LỜI CẢM ƠN
Để đạt được sự thành công cần phải luôn nỗ lực học hỏi và trau dồi vốn
kiến thức cũng như kinh nghiệm sống. Trên thực tế dù có nỗ lực đến đâu mà
không có không có sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp
của những người thầy, người cô thì không thể thành công. Trong suốt thời gian
từ khi em bắt đầu học ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu
sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô Khoa Văn thư - Lưu trữ,
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để
truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng e trong suốt thời gian học tập tại
Trường. Và đặc biệt trong kì học này, Khoa đã tổ chức cho chúng em học và tiếp
cận với môn học rất hữu ích đối với sinh viên ngành Lưu trữ học nói riêng và
lĩnh vực Văn thư - Lưu trữ nói chung. Đó là môn học “Tiêu chuẩn hóa và tổ
chức khoa học lao động trong công tác Văn thư - Lưu trữ” do cô Ths. Ngô Thị
Kiều Oanh giảng dạy và hướng dẫn tận tình chúng em qua từng buổi học trên
lớp cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về lĩnh vực trên. Nhờ những tâm
huyết giảng dạy cũng như những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô đã giúp em hoàn
thành bài tiểu luận này. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô. Do thời gian
nghiên cứu còn hạn chế, nên khó tránh khỏi được những thiếu xót là điều chắn
chắn, em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và
các bạn cùng lớp.
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài tiểu luận này là hoàn toàn do em tự nghiên cứu qua
quá trình học trên lớp cũng như nghiên cứu thực trạng công tác tiêu chuẩn trong
công tác văn thư - lưu trữ ở Việt Nam, chưa được công bố trên mọi hình thức.
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào trong bài tiểu luận em xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
09 tiêu chuẩn ngành; đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ công bố 03 tiêu chuẩn
quốc gia liên quan đến hoạt động lưu trữ.
Tuy nhiên, hoạt động xây dựng tiêu chuẩn về lưu trữ của Cục Văn thư và
Lưu trữ nhà nước thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như: Một là, mới chỉ tập
trung xây dựng tiêu chuẩn (mang tính khuyến khích áp dụng). Hai là, nội dung
4
của tiêu chuẩn được xây dựng chủ yếu tập trung vào các mẫu sổ sách và trang
thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ hành chính, chưa chú trọng đến các loại hình tài
liệu lưu trữ khác như tài liệu nghe nhìn, tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu điện
tử... Ba là, chưa thường xuyên thực hiện việc soát xét các tiêu chuẩn đã ban
hành để sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn…
Xuất phát từ tình hình trên, với mong muốn góp phần đẩy mạnh hoạt động
tiêu chuẩn hóa trong công tác Văn thư - Lưu trữ, em đã lựa chọn Đề tài “Tìm
hiểu các tiêu chuẩn của Việt Nam đã ban hành về công tác văn thư - lưu trữ.
Đánh giá việc xây dựng và đưa ra đề xuất”.
2. Mục đích và nhiệm vụ của Đề tài
Bài tập của em hướng tới hai mục tiêu cơ bản sau đây:
- Một là, đánh giá tình hình xây dựng tiêu chuẩn của Việt Nam về công
tác văn thư lưu trữ.
- Hai là, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xây dựng
tiêu chuẩn về công tác văn thư - lưu trữ ở Việt Nam
Để thực hiện các mục tiêu trên, Luận văn của chúng tôi đặt ra và giải
quyết những nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu tổng quan về tiêu chuẩn; phân tích vai trò của việc xây dựng
tiêuchuẩn đối với công tác văn thư - lưu trữ.
- Các tiêu chuẩn của Việt Nam về văn thư - lưu trữ
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xây
dựngtiêu chuẩn ngành văn thư - lưu trữ Việt Nam.
Phương pháp phân tích
-
Phương pháp so sánh
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài tiểu luận của em gồm 3 chương:
Chương 1: Vai trò của việc xây dựng tiêu chuẩn đối với công tác Văn
thư -Lưu trữ.
Chương 2: Các tiêu chuẩn Việt Nam về Văn thư - Lưu trữ.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng tiêu chuẩn trong
công tác Văn thư - Lưu trữ.
6
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA VIỆC XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ
1.1. Một số khái niệm cơ bản trong tiểu chuẩn:
Tiêu chuẩn là quy định đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng để phân
loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa dịch vụ, quá trình, môi trường và đối tượng
khác trong hoạt động KT-XH nhằm nâng cao chất lượng của các đối tượng này.
a, Tiêu chuẩn Quốc tế:
Là tiêu chuẩn do một tổ chức quốc tế hoặc một tổ chức Quốc tế hoạt động
trong một lĩnh vực tiêu chuẩn công bố.
b, Tiêu chuẩn khu vực:
Là tổ chức do tổ chức tiêu chuẩn khu vực hoặc tiểu chuẩn tổ chức khu vực
có hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn công bố.
lệ về công tác tiêu chuẩn hóa ban hành kèm theo Nghị định 141-HĐBT ngày 24
tháng 8 năm 1982, đó là “Công tác tiêu chuẩn hóa bao gồm việc xây dựng và áp
dụng tiêu chuẩn được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa
học, kỹ thuật và áp dụng kinh nghiệm tiên tiến nhằm đưa các hoạt động sản xuất
kinh doanh vào nền nếp và đạt được hiệu quả cao”.
Từ những năm đầu mới thành lập, Cục Lưu trữ đã nhận thức được tầm
quan trọng của công tác tiêu chuẩn hóa trong công tác văn thư và lưu trữ. Năm
1986, Cục Lưu trữ Nhà nước đã xây dựng định hướng công tác tiêu chuẩn hóa
đến năm 2000. Ngoài ra, trong giai đoạn này, hàng năm, Cục đều có kế hoạch
triển khai công tác tiêu chuẩn hóa. Những tiêu chuẩn đã xây dựng và ban hành
đều nằm trong định hướng về công tác tiêu chuẩn hóa.
Là công cụ để Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về công tác văn thư - lưu trữ, nhằm góp phần đồng bộ hóa hoạt động
văn thư - lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến phương. Do đó, việc
áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật là thước đo đánh giá sự tuân thủ pháp luật của
các cơ quan, tổ chức trong hoạt động lưu trữ.
Tạo sự thống nhất chung về nghiệp vụ, thuận lợi cho việc trao đổi thông
tin: văn thư - lưu trữ là một hoạt động xã hội gắn liền với hoạt động của các cơ
quan tổ chức. Tuy nhiên, đây là hoạt động mang tính đặc thù nên không phải ai
cũng hiểu về tính chất công việc này, các thuật ngữ cũng như các hoạt động
8
nghiệp vụ của công tác văn thư - lưu trữ. Do đó, các tiêu chuẩn về định nghĩa
các thuật ngữ không những giúp chúng ta hiểu hơn và hiểu thống nhất hơn về
từng nghiệp vụ của công tác văn thư - lưu trữ. Chúng ta có thể vận dụng các tiêu
chuẩn này để phục vụ cho việc biên soạn các văn bản quy phạm pháp luật và
văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ văn thư - lưu trữ, biên soạn các sách giáo trình,
sách chuyên khảo, hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ văn thư - lưu trữ.
Các tiêu chuẩn liên quan đến các yêu cầu, thao tác, quy trình thực hiện
Thuật ngữ về con người: Người làm Văn thư, người làm lưu trữ,…
Năm 1992, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường đã ban hành tiêu
chuẩn cấp Nhà nước TCVN-5700- 1992 về “văn bản quản lý nhà nước - Mẫu
trình bày. Kèm theo quyết định số 228/QĐ-BKHCNMT quy định mẫu trình bày
cho tất cả các văn bản quản lý nhà nước như văn bản quy phạm pháp luật, văn
bản hành chính, chất lượng giấy, kích thước giấy, phạm vi trình bày, cách đánh
số trang, thể thức văn bản”.
Tuy nhiên, từ những năm 1970, vấn đề tiêu chuẩn hóa một số văn bản
quản lý nhà nước đã được một số cán bộ công tác tại Cục Lưu trữ bước đầu
nghiên cứu. vấn đề này tiếp tục được nghiên cứu trong các đề tài của những năm
tiếp theo như: Đề tài “Tiêu chuẩn mẫu văn bản quản lý Nhà nước - mẫu trình
bày” do ông Hồ Văn Quýnh làm chủ nhiệm, năm 1992; Đề tài “Nghiên cứu mẫu
văn bản quản lý hành chính - mẫu các quyết định”, mã số 05-89 do ông Nguyễn
10
Hữu Thời làm chủ nhiệm đề tài, năm 1998-1999 và Chương trình “Nghiên cứu
chuẩn hóa văn bản quản lý nhà nước”, chủ nhiệm đề tài là ông Dương Văn
Khảm, mã số 2002:98-05, nam 2002-2006.
Năm 2002, TCVN-5700-1992 về “Văn bản quản lý Nhà nước - mẫu trình
bày” được soát xét lần 1 và được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 5700:2002 Văn bản quản lý nhà nước (mẫu trình bày)
theo Quyết định 20/2002/QĐ-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2002.
Năm 2011, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 01 quy định đầy đủ giống như
Quyết định số 228/QĐ-BKHCNMT.
2.2. Về trang thiết bị
Các trang thiết bị dùng trong công tác văn thư lưu trữ gồm có: Con dấu,sổ
đăng kí văn bản, bìa hồ sơ, hộp, giá tủ đựng tài liệu, kho lưu trữ, trang thiết bị
bảo quản trong công tác văn thư lưu trữ (cặp, hộp đựng tài liệu, điều hòa nhiệt
độ, máy hút bụi…).
liệu lưu trữ.
2.3. Quy trình nghiệp vụ
2.3.1. Đôi với quy trình nghiệp vụ trong công tác văn thư:
+ Soạn thảo và ban hành văn bản
+ Tổ chức, quản lý văn bản đi, đến
+ Lập hồ sơ
+ Quản lý và sử dụng con dấu
Trong công tác văn thư, Cục Lưu trữ Nhà nước đã xây dựng và ban hành
một số tiêu chuẩn ngành cần thiết như tiêu chuẩn về bìa hồ sơ, sổ đăng ký công
văn đi - đến.
Về tiêu chuẩn ngành Bìa hồ sơ: Tiêu chuẩn cấp ngành TCN 2-1992 “Mầu
trình bày bìa hồ sơ tài liệu quản lý nhà nước” được ban hành bởi Quyết định số
42/QĐ-KHKT ngày 08 tháng 6 năm 1992 của Cục Lưu trữ Nhà nước. Những
nội dung của tiêu chuẩn cấp ngành này được kế thừa từ kết quả nghiên cứu đề
tài tiêu chuẩn “Mầu bìa hồ sơ tài liệu lưu trữ quản lý hành chính” của chủ nhiệm
Mai Thị Loan từ năm 1988.
Năm 2002, Cục trưởng Cục Lưu trữ Nhà nước đã có Quyết định số
62/QĐ-LTNN ngày 07 tháng 5 năm 2002 ban hành Tiêu chuẩn cấp ngành
TCN01-2002 Bìa hồ sơ thay thế TCN 02-1992.
12
Về tiêu chuẩn sổ đăng ký văn bản đi - đến: Từ năm 1985, Cục Lưu trữ
Nhà nước đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền biên soạn tiêu chuẩn cấp
ngành như: Mầu sổ công văn đi - đến và sổ công văn mật. Năm 1992, Cục Lưu
trữ Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn ngành sổ đăng ký công
văn đi - đến loại thường và mật (mẫu trình bày). Kế thừa từ những kết quả
nghiên cứu đó, năm 1997, Cục Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Tiêu chuẩn ngành
TCN 06-1997 “Sổ đăng ký văn bản đi - đến”.
2.3.2. Quy trình nghiệp vụ trong công tác lưu trữ .
tác văn thư.
- Nắm được nội dung và nghiệp vụ công tác văn thư thuộc phạm vi được
phân công quản lý.
- Nắm được tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, vị trí và mối quan hệ
của cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước.
- Nắm được thủ tục quản lý hành chính Nhà nước.
- Hiểu rõ những đặc điểm của các đối tượng quản lý.
- Biết triển khai các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ văn thư theo sự hướng
dẫn của chuyên viên văn thư.
- Biết sử dụng máy vi tính và các phương tiện, thiết bị chuyên dùng trong
công tác văn thư và văn phòng.
Yêu cầu trình độ:
- Tốt nghiệp trung học văn thư - lưu trữ và đã qua thời gian tập sự (nếu là
trung cấp khác thì phải qua bồi dưỡng nghiệp vụ đạt trình độ tương đương với
trung cấp văn thư - lưu trữ).
- Qua đào tạo lớp tin học ngắn hạn theo chương trình của Bộ Giáo dục và
đào tạo và của Cục Lưu trữ Nhà nước.
- Qua lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước ngắn hạn.
* Chuyên viên văn thư.
14
Hiểu biết:
- Nắm được đường lối, chính sách của Đảng và các văn bản pháp quy của
Nhà nước, nắm chắc phương hướng, chủ trương phát triển nghiệp vụ của ngành,
của cơ quan về công tác văn thư.
- Nắm được kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ công tác văn thư.
- Hiểu được đặc điểm của các đối tượng quản lý thuộc phạm vi mình phụ
trách.
- Thành thạo việc xây dựng đề án, phương án quản lý nghiệp vụ văn thư
và thủ tục hành chính Nhà nước; có khả năng soạn thảo văn bản.
- Nắm được khoa học quản lý và tổ chức lao động trong quản lý.
- Am hiểu sâu về tổ chức cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức đoàn thể
nhân dân, xã hội.
- Am hiểu tình hình và xu thế phát triển công tác văn thư trong nước và
thế giới.
- Có năng lực nghiên cứu đề xuất cải tiến công tác văn thư.
- Có trình độ tổng hợp nhanh, thông thạo việc tổ chức chỉ đạo, triển khai
nghiệp vụ, tổ chức kiểm tra, có năng lực hợp tác giữa các cơ quan và cá nhân
trong công tác quản lý.
Yêu cầu trình độ:
- Tốt nghiệp đại học lưu trữ lịch sử trở lên, có thâm niên ngạch chuyên
viên văn thư tối thiểu là 9 năm.
- Qua khoá đào tạo quản lý hành chính Nhà nước ngạch chuyên viên
chính.
- Có công trình khoa học hoặc đề án sáng tạo về văn thư, lưu trữ được Hội
đồng khoa học cấp ngành nghiệm thu.
* Chuyên viên cao cấp văn thư
Hiểu biết:
- Nắm chắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, quy chế của ngành về công tác văn thư và các nghiệp vụ liên quan.
- Nắm vững hệ thống lý luận và thực tiễn công tác văn thư, am hiểu về
các chuyên môn nghiệp vụ liên quan.
- Có kiến thức sâu rộng về nghiệp vụ quản lý công tác văn thư nói chung
và lĩnh vực nghiệp vụ được giao.
16
- Có nhiều kinh nghiệm về tổ chức quản lý và xử lý nghiệp vụ, nắm vững
Yêu cầu trình độ:
- Tốt nghiệp trung cấp văn thư - lưu trữ qua thời gian tập sự.
(Nếu là trung cấp khác có liên quan thì phải qua một lớp bồi dưỡng về
nghiệp vụ đạt trình độ tương đương với trung cấp văn thư - lưu trữ).
- Qua lớp tin học ngắn hạn của Bộ Giáo dục và đào tạo, của Cục Lưu trữ
Nhà nước.
- Qua lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ hành chính theo chương trình cho cán
sự.
* Chuyên viên lưu trữ
Hiểu biết:
- Nắm được đường lối, chính sách của Đảng, các qui định của Nhà nước,
của ngành, của cơ quan, đơn vị về công tác lưu trữ.
- Nắm được kiến thức cơ bản về nghiệp vụ công tác lưu trữ.
- Nắm được các đặc điểm của đối tượng quản lý thuộc phạm vị phụ trách.
- Biết xây dựng các phương án, kế hoạch, các thể loại quyết định cụ thể
của quản lý và thông hiểu nguyên tắc thủ tục hành chính của Nhà nước, có năng
lực soạn thảo văn bản.
- Nắm được những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý, biết tổ chức lao
động khoa học trong quản lý lưu trữ.
- Có kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới.
- Biết phương pháp nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất cải tiến nghiệp vụ
quản lý lưu trữ; nắm được xu thế phát triển của công tác lưu trữ trong nước và
thế giới.
- Biết tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, phương pháp kiểm tra và có khả năng
phối hợp tốt với các yếu tố liên quan để triển khai công việc có hiệu quả. Có khả
năng độc lập tổ chức làm việc.
- Sử dụng được máy vi tính và các thiết bị chuyên dùng trong công tác lưu
trữ.
viên tối thiểu là 9 năm.
- Qua khoá đào tạo nghiệp vụ hành chính ngạch chuyên viên chính.
- Biết ngoại ngữ trình độ B (nghe hiểu, đọc, nói thông thường). Có công
trình khoa học hoặc đề án sáng tạo về lưu trữ được Hội đồng khoa học cấp
ngành nghiệm thu.
19
* Chuyên viên cao cấp lưu trữ
Hiểu biết:
- Nắm chắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước và quy chế của ngành về công tác lưu trữ và các nghiệp vụ liên quan.
Nắm vững hệ thống lý luận và thực tiễn của công tác lưu trữ, am hiểu về
các chuyên môn nghiệp vụ liên quan.
- Nắm vững kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới.
- Có kiến thức sâu, rộng về nghiệp vụ quản lý công tác lưu trữ, về lĩnh
vực nghiệp vụ được giao phụ trách. Có nhiều kinh nghiệm và sáng tạo về tổ
chức quản lý và xử lý nghiệp vụ, nắm vững các mục tiêu phát triển ngành và đối
tượng quản lý.
- Am hiểu rộng về sự phát triển của công tác lưu trữ ở trong nước và trên
thế giới và các lĩnh vực liên quan đến công tác lưu trữ.
- Có năng lực nghiên cứu khoa học, tổ chức chỉ đạo ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật nhằm cải tiến hệ thống quản lý nghiệp vụ công tác lưu trữ.
Yêu cầu trình độ:
- Tốt nghiệp đại học lưu trữ lịch sử trở lên, có thâm niên ở ngạch chuyên
viên chính tối thiểu là 6 năm.
- Qua khoá đào tạo nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước ngạch chuyên
viên cao cấp.
- Chính trị cao cấp.
- Biết ít nhất 1 ngoại ngữ trình độ C (nghe hiểu, đọc, nói thông thạo).
21
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG TIÊU
CHUẨN TRONG CÔNG TÁC VĂN THƯ - LƯU TRỮ
3.1. Nhận xét, đánh giá.
3.1.1. Ưu điểm:
Những năm 80, cùng với sự ra đời của Điều lệ về công tác tiêu chuẩn hóa,
hoạt động tiêu chuẩn hóa đã được triển khai trong hoạt động của Cục Lưu trữ
Nhà nước. Do tính chất của công tác văn thư - lưu trữ nên việc xây dựng và ban
hành các tiêu chuẩn về nghiệp vụ văn thư - lưu trữ có phạm vi áp dụng đối với
mọi cơ quan, tổ chức. Vì thế, tiêu chuẩn hóa trong công tác văn thư - lưu trữ đòi
hỏi sự phối hợp, tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức để tiêu chuẩn văn thư - lưu
trữ khi ban hành có hiệu quả áp dụng cao. Trong quá trình thực hiện tiêu chuẩn
hóa về văn thư, lưu trữ, Cục Lưu trữ Nhà nước đã phối họp với nhiều cơ quan,
tổ chức như: Văn phòng Chính phủ, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (Bộ
Khoa học và Công nghệ), Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, Trung
tâm Lưu trữ các tỉnh, Phòng Hành chính, Phòng Lưu trữ các cơ quan, các cơ sở
sản xuất… trong việc khảo sát, nghiên cứu xây dựng và ban hành tiêu chuẩn.
Trong phạm vi của Cục, hoạt động này được triển khai nghiên cứu, xây
dựng với sự phối hợp, tham gia giữa các phòng chức năng và các đơn vị sự
nghiệp thuộc Cục như các Trung tâm Lưu trữ quốc gia, Phòng nghiệp vụ Văn
thư - Lưu trữ trung ương, Phòng nghiệp vụ Văn thư - Lưu trữ địa phương, Trung
tâm Khoa học và Công nghệ văn thư, lưu trữ…
3.1.2. Hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tiêu chuẩn hóa trong công
tác văn thư, lưu trữ còn có những hạn chế, đó là:
- Hoạt động tiêu chuẩn hóa trong công tác văn thư, lưu trữ từ năm 2002
trở lại đây chưa được sự quan tâm. Sau khi ban hành tiêu chuẩn ngành Hộp bảo
- Nhiều tiêu chuẩn chưa được soát xét, điều chỉnh cho phù hợp với tình
hình thực tế. Sau khi các tiêu chuẩn được ban hành và áp dụng trong thực tế,
Cục hầu như chưa tổ chức đánh giá, tổng kết việc áp dụng tiêu chuẩn tại các
Trung tâm Lưu trữ quốc gia, Lưu trữ các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa
phương. Vì thế, những ý kiến về hiệu quả cũng như khuyết điểm của tiêu chuẩn
chưa được phản hồi lại đon vị xây dựng tiêu chuẩn để kịp thời điều chỉnh.
23
3.2. Đề xuất các giải pháp:
Tiêu chuẩn hóa trong công tác văn thư, lưu trữ trong thời gian qua đã đạt
được kết quả nhất định và có phạm vi áp dụng rộng rãi trong công tác văn thư,
lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức. Trong thời gian tới, để nâng cao hoạt động tiêu
chuẩn hóa về văn thư, lưu trữ cần thực hiện một số giải pháp:
-
Xây dựng định hướng chiến lược về hoạt động tiêu chuẩn hóa văn thư, lưu trữ
và có lộ trình thực hiện, nhân lực, kinh phí phù họp. Trong đó, thực hiện tiêu
chuẩn hóa đối với các loại hình tài liệu lưu trữ khoa học kỹ thuật, phim, ảnh, ghi
-
âm, tài liệu điện tử; tiêu chuẩn về thuật ngữ trong công tác văn thư, lưu trữ.
Đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm cho công tác nghiên
cứu, xây dựng tiêu chuẩn, cần dành một khoản kinh phí thường xuyên cho việc
tiêu chuẩn hóa và đưa việc tiêu chuẩn hóa là nhiệm vụ thường xuyên trong hoạt
-
Thực sự mà nói khi chưa thực hiện nghiên cứu đề tài em thấy hơi khó
hình dung, khó hiểu về tài nhưng khi nghiên cứu lại kĩ lưỡng bài giảng của cô
những như tham khảo nhiều tài liệu em đã hoàn thành tốt bài tiểu luận của mình.
Với đề tài này không đến nỗi khó như câu thứ 3 của đoạn văn như em thấy câu
nói này thật ý nghĩa khiến lòng quyết tâm của em cũng như mọi thế hệ người
dân Việt nam có thêm tinh thần quyết tâm.
Với vốn kiến thức còn hạn chế, trong công việc còn gặp phải một số khó
khăn vướng mắc. Vì vậy bài báo cáo của em vẫn còn những thiếu sót, em rất
mong thầy cô và các bạn tham gia đóng góp ý kiến để bài báo cáo của em hoàn
thiện hơn.
Một lần nữa em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ và dạy bảo tận tình của
các thầy (cô) trong Trường, các thầy (cô) trong khoa Văn thư - Lưu trữ, với tấm
lòng yêu trò, yêu nghề, thầy cô đã giảng dạy truyền đạt những kiến thức cơ bản
về chuyên môn nghiệp vụ tạo nền tảng cho chúng em trên con đường lập nghiệp
25