ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------
PHAN DUY HIẾU
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-------------------------
PHAN DUY HIẾU
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN DŨNG
Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu. Đồng thời xin chân thành cảm ơn các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ của
Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam, chi nhánh Nam Định đã tạo điều
kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách
tốt nhất.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn vè và các đồng nghiệp đã
chia sẻ khó khăn, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài
luận văn này. Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Phan Duy Hiếu
TÓM TẮT
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trong những nhiệm
vụ hàng đầu của mỗi tổ chức, doanh nghiệp và mỗi quốc gia trên thế giới. Nguồn
nhân lực của BIDV - Chi nhánh Nam Định cũng không nằm ngoài thực trạng chung
của đất nước. Với chức năng, nhiệm vụ được giao, thời gian qua BIDV - Chi nhánh
Nam Định luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong
hoạt động Ngân hàng tăng về số lượng và chất lượng. Để có được kết quả này là sự
phấn đấu nỗ lực của tập thể cán bộ, nhân viên BIDV - Chi nhánh Nam Định, trong
đó có đội ngũ những người làm công tác tín dụng, huy động vốn, dịch vụ ... không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ chính trị
mà cấp trên giao nhằm đáp ứng tốt yêu cầu đòi hỏi vốn trong sản xuất đối với các
thành phần kinh tế hiện nay.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được trong những năm qua, đứng trước xu
2
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
3
HĐQT
Hội đồng quản trị
4
TMCP
Thương mại Cổ phần
7
DANH MỤC BẢNG
STT
Bảng
Nội dung
Trang
Hình 1
Nội dung
Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP
Trang
35
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới và tái cơ cấu lại Ngân hàng, bên cạnh việc cung cấp
những dịch vụ truyền thống, các Ngân hàng thương mại Việt Nam từng bước đổi
mới hoạt động kinh doanh theo hướng đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, ứng dụng
kỹ thuật công nghệ mang đến các sản phẩm hiện đại, gia tăng lợi ích cho khách
hàng, để thực hiện điều đó cần có các nguồn lực: vốn, khoa học - công nghệ, tài
nguyên và nguồn nhân lực. Muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, cần dựa vào ba
yếu tố cơ bản là: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và
quản lý nguồn nhân lực .
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện,
nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người. Do vậy, hơn bất cứ
nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò
quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan
trọng.Muốn phát triển nhanh và bền vững, chúng ta phải tạo dựng nguồn nhân lực
chất lượng cao và có chính sách phát huy tối đa nguồn nhân lực đó. Việc quản lý và
sử dụng đúng nguồn nhân lực là nhân tố tiên quyết cho thành công của doanh
việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực của Chi nhánh để
có những giải pháp nhằm tạo ra sự chuyển biến về chất.
Với chức năng, nhiệm vụ được giao, thời gian qua BIDV - Chi nhánh Nam
Định luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong hoạt
động Ngân hàng tăng về số lượng và chất lượng. Để có được kết quả này là sự phấn
đấu nỗ lực của tập thể cán bộ, nhân viên BIDV - Chi nhánh Nam Định, trong đó có
đội ngũ những người làm công tác tín dụng, huy động vốn, dịch vụ ... không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ chính trị mà cấp
trên giao nhằm đáp ứng tốt yêu cầu đòi hỏi vốn trong sản xuất đối với các thành
phần kinh tế hiện nay.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được trong những năm qua, đứng trước xu
thế hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực, BIDV - Chi nhánh Nam Định còn nhiều tồn
tại, bất cập, chưa thích ứng kịp thời, chưa thật sự phù hợp với cơ chế thị trường và
11
yêu cầu của xã hội. Mô hình tổ chức, công tác quản lý và cơ chế, chính sách cho
các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng chậm đổi mới, công tác dự báo chưa sát thực tế,
do đó làm cho hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn, đầu tư lớn vào một ngành
chịu rủi ro cao.
Một trong những nguyên nhân của yếu kém đó là do đội ngũ những người
làm công tác tín dụng, rủi ro còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, bản
lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát
triển đất nước, chưa sẵn sàng để bước vào hội nhập.
Thực tiễn trên đặt ra việc quản lý nguồn nhân lực ngành ngân hàng nói
chung, BIDV - Chi nhánh Nam Định nói riêng là vấn đề vừa có tính chiến lược lâu
dài, vừa có tính cấp bách trước mắt, nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động Ngân
hàng trong tình hình mới. Với mong muốn đóng góp cho hoạt động Ngân hàng
ngày càng phát triển, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý nguồn nhân lực tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Nam Định” làm luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực trong hoạt động Ngân hàng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực của BIDV - Chi nhánh Nam
Định
Chương 4: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý
nguồn nhân lực của BIDV - Chi nhánh Nam Định trong thời gian tới.
13
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực
và quản lý nguồn nhân lực có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như:
- Phạm Thanh Hà, 2010.Quản lý nguồn nhân lực quản lý nhà nước về kinh
tế ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh
tế quốc dân năm 2012. Xuất phát từ lý luận về quản lý nguồn nhân lực và đặc điểm
của nguồn nhân lực quản lý nhà nước về kinh tế, luận văn phân tích thực trạng quản
lý nguồn nhân lực quản lý nhà nước về kinh tế ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh
Bình; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
hoạt động này.
- Lê Minh Huệ, 2012.Quản lý nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia - Sự thật. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2012.
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực và vận dụng để
chuyên môn và phẩm chất đạo đức có tính chất chung nhất; nói cách khác là tiếp
cận nguồn nhân lực mang tính chất chung, tổng hợp.
Tuy nhiên, trong mỗi khâu công việc hoạt động ngân hàng như trong quan
hệ với khách hàng, hoạt động của giao dịch viên, công tác quản trị rủi ro, quản trị
tín dụng, kế hoạch tổng hợp và tổ chức hành chính thì yêu cầu về quản lý nguồn
nhân lực có những nét khác biệt khác biệt. Điều này hầu như chưa được đề cập đến
trong các công trình nghiên cứu đã công bố.
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực tại các ngân hàng thương
mại
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
* Nguồn nhân lực
Trong nhiều năm trước đây, khái niệm “lực lượng lao động” được sử dụng
rất phổ biến và có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chúng ta có một lực lượng lao
động dồi dào (do tính theo khái niệm người trong độ tuổi lao động). Tuy nhiên, vài
15
năm trở lại đây, khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa mới được sử dụng nhiều hơn.
Khái niệm này có tính chi tiết hơn đến những yếu tố nội tại bên trong của lực lượng
lao động và chính vì vậy, khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh chung với các nước
trong khu vực, với Trung Quốc, nguồn nhân lực nước ta đã và đang bộc lộ nhiều
hạn chế. Hàng năm chúng ta có hàng vạn sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong khi
đó nhiều doanh nghiệp không tìm được người đáp ứng đủ các yêu cầu để tuyển
dụng. Vì vậy, với cơ cấu, chất lượng của lực lượng lao động hiện nay, cần phải xác
định nguồn nhân lực của chúng ta như thế nào và xây dựng kế hoạch phân bổ một
cách hợp lý.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'',
một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát
triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát
triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn
tải trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn.
Từ đó, quản lý nguồn nhân lực ngân hàng thương mại được hiểu là tổng
thể các hoạt động nhằm duy trì, phát triển và sử dụng hiệu quả nhân lực để thực
hiện các nhiệm vụ của ngân hàng.
Ngân hàng là một ngành quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội, ngoài
pháp luật ra, cũng như các ngành nghề khác, nó luôn phải được điều chỉnh bởi
những tiêu chí đạo đức nghề nghiệp.
Chức năng giáo dục trong hoạt động ngân hàng là hết sức quan trọng và
chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức nghề
nghiệp cho cán bộ ngành Ngân hàng, đặc biệt đối với cán bộ tín dụng, dịch vụ. Sẽ
không có hoạt động Ngân hàng đúng đắn, lành mạnh một khi vấn đề đạo đức nghề
nghiệp không được coi trọng. Để có được sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất
lượng thì cán bộ Ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ cả về chuyên
môn, nghiệp vụ cũng như phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống.
1.2.2. Tầm quan trọng của quản lý nguồn nhân lực trong hoạt động Ngân
hàng
1.2.2.1. Đảm bảo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu hoạt động
ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
17
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự biến đổi về chất lượng nguồn
nhân lực biểu hiện qua các mặt thể lực, trình độ, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần
thiết cho những công việc theo yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp. Nhờ đó, nâng cao được năng lực của người lao động ổn định được công ăn
việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực quản lý ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng
đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và ứng dụng khoa học - công nghệ
tiên tiến trong mỗi giai đoạn phát triển.
là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy tiềm năng của con người, là phát
triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả về
năng lực thể chất lẫn năng lực tinh thần của con người, tạo dựng và ngày càng nâng
cao, hoàn thiện cả về đạo đức, năng lực chuyên môn và tay nghề từ trình độ chất
lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn.
Trong tình hình hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển
ngày càng cao làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy nhanh quá
trình toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức.
Đặc trưng nổi bật nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
là đã đưa các yếu tố thông tin, tri thức trở thành nhân tố quan trọng để tăng trưởng
kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia. Trong điều kiện ngày nay, sự vận hành
của các quan hệ kinh tế trở nên năng động, các quy trình từ khoa học, kỹ thuật,
công nghệ đến sản xuất và tiêu dùng được rút ngắn, làm tăng khả năng hội nhập,
trao đổi vốn tri thức của các quốc gia với nhau. Bất kỳ một nước đang phát triển
nào nếu biết coi trọng yếu tố "tri thức" và "thông tin" đều có thể rút ngắn được thời
gian của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nét nổi bật của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng tăng của "nguồn lực con
người". Đó là những con người có trí tuệ, có kỹ năng được đào tạo cơ bản.
Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực ngân hàng với
những yêu cầu đặt ra ngày càng cao. Yêu cầu đó được thể hiện ở các mặt:
Thứ nhất: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ ngày
càng đông đảo lao động trí tuệ có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật cao có khả năng
đảm nhiệm các chức năng nắm bắt và tiếp thu được các thông tin kiến thức khoa
19
học mới, hiện đại; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén phát hiện những diễn
biến chính trị phức tạp; năng động, sáng tạo thích ứng với cơ chế thị trường.
Thứ hai: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ đông
hoạt động sản xuất kinh doanh, nắm được nhu cầu thị trường, có khả năng tính toán
để hoạt động ngân hàng có hiệu quả. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, đây là một
hàng hóa đặc biệt, một lĩnh vực kinh doanh đặc thù.Không thể vì lợi ích kinh tế mà
bất chấp giá trị xã hội, đồng thời cũng không thể làm bừa bất chấp hiệu quả kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay, chúng ta không thể chấp nhận mẫu hình những người làm
công tác ngân hàng ngồi một chỗ thụ động đợi khách hàng mà không nắm được
nhu cầu thị hiếu của khách hàng về vốn khả năng thanh toán của xã hội và những
vấn đề nảy sinh khác. Rõ ràng chính trị và kinh tế, kinh tế và văn hoá, lợi ích kinh
tế và sự tiến bộ xã hội,... phải được kết hợp chặt chẽ, hài hoà với nhau. Đây là điều
mà những người làm công tác Ngân hàng phải luôn luôn ghi nhớ.
Thực tế hoạt động BIDV - Chi nhánh Nam Định thời gian qua đã đáp ứng
được nhu cầu thị trường trên địa bàn tỉnh Nam Định ở mức khá cao, đạt khoảng
23% nhu cầu thị trường. Đây chính là những thành quả cố gắng nỗ lực của lực
lượng cán bộ BIDV - Chi nhánh Nam Định. Song để đáp ứng và phục vụ tốt hơn
nữa nhu cầu của thị trường, BIDV - Chi nhánh Nam Định cần phải tích cực đầu tư
được những dự án đạt hiệu quả cao; rà soát, tổ chức lại nguồn nhân lực để có đội
ngũ nhân lực chủ động, sáng tạo, nhanh nhạy, tận tuỵ với công việc, say mê nghề.
1.2.2.3. Đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã nêu rõ chủ trương “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với hội
nhập kinh tế quốc tế.Kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tống hợp để
phát triển đất nước” (trích Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX).
Hiện nay toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan lôi cuốn tất cả các nước,
bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh
và tính tuỳ thuộc lẫn nhau. Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt được
những kết quả khả quan, gắn với việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi chúng
ta phải nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh
tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế.
21
mạnh mẽ đến quản lý nguồn nhân lực.
22
Thứ tư, nhóm nhân tố về nhu cầu việc làm của xã hội, “đầu ra” của nguồn
nhân lực. Nhu cầu này liên quan đến cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động,
ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ thất nghiệp.
1.2.3.2. Nhóm nhân tố liên quan đến điều kiện của ngân hàng
Sự nghiệp Ngân hàng chỉ thành công khi chúng ta biết khai thác hợp lý và sử
dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực. Song, yếu tố giữ vai trò quyết định nhất, đảm
bảo cho sự thắng lợi của quá trình đó chính là nguồn lực con người, đặc biệt là
nguồn nhân lực có chất lượng cao do đặc thù của lao động trí tuệ. Các nguồn lực
khác trong lĩnh vực Ngân hàng, xét về mặt số lượng có thể là dồi dào, nhưng nếu
khai thác và sử dụng không hợp lý thì đến một lúc nào đó sẽ trở nên cạn kiệt. Trái
lại, nguồn lực con người làm công tác Ngân hàng với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì
luôn phát triển không ngừng, đó là yếu tố cơ bản để hoạt động ngân hàng phát triển
một cách bền vững. Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các
nguồn lực khác trong hệ thống nguồn lực phục vụ cho công tác Ngân hàng nói
riêng và phát triển kinh tế tri thức nói chung. Ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được
xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người khi thực
hiện một công việc rất khó khăn và phức tạp như công tác ngân hàng.
Xác định được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ công chức, đối với đội
ngũ cán bộ làm công tác Ngân hàng, cũng như các ngành khác việc đào tạo, bồi
dưỡng có vai trò quan trọng đặc biệt, bởi vì:
- Trong hoàn cảnh nền kinh tế quốc dân phát triển cả về số lượng và chất
lượng, khoa học - công nghệ ngày càng phát triển cao, hoạt động Ngân hàng đã,
đang và sẽ phát triển một cách đa dạng và phức tạp, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ
làm công tác Ngân hàng ngày càng nặng nề.
- Việc thực hiện theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
quan trọng. Điều này có liên quan đến tất cả các khâu từ tuyển dụng, đến sử dụng,
đánh giá, sắp xếp, đề bạt khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ trong cơ quan.
Trong tổ chức quản lý cần quan tâm đến những vấn đề cụ thể sau đây:
- Tuyển dụng và sắp xếp cán bộ thực hiện những nghiệp vụ phù hợp với
trình độ, năng lực, đảm bảo cho cán bộ, viên chức phát huy hết khả năng và sở
trường, hăng say công tác
- Xây dựng được hệ thống dữ liệu để thực hiện nhiệm vụ quản lý cán bộ,
gắn quyền hạn với trách nhiệm hành chính và vật chất của cán bộ trên từng vị trí
công tác…
24
- Xây dựng được quy định, quy chế, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, các
quy định về đánh giá chất lượng hoạt động của nguồn nhân lực để nhận xét đánh
giá cán bộ, viên chức tạo tiền đề và là cơ sở cho việc bố trí, sử dụng cán bộ, viên
chức một cách phù hợp.
- Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng và đạo đức nghề nghiệp
của nguồn nhân lực, có các hình thức khen thưởng và kỷ luật cán bộ nhằm điều
chỉnh hoạt động của cán bộ trong tổ chức
1.2.3.4. Các nhân tố liên quan đến ý thức của bản thân cán bộ
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu mới
đối với cán bộ hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng khác hẳn so với trước đây. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã đề ra những
yêu cầu chung cho đội ngũ cán bộ ở nước ta trong thời kỳ mới là:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng.Có ý thức tổ chức
kỷ luật, không cơ hội.