ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHAN PHƢƠNG HUỆ
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHAN PHƢƠNG HUỆ
NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Thiên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ...................................................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU .............................................................................. vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ .......................................................................... vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ........................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu .............................................. 3
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn ................................................................... 3
5. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN
LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ .............. 5
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 5
1.1.1. Lý luận về chính quyền cơ sở và cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ........ 5
1.1.2. Lý luận về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền
cơ sở ................................................................................................... 11
1.1.3. Nội dung đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt
chính quyền cơ sở ............................................................................... 16
1.1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ
chủ chốt chính quyền cơ sở ................................................................ 32
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 41
1.2.1. Kinh nghiệm trong nƣớc ...................................................................... 41
1.2.2. Những bài học đối với nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán
Hùng, tỉnh Phú Thọ ............................................................................... 59
3.2.3.Thực trạng năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính
quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ ................................... 64
3.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ (xem phần III
phụ lục 02,03, 04) .................................................................................. 83
3.4. Đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền
cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ ................................................. 85
3.4.1. Ƣu điểm .............................................................................................. 85
3.4.2. Hạn chế .............................................................................................. 86
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế về năng lực quản lý đội ngũ cán
bộ chủ chốt chính quyền cơ sở.............................................................. 87
3.4.4. Đánh giá chung về thực trạng năng lực quản lý của cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở ở tỉnh Phú Thọ ................................................. 89
v
Chƣơng 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ CỦA HUYỆN
ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ ................................................................... 91
4.1. Cơ sở để đƣa ra giải pháp nâng cao năng lực quản lý đội ngũ cán bộ
chủ chốt chính quyền cơ sở trong giai đoạn hiện nay ............................ 91
4.1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và một số quan điểm, chủ trƣơng của Đảng
về công tác cán bộ ................................................................................ 91
4.1.2. Những mục tiêu, yêu cầu để nâng cao năng lực quản lý đội ngũ
cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ....................................................... 93
4.2. Mục tiêu, định hƣớng của huyện Đoan Hùng về nâng cao năng lực
đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở .......................................... 95
4.2.1. Mục tiêu chung ................................................................................... 95
Bảng 3.5. Trình độ Quản lý nhà nƣớc đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở ..... 61
Bảng 3.6. Năng lực quản lý cơ bản của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở(Do
cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở tự đánh giá) n = 60 ......................... 64
Bảng 3.7. Năng lực quản lý cơ bản của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở (Do
cán bộ cấp huyện đánh giá) n = 30 ........................................................ 65
Bảng 3.8. Năng lực quản lý cơ bản của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở(Do
công chức cấp xã đánh giá) n = 42 ....................................................... 66
Bảng 3.9. Năng lực quản lý chuyên biệt của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ
sở(Do cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở tự đánh giá) n= 60 ............... 69
Bảng 3.10. Năng lực quản lý chuyên biệt của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ
sở(Do cán bộ cấp huyện đánh giá) n = 30 ............................................. 71
Bảng 3.11. Năng lực quản lý chuyên biệt của cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở
(Do công chức cấp xã đánh giá) n = 42 ................................................. 73
Bảng 3.12. Đánh giá năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã theo các tiêu
chí đánh giá năng lực quản lý(Do cán bộ chủ chốt cơ sở, cán bộ cấp
huyện và công chức xã đánh giá) n = 132 ............................................. 76
Bảng 3.13. Nhóm tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ ở mức độ
rất cần thiết gồm 04 tiêu chí: ................................................................. 78
Bảng 3.14. Nhóm tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ ở mức độ
cần thiết gồm 07tiêu chí: ....................................................................... 78
Bảng 3.15. Mức độ đáp ứng năng lực quản lý cơ bản(Do cán bộ chủ chốt cơ
sở, cán bộ cấp huyện và công chức xã đánh giá)n =132 ........................ 80
Bảng 3.16. Mức độ đáp ứng năng lực quản lý chuyên biệt(Do cán bộ chủ chốt
cơ sở, cán bộ cấp huyện và công chức xã đánh giá) n =1 ...................... 81
Bảng 3.17. Một số yếu tố ảnh hƣởng năng lực quản lý(Do cán bộ chủ chốt cơ
sở, cán bộ cấp huyện và công chức xã đánh giá) n = 132 ...................... 84
đặc biệt là qua công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở
cơ sở, đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở đang bộc lộ những hạn chế và bất
cập về một số mặt, nhất là về công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện vận động
quần chúng.
Vì vậy, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phải nỗ lực rèn luyện, tu dƣỡng để
không ngừng nâng cao chất đạo đức, năng lực thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hiện nay.
Bác Hồ đã từng nói, để khắc phục những căn bệnh trong nội bộ chính quyền cơ sở,
thì nhân tố có ý nghĩa quyết định hàng đầu là khâu cán bộ, “cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”, “công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
Nhƣ vậy, nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở
là một yêu cầu, đồng thời là nhiệm vụ thƣờng xuyên, liên tục mang tính lịch sử kế
thừa xuất phát từ thực tiễn.
Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang. Diện tích tự
nhiên của huyện Đoan Hùng là 30.261.730 ha. Dân số tính đến tháng 6/2015 là
106.801 ngƣời. Huyện có 28 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 5 xã đặc biệt khó
khăn Quyết định 447/QĐ-UBDT ngày 19/9/2013 công nhận thôn đặc biệt khó khăn,
xã khu vực I, II, III vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2012-2015. Những năm gần
đây dƣới sự lãnh đạo của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện sự nỗ lực phấn đấu
của chính quyền cơ sở đời sống nhân dân từng bƣớc đƣợc cải thiện, tình hình an
ninh, quốc phòng đƣợc ổn định, vai trò quản lý của chính quyền cơ sở ngày một
2
nâng cao. Trên thực tế, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng hàng
ngày phải giải quyết một khối lƣợng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên
quan đến tất cả mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng; Vì vậy, nếu đội ngũ này thiếu năng lực quản lý và phẩm chất sẽ gây
những hậu quả tức thời và nghiêm trọng về nhiều mặt cho địa phƣơng nói riêng và
cho cả nƣớc nói chung.
3
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, bao gồm những cán bộ có
chức vụ là: Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND của các xã, thị trấn huyện Đoan
Hùng, tỉnh Phú Thọ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu,
tác giả chỉ nghiên cứu, khảo sát năng lực quản lý của những cán bộ chủ chốt thuộc
lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nƣớc.
- Giới hạn về không gian: Luận văn xây dựng luận cứ nghiên cứu về thực
trạng năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở trên địa bàn
28 xã trên địa bàn huyện.
- Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu thực tiễn liên quan đến năng lực quản
lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú
Thọ từ năm 2009 trở lại đây (từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số
92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính
sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời hoạt động
không chuyên trách ở cấp xã).
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa và bổ sung, góp phần làm sáng tỏ thêm
một số vấn đề lý luận liên quan đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt
chính quyền cơ sở, chỉ ra đƣợc 2 nhóm năng lực của đội ngũ này gồm nhóm năng
lực quản lý cơ bản (năng lực chung) và nhóm năng lực quản lý chuyên biệt với 8
năng lực cụ thể.
Về thực tiễn: Luận văn chỉ rõ đƣợc thực trạng năng lực quản lý của đội ngũ
cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở thông qua hoạt động của đội ngũ này , chỉ ra
đƣợc những yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt
chính quyền cơ sở huyê ̣n Đoan Hùng . Kết quả nghiên cứu nâng cao năng lực quản
có địa giới hành chính nhỏ nhất, vì vậy chính quyền cấp xã, phƣờng, thị trấn còn
đƣợc gọi là chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh:
trung ƣơng, tỉnh, huyện, cơ sở. Chính quyền cơ sở gồm: xã, phƣờng, thị trấn. Tổ
chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,
không có các cơ quan tổ chức chuyên môn nhƣ phòng (có công chức cấp xã).
Chính quyền cơ sở (xã, phƣờng, thị trấn - gọi chung là cấp xã) là cấp hành
chính trực tiếp quan hệ với nhân dân trong hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính
nhà nƣớc, là cấp trực tiếp thực hiện quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng có chức năng
quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo Hiến pháp và pháp luật, là
nơi trực tiếp thực hiện đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc,
nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
Chính quyền cấp cơ sở Việt Nam bao gồm:
- Xã (cho vùng nông thôn).
- Phƣờng (cho vùng thành phố, thị xã).
- Thị trấn (trung tâm của huyện).
Chính vì vậy, chính quyền cơ sở có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc với nhân
dân, ở ngay trong nhân dân. Những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức năng
của chính quyền cấp xã giải quyết trực tiếp liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của
ngƣời dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là nền tảng của
hành chính. Cấp xã làm đƣợc việc thì mọi công việc đều xong xuôi [16, tr.371 ]".
Công việc hàng ngày của chính quyền là công việc của nhân dân và công việc của
nhân dân cũng chính là công việc của chính quyền. Cán bộ, công chức cấp xã hàng
ngày sinh hoạt cùng với nhân dân, mà còn có những mối quan hệ gia tộc, làng xóm
lâu đời, với những ràng buộc về truyền thống, phong tục, tập quán.
- Theo quy định của pháp luật, tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở có Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, không có các cơ quan tổ chức chuyên môn nhƣ
phòng ban mà có cán bộ, công chức giúp việc. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội ‟‟ [25, tr 2].
Tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về chức
danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng,
thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì: Cán bộ cấp xã
có các chức vụ sau đây:
“- Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy;
7
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phƣờng, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [28, tr 2].
Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở:
Từ trƣớc đến nay trong công tác cán bộ, trong các văn bản, Nghị quyết đề
cập đến rất nhiều khái niệm cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chƣa có
một quan niệm thống nhất và những tiêu chí cụ thể để xác định trong bộ máy tổ
chức của một cấp thì những ai đƣợc gọi là cán bộ chủ chốt và ai không phải là cán
bộ chủ chốt.
Có ngƣời cho rằng, cán bộ chủ chốt bao gồm toàn bộ cán bộ ủy viên thƣờng
vụ và ban chấp hành tổ chức đảng, thƣờng trực của bộ máy chính quyền và ủy viên
Ban chấp hành các đoàn thể. Có ngƣời lại quan niệm cán bộ chủ chốt là ngƣời đứng
đầu quan trọng nhất... Nhƣ vậy, theo tác giả: Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là
những ngƣời đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong tập thể, có quyền
ra những quyết định về chủ trƣơng, có trách nhiệm về quyền điều hành một tập thể,
năng lực, phẩm chất và yên tâm đáp ứng yêu cầu công việc
Với tƣ cách quản lý, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phải điều hành công
việc mang tính chất thƣờng xuyên, hàng ngày.
Vị trí, vai trò và tiêu chuẩn cán bộ chính quyền cơ sở
Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng
cán bộ và công tác cán bộ, Ngƣời cho rằng "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"
“Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [16, tr 269 - 240]
. Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đƣờng lối sẽ đúng đắn và
là điều kiện tiên quyết để đƣa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Không có đội
ngũ cán bộ tốt thì dù có đƣờng lối chính sách đúng cũng khó có thể biến thành
hiện thực đƣợc. Muốn biến đƣờng lối thành hiện thực, cần phải có con ngƣời sử
dụng lực lƣợng thực tiễn - đó là đội ngũ cán bộ cách mạng và cùng với quần
chúng cách mạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đƣa cách mạng đến thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là những ngƣời đem chính sách của Đảng
và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình
hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách
cho đúng" [16, tr 269-520].
Vị trí cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là "cầu nối" giữa Đảng, Chính
phủ với quần chúng, nhƣng không phải là "vật mang", là "dây dẫn", là chuyển tải
cơ học mà chính là con ngƣời có đủ tƣ chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó.
Bởi lẽ để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng
9
hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi ngƣời cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phải có một
trình độ, trí tuệ nhất định. Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ngƣời
cán bộ sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đƣờng lối, chính sách và khi đó thì
thật là nguy hiểm.
Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò quyết định trong việc triển
khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng, chính sách
10
tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có nhiều kinh nghiệm, năng
lực quản lý và hiểu biết để làm việc, song họ ít đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng lý luận,
nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp luật. Thực tế này là một trong những
nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ
chủ chốt chính quyền cơ sở.
Tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở: tiêu chuẩn của cán bộ là cơ
sở quan trọng để đánh giá, lựa chọn, đào tạo và bố trí sử dụng cán bộ. Đó là một hệ
thống các tiêu chí về phẩm chất, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, kiến thức
chuyên môn, năng lực công tác và uy tín. Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu biết
nhất định, ngƣời cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở còn cần phải có tiêu chuẩn khác
là phẩm chất và bản lĩnh chính trị. Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc là một việc khó khăn; nhƣng khó khăn và phức
tạp hơn nhiều là nắm chắc đƣợc tình hình, tâm tƣ, nguyện vọng chính đáng của
nhân dân, cũng nhƣ phản ánh đƣợc đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho
việc tham mƣu, hoạch định chính sách. Công việc này đòi hỏi ngƣời cán bộ chủ
chốt chính quyền cơ sở phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực
tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có
tính chất quyết định. Chính sách đúng đắn có thể không thu đƣợc kết quả nếu cán
bộ làm sai, cán bộ yếu kém. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn, sâu
hơn, chỉ ra cội rễ của vấn đề một cách vừa cụ thể, vừa có tính chất tổng quát. Ngƣời
nói:" Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó
là nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm
ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [16, tr 269- 520]. Muốn tổ chức
công việc tốt, phải có ngƣời cán bộ đạt tiêu chuẩn vừa có tài, vừa có đức. Tiêu
chuẩn cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là một yếu tố cơ bản quyết định chất
lƣợng đội ngũ cán bộ cách mạng của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định
tiêu chuẩn của cán bộ cần phải có hai mặt là đức và tài. Trƣớc hết ngƣời cán bộ phải
có đức, đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Ngƣời nói: "sức có mạnh mới gánh
các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có ngƣời tiếp thu nhanh,
có ngƣời phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu đƣợc, ngƣời này có thể
đạt đƣợc trình độ điêu luyện cao còn ngƣời khác chỉ đạt đƣợc trình độ trung bình
nhất định tuy đã hết sức cố gắng. Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động
nhƣ nghệ thuật, khoa học, thể thao ... Những hình thức mà chỉ những ngƣời có một
số năng lực nhất đinh mới có thể đạt kết quả. Để nắm đƣợc cơ bản các dấu hiệu khi
nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau:
Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân ngƣời này khác ngƣời kia, nếu
một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng nhƣ ai thì không thể nói về năng lực.
Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt
động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào.
Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã
đƣợc hình thành ở một ngƣời nào đó, năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến
thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.
Một trong những năng lực quan trọng của ngƣời cán bộ lãnh đạo quản lý
chính là năng lực tổ chức. Lê nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức
chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho ngƣời cán bộ tổ chức là bất cứ ngƣời lãnh đạo
nào cũng cần phải có: “Sự minh mẫn và tài xắp xếp công việc” “sự hiểu biết mọi
ngƣời”, tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm ngƣời “sự sắc sảo về
trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn” “các phẩm chất ý chí”, “Khả năng hiểu biết mọi
ngƣời và kỹ năng tiếp xúc với con ngƣời”. Do đó khi xem xét kết quả công việc của
một ngƣời cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc,
ngƣời ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm nhƣ thế
nào chính năng lực thể hiện ở chỗ ngƣời ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật
chất mà kết quả lại tốt.
13
Năng lực là một tổ hợp phẩm chất tƣơng đối ổn định, tƣơng đối cơ bản của
cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động, do đó ngƣời có trình độ
quản lý nào cũng cần phải có, đó là: kỹ năng động viên khuyến khích, kỹ năng giải
quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng nói và viết, kỹ năng sử dụng nhân
viên…Mỗi lĩnh vực, mỗi kỹ năng đều có nguyên lý, đều có cơ sở lý luận. Để những
14
nguyên lý, cơ sở lý luận đó thấm sâu vào tâm khảm của mình, cán bộ quản lý phải
thƣờng xuyên thực hành, thƣờng xuyên luyện tập nhằm làm cho các nguyên lý, cơ
sở lý luận trở thành thói quen, trở thành phản xạ. Một cán bộ có kỹ năng là một cán
bộ giải quyết công việc một cách chuyên nghiệp, giải quyết tốt ngay từ khâu đặt vấn
đề, tiến triển vấn đề cho đến khâu kết thúc vấn đề. Quan trọng là vậy, song có lẽ đối
với cán bộ quản lý thì tầm quan trọng của nó sẽ đƣợc nhân lên gấp bội. Tầm quan
trọng đó đƣợc thể hiện ở chỗ quản lý chính là ngƣời tạo ra sự thay đổi, quản lý
chính là ngƣời nắm bắt thời cuộc, tạo ra việc làm và quản lý chính là ngƣời khuyến
khích, thuyết phục ngƣời khác, tập hợp lực lƣợng để thực thi những công việc mà
mình tạo ra. Vì vậy, kỹ năng quản lý là nhân tố sống còn đối với bất cứ ngƣời cán
bộ quản lý nào.
Nhƣ phân tích ở trên, hành vi, thái độ là yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo
sự sự thành công của mỗi con ngƣời. Đặc biệt đối với cán bộ quản lý thì tầm quan
trọng, vai trò, ý nghĩa, của hành vi thái độ lại càng đƣợc nâng cao. Trong công tác
quản lý hành vi, thái độ có thể đƣợc coi là ứng xử cấp trên đối với cấp dƣới đối với
nhân dân, ứng xử đó đƣợc hình thành trên cơ sở quan niệm sống, tính cách, đạo
đức, văn hóa của cán bộ quản lý, Ứng xử không đúng mực, quan niệm không tích
cực, đạo đức văn hóa không lành mạnh chắc chắn sẽ dẫn đến một kết cục không lấy
gì là tốt đẹp. Với vai trò là ngƣời đi đầu, vai trò là ngƣời cầm cân nảy mực, cán bộ
quản lý càng phải công minh, chính trực và càng phải công tâm, trụ cột của mọi
ngƣời. Có nhƣ vậy thì hoạt động quản lý mới đạt kết quả cao.
Bàn đến năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở là
bàn đến khả năng thực thi công cụ quản lý một cách hiệu quả. Năng lực đƣợc coi là
tổng hợp các yếu tố tâm lý, sinh lý tạo cho con ngƣời hoàn thành một hoạt động nào
kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng những kiến thức, những kỹ năng còn chƣa đáp ứng yêu
cầu công việc cho họ là một việc làm có ý nghĩa xã hội to lớn.
Năng lực là thƣớc đo khả năng thực hiện công việc, nó đƣợc tạo thành do sự
kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp ngƣời đó thực hiện các vai trò và
nhiệm vụ công việc đƣợc giao. Từ đó, chúng ta có thể rút ra kết luận sau đây:
Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ
Kiến thức: là sự hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức của
mỗi ngƣời là tập hợp tất cả những gì thuộc về quy luật hoặc có tính quy luật của thế
giới xung quanh đƣợc ngƣời đó thừa nhận. Kiến thức là một khái niệm rất rộng, tuy
nhiên kiến thức có thể chia thành 03 mảng chính: (1) kiến thức chuyên môn, (2) kiến
thức về văn hóa - xã hội, (3) kiến thức về khoa học tự nhiên - địa lý. Kiến thức là
điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên, những hiểu biết thu nhân đƣợc từ sách vở,
từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. Kiến thức chuyên môn (về quản
lý) - khoa học quản lý (trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm cả khoa học
pháp luật, hành chính, thông tin... tạo nên các năng lực về quản lý nói chung).
Kỹ năng: Cho đến nay khái niệm kỹ năng với tƣ cách là khả năng biến kiến
thức thành hành động đƣợc nhiều tác giả đồng ý là: "Khả năng của chủ thể thực
hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức) và
16
kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong đợi"; “là khả năng, sự thành thạo trong áp
dụng các kỹ thuật, phƣơng pháp và công cụ để giải quyết công việc”. Kỹ năng đối
với ngƣời quản lý đƣợc hiểu là khả năng vận dụng một cách thuần thục những kiến
thức, kinh nghiệm thu đƣợc của cá nhân trong lĩnh vực quản lý nhằm tăng hiệu quả,
hiệu lực công việc. Một năng lực có thể bao gồm nhiều kỹ năng, kỹ năng đƣợc hình
thành qua quá trình học hỏi, đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm. Kỹ năng cũng là một
nhân tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho sự thành công đối với bất cứ một hoạt
động quản lý nào. Kỹ năng chính là thâm niên, kỹ năng chính là kinh nghiệm và kỹ
năng chính là mức độ thành thạo trong công tác quản lý. Vì vậy kỹ năng về thực