
kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát
hoá, hệ thống hoá kiến thức, tạo điểu kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo,
linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huổng thực tế.
+ Vê mặt giáo dục: Kiểm tra, đánh giá giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm
cao trong học tập; có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn; củng cố
lòng tin vào khả năng của mình; nâng cao ý thúc tự giác; khắc phục tính
chủ quan tự mãn trong học tập.
- Đối với giáo viên: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin
“lìên hệ ngược ngoài" giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy.
- Đổi với cán bộ quản lí giáo dục: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho cán bộ
quân lí giáo dục những thông tin vê thực trạng dạy và học trong một đơn
vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc,
khuyến khích, hổ trợ những sáng kiến hay, bảo đẳm thực hiện tổt mục tìêu
giáo dục.

người học và từ đánh giá giảng dạy cùng các yếu tổ tác động đến học tập
của nó.
- Điểm/xếp loại (hạng) chúng cần phải dựa trên kết quả của chuỗi những đánh
giá quá trình.
Câu 8. Yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
trong chương trình giáo dục phổ thông
- Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân theo những nguyên
tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm
của lĩnh vực nào đó.
- Chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình môn học là yêu cầu cơ bản, tối thiểu
về kiến thúc, kỉ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau
mỗi chủ đề của chương trình môn học. chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình
môn học được trình bày theo chủ đề ở từng lớp và ở các lĩnh vực học tập. Riêng
yêu cầu về thái độ được xác định chung ở phần “Mục tìêu" đối với từng khối lớp
hoặc đối với cả cấp học.
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là thành phần của chương
trình giáo dục phổ thông nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn
kiến thức; kĩ năng sẽ tạo nên sự thống nhất, hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa


thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với Chuẩn kiến thúc, kĩ năng vào dạy
học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo
điều kiện Cơ bản, quan trong để tổ chúc dạy học, kiểm tra, đánh giá và thi theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Câu 9. Yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học.
- Yêu cầu đối mới công tác kiềm tra, đánh giá theo chuẩn kiẽn thức, kĩ năng cùa
môn học
+ Giáo viên đánh giá sát đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh
và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình;

- Về phương pháp dạy học tích cực: Nhận diện phương pháp dạy học tích cực và
cách áp dụng trong hoạt động dạy học, có nghệ thuật bồi dưỡng tình cảm húng thú
học lập cho học sinh; phát huy quan hệ thúc đẩy giữa đổi mới kiểm tra, đánh giá


với đổi mới phương pháp dạy học.
- Về đổi mới kiểm tra, đánh giá: Nhận diện về kiểm tra, đánh giá trong phương
pháp dạy học tích cực và cách áp dụng; kết hợp đánh giá của giáo viên với đánh
giá của học sinh, kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài.
- Về kĩ thuật ra đề kiểm tra, đề thi: Kĩ thuật ra đề tự luận, đề trắc nghiệm và cách
kết hợp hợp lí hình thức tự luận với hình thúc trắc nghiệm cho phù hợp với nội
dung kiểm tra và đặc trưng môn học; cách khai thác nguồn dữ liệu mới: Thư viện
câu hỏi và bài tập, ngân hàng đề kiểm tra, đề thi trên các Website chuyên môn.
- Về sử dụng sách giáo khoa: Giáo viên sử dụng sách giáo khoa và khai thác Chuẩn
kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học cho khoa học, sử dụng sách giáo
khoa trên lớp và trong kiểm tra, đánh giá cho hợp lí.
- Về ứng dụng công nghệ thông tin: ứng dụng công nghệ thông tin để sưu tầm tư
liệu, ứng dụng trong dạy học trên lớp, trong kiểm tra, đánh giá và quản lí chuyên
môn cho khoa học, tránh lạm dụng công nghệ thông tin.
- Về hướng dẫn học sinh đổi mới phương pháp học tập: Giáo viên biết tự đánh giá
và thu thập ý kiến của học sinh đổi với phuơng pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Câu 10. Những cơ sở của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích
học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá
kết quả học tập:
+ Mục tiêu của môn học là những điều học sinh cần phải đạt được sau khi học
xong môn học, bao gồm các thành tố:
- Hệ thống các kiến thức khoa học, gồm cả các phương pháp nhận thức.
- Hệ thống kĩ năng, kĩ sảo.
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.

pháp tư duy. Việc học để làm yêu cầu học toàn diện về chất, nhằm giúp
người học phát triển nhân cách hoàn chỉnh.
+ Học để chung sống nhấn mạnh mục đích đào tạo ra những con người biết
cách sống và biết cách làm việc với những người xung quanh.
+ Học để khẳng định mình nhấn mạnh đến giá trị sống: dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm trước tập thể và xã hội.
- Bốn trụ cột nói trên là định hướng cho hoạt động giáo dục ở mọi cấp, trong
đó có hoạt động đánh giá. Như vậy, ngoài các yêu cầu về sự đa dạng của
năng lực nhận thức (nhận biết, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá...),
phương pháp và nội dung đánh giá còn cần phải hứơng đến những mục
tiêu đáp ứng cả bốn trụ cột trên, có thể xem đây là những định hướng thể
hiện tính nhân bản của đánh giá học tập vì chúng hướng đến sự phát triển
toàn diện của con người. Lâu nay, hoạt động đánh giá ở mọi cấp học
thường tập trung chú yếu vào mục tiêu “học để biết", thứ yếu cho “học để
làm". Yêu cầu “học để chung sống" và “học để tự khẳng định mình" hầu
như không được đề cập tới. Điều này đã góp phần không ít vào một thực
trạng hiện nay là rất nhìêu sinh viên ở các trưững đại học học tập thụ
động, rất nhìêu sinh viên tốt nghiệp kém năng động trong môi trường làm
việc tập thể. Lực lượng lao động Việt Nam có ưu điểm là khéo léo, cần cù
chịu khó, nhưng ngược lại tinh thần họp tác trong lao động thì lại yếu. có
một thực tế hiện nay là lao động Việt Nam khi làm việc theo nhóm, tập thể,
tính hợp tác rất kém.
Tất nhiên, để đánh giá được hai mục tiêu sau, cần phải có tương ứng các
phương pháp giáo dục thích hợp. chúng ta không thể đánh giá về những
điều mà người học không đuợc trang bị. có nhìêu cách tổ chức dạy học
hướng đến sự phát triển toàn diện của người học.
Câu 12. Quy trình đánh giá là gì? Quy trình biên soạn đề kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh trung học
Quy trình đánh giá gồm những nội dung sau:
- Trình bày vấn đề và mục đích đánh gía:

- Tự đánh giá giúp cho giáo viên và học sinh đánh giá đuợc mức độ năng lực nhận
thức của học sinh. Rèn luyện tự đánh giá thậm chí ở dạng đơn giản nhất, chẳng
hạn bằng những câu hỏi như “chúng ta đã học được những gì" cũng có tác dụng
khuyến khích người học nhìn thấy rõ hơn mục tiêu học tập.
- Đẩy mạnh tính hướng đích, tạo điều kiện để người học đạt đuợc mục tiêu học
tập.
- Quá trình học tập được mô rộng thông qua việc sử dụng phương pháp tự đánh
giá, kĩ thuật đánh giá trong việc đánh giá quá trình và kết quả học tập của mình.
Người học có thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá.
- Bằng việc thực hành tự đánh giá, người học tham gia đánh giá chính bản thân họ
và chia sẻ gánh nặng đánh giá đối với giáo viên.
- Với việc thành công trong đánh giá bản thân, họ sẽ khẳng định ảnh hường tích
cực của tụ đánh giá đối với quá trình học tập của mình.
Theo AAIA (The Association for Achievement and Improvement through
Assessment - Hiệp hội vì Thành tích và cải thiện thành tích học tập thông qua đánh
giá) thì tự đánh giá là một thành tổ cơ bản chứ không phải là “thứ hàng xa xỉ"
trong dạy học. có nghĩa, nó là phuơng tiện để học sinh có trách nhiệm hơn đối với
việc học tập của chính mình.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status