VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐỨC HÙNG
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại: Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.
Phát triển hạ tầng nông thôn là một trong các chủ trương,
chính sách quan trọng và cấp thiết của Đảng và Nhà nước. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy việc thực hiện chính sách nói trên ở nhiều địa
phương nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng hiện còn nhiều hạn
chế. Trong bối cảnh trên, luận văn “Chính sách phát triển hạ tầng
nông thôn mới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là cần thiết, tôi
1
nghiên cứu để làm luận văn thạc sĩ ngành Chính sách công với mong
muốn luận văn này góp một phần nhỏ cho tư liệu nghiên cứu và định
hướng xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới của tỉnh Quảng Ngãi.
2. Nghiên cứu về phát triển hạ tầng nông thôn mới
Nói về phát triển nông nghiệp, nông thôn thì không thể tách riêng
các yếu tố phát triển về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá và chính
trị, về nội dung này có các nghiên cứu, như “Các đoàn thể nhân dân
trong đảm bảo dân chủ cơ sở” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Phan Xuân Sơn (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, H 2002”; “Hệ
thống chính trị ở cơ sở nông thôn” của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí
Bảo (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, H 2004).
- Một số bài viết đăng trên tạp chí cộng sản cũng mang nội dung
về nông nghiệp, nông dân và nông thôn trên các địa phương cả nước.
Vấn đề về nông thôn và xây dựng nông thôn mới, đã và đang là
vấn đề nhận được sự quan tâm của Nhà nước, cũng như của các tổ
chức, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách phát triển hạ tầng nông thôn
mới; phân tích thực trạng thực hiện chính sách này tại tỉnh Quảng
5.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Cách tiếp cận dựa vào lãnh đạo địa phương và chính những người
dân địa phương. Người dân được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng và có
chất lượng sống cao hơn khi thực hiện xây dựng nông thôn mới.
Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính
sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
Dựa trên những quan điểm của Đảng, các Văn kiện của Đảng, các
chính sách nhà nước vào thực tiễn của ngành và tình hình kinh tế xã
hội của địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải,
quy nạp, thống kê, thu thập thông tin.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công
để làm rõ vấn đề khoa học và thực tiễn của chính sách, cụ thể: Chính
sách phát triển hạ tầng nông thôn mới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
Qua thực tiễn nghiên cứu chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong
3
việc hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu
giúp cho lãnh đạo Tỉnh, các bộ phận liên quan, các Sở ngành hoạch
định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều
chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách một cách hiệu quả
hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục các hình và bảng, danh
mục tài liệu tham khảo; luận văn còn được bố trí theo 3 chương.
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHÍNH
nông thôn là một bộ phận của cơ sở hạ tầng nông nghiệp, bao gồm
cơ sở hạ tầng đường sông, đường mòn, đường đất phục vụ sự đi lại
trong nội bộ nông thôn, nhằm phát triển sản xuất và phục vụ giao lưu
kinh tế, văn hoá xã hội của các làng xã, thôn xóm.
* Nông thôn: Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông
thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản
xuất nông nghiệp”.
* Nông thôn mới: Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục
tiêu: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo
quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc;
dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống
chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường".
1.2. Mục tiêu, mục đích và nội dung chính sách
- Mục tiêu của chính sách phát triển hạ tầng nông thôn mới.
+ Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh
tế-xã hội ngày càng hoàn thiện; đến năm 2020 cơ bản hoàn thành
chương trình cứng hoá giao thông nông thôn và đường về trung tâm
cụm xã;
+ Phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống thủy lợi,
đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất, sinh hoạt và tưới chủ động.
+ Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và
du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
- Mục đích của chính sách phát triển hạ tầng nông thôn mới: Vận
dụng kiến thức về chính sách công nói chung và chính sách xây dựng
5
hạ tầng nông nông thôn mới của Việt Nam nói riêng để nghiên cứu
nhiều địa phương áp dụng chính sách hỗ trợ xi măng, cát sỏi, cống
(chiếm khoảng 40% kinh phí xây dựng), cộng đồng dân cư hiến đất,
6
giải phóng mặt bằng, góp tiền, công lao động và vật liệu khác nên đã
thúc đẩy tiến độ phát triển giao thông nhanh hơn trước.
Các số liệu thống kê chỉ rõ, đến cuối năm 2011 cả nước đã có
8.940 xã (chiếm 98,6% tổng số xã cả nước) có đường ô tô đến trung
tâm xã. Trong đó 7.917 xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa
hóa, bê tông hóa (chiếm 87,3%).
(Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp-Bộ nông nghiêp
và PTNT)
* Huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
Theo Chương trình và Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào
giao thông vận tải đến năm 2020 của Bộ Giao thông vận tải, tổng chi
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông do Bộ quản lý bình quân
năm đã liên tục tăng trong thời gian qua. Tương ứng các giai đoạn
2001 – 2005 và 2006 – 2010 là 12.000 tỷ đồng/năm (khoảng 0,76 tỷ
USD) và 36.000 tỷ đồng/năm (khoảng 1,9 tỷ USD), và con số bình
quân hiện nay là khoảng 70.000 tỷ đồng/năm (khoảng 3,1 tỷ USD).
(Nguồn: Bộ Giao thông vận tải)
- Về phát triển hệ thống thủy lợi: Sau 3 năm triển khai, đến nay có
khoảng 31,2% số xã của cả nước đã hoàn thành tiêu chí này (tăng 3%
so với năm 2012).
- Về đầu tư quy hoạch xây dựng hệ thống cấp điện nông thôn, đến
năm 2013, cả nước có 5.964 xã, tương đương 66,2% đạt chuẩn tiêu
chí số 4 về điện.
- Về quy hoạch và xây dựng hệ thống chợ nông thôn: Đến nay, có
2.693 xã, tương đương 30% tổng số xã cả nước đạt chuẩn tiêu chí này.
1.5. Những nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách phát triển hạ
tầng NTM
- Nguồn nhân lực: Cán bộ lãnh đạo các cấp, các Ban chỉ đạo, Văn
phòng điều phối, cán bộ chuyên môn các cấp, cán bộ kiêm nhiệm,
các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các cơ quan hoạch định chính
sách; Người dân đóng góp công sức, tiền của do người dân và cộng
đồng đầu tư bỏ ra để chỉnh trang nhà ở nông thôn.
- Nhận thức của một bộ cán bộ đảng viên chưa đầy đủ về mục
đích ý nghĩa của chương trình này.
- Huy động nguồn lực từ nhân dân còn khó khăn chưa đáp ứng
nhu cầu trong kế hoạch chung.
- Một số cơ chế, chính sách ban hành còn chậm như chính sách hỗ
trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chính
sách hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất.
- Trình độ, năng lực của cán bộ cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu của
nhiệm vụ trong xây dựng nông thôn mới.
8
- Địa bàn xã rộng, bị chia cắt, địa hình dốc, đồi núi nhiều.
- Phong tục tập quán của người dân nông thôn.
- Khoa học công nghệ cũng là nhân tố quyết định ảnh hưởng đến
kết quả cũng như chất lượng cuộc sống nông thôn.
- Ngoài ra còn có yếu tố như mối quan hệ, sự phối hợp giữa các tổ
chức cộng đồng, công tác đào tạo tập huấn...
1.6. Quy trình thực hiện chính sách
1.7. Kinh nghiệm phát triển hạ tầng nông thôn mới của một số
địa phƣơng
* Kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở
huyện Hòa Vang, Đà Nẵng.
Tịnh Giang, được đầu tư xây dựng với số tiền hàng tỷ đồng. Nguồn
vốn ấy do người dân đóng góp. Số tiền ấy có thể không lớn so với
các địa phương khác, nhưng với điều kiện là một xã miền núi, đời
sống nhân dân còn khó khăn, thì những cống hiến thầm lặng đó của
người dân càng đáng quý.
* Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chỉ đạo xây dựng nông
thôn.
+ Một là, Trong quá trình triển khai phải huy động sự vào cuộc
của cả hệ thống chính trị với quyết tâm chính trị cao.
+ Hai là, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ
xây dựng NTM, đã xác định rõ trách nhiệm đối với các cấp ủy đảng,
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội từ
huyện đến cơ sở.
+ Ba là, chú trọng và nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở;
đảm bảo sâu sát tình hình sản xuất và đời sống của nông dân;
+ Bốn là, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là trách nhiệm của người
đứng đầu, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở phải ưu tiên tập trung
giành thời gian, công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, kiểm
tra việc tổ chức thực hiện;
+ Năm là, coi trọng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và
chú trọng công tác dân vận.
CHƢƠNG 2
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2011-2015
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
2.1.1. Vị trí địa lý, địa giới, diện tích
Tỉnh Quảng Ngãi phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam trên ranh giới
10
xã do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban.
Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh đã được kiện toàn;
11
14/14 huyện, thành phố đã thành lập Văn phòng nông thôn mới cấp
huyện.
2.2.2. Ban hành các văn bản chỉ đạo và thực hiện Chương trình
Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành: Nghị quyết số 03NQ/TU ngày 13/10/2011 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XVIII; Nghị
quyết số 27/2011/NQ-HĐND ngày 21/10/2011 của Hội đồng nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi và Quyết định số 238/QĐ-UBND ngày
25/11/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án Phát triển nông
nghiệp và xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 20112015, định hướng đến năm 2020.
Ban hành kế hoạch về tập huấn cho cán bộ thực hiện công tác xây
dựng NTM trên địa bàn huyện; Ban hành các văn bản chỉ đạo phân
công nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các xã thực hiện Bộ tiêu
chí quốc gia về NTM.
Chỉ đạo các xã điểm đánh giá, rà soát thực trạng của 19 tiêu chí và
xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ trong thời gian đến.
2.2.3. Đánh giá chung về công tác chỉ đạo, điều hành Chương
trình
Sau 5 năm thực hiện, Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XVIII đã ban
hành 01 Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp và xây dựng
nông thôn mới; HĐND tỉnh đã ban hành 08 Nghị quyết có liên quan
đến xây dựng nông thôn mới; UBND tỉnh đã ban hành 01 Chỉ thị, 15
quyết định có liên quan đến công tác chỉ đạo, điều hành, cơ chế,
chính sách thực hiện chương trình và nhiều văn bản chỉ đạo điều
hành khác.
Huyện ủy, HĐND các huyện, thành phố đều có Nghị quyết
chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng
thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM trên địa
bàn tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng: Có 11 xã đạt 19 tiêu
chí, 16 xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí, 50 xã đạt từ 10 – 14 tiêu chí, 52 xã
đạt từ 5 – 9 tiêu chí, 35 xã đạt từ 0 – 4 tiêu chí.
2.4.1. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Về giao thông nông thôn: Đường trục xã, liên xã được nhựa hóa,
bê tông hóa 867,7km/1.598km, đạt tỷ lệ 54,3%; đường trục thôn
được cứng hóa đạt tỷ lệ 32,09%; đường ngõ xóm sạch, không lầy lội
vào mùa mưa đạt tỷ lệ 88%; đường nội đồng được cứng hóa, xe cơ
giới đi lại thuận lợi đạt tỷ lệ 12,92%.
Riêng trong năm 2015, theo cơ chế hỗ trợ xi măng của tỉnh, 32 xã
được hỗ trợ 20.253 tấn xi măng để cứng hóa 662 tuyến đường giao
thôn nông thôn (tương ứng với hơn 140 km đường).
13
* Tổng kinh phí đầu tư cho giao thông nông thôn trong 5 năm
2011-2015: 1.733,54 tỷ đồng, trong đó:
* So sánh Nhà nước hỗ trợ xi măng 100% và dự án đầu tư
theo qui trình xây dựng cơ bản.
+ Nhà nước hỗ trợ xi măng 100%, tương ứng 40% giá trị công
trình (qui trình xây dựng theo cơ chế hỗ trợ), như vậy nhân dân tự
đóng góp 60% giá trị.
+ Dự án đầu tư theo qui trình xây dựng cơ bản: 1,0 km đường
với qui mô như trên, dự toán lập theo các đơn giá nhà nước, có các
chi phí thiết kế, giám sát... theo qui định thì tương ứng 1.300,0 triệu
đồng đến 1.400,0 triệu đồng. Như vậy so sánh cơ chế hỗ trợ xi măng
(qui trình hỗ trợ) thì giá trị công trình chỉ có 614,0 triệu đồng bằng
43% dự toán theo qui trình xây dựng cơ bản.
- Về thủy lợi: Đến nay, đã có 39 xã (23,8% số xã) đạt tiêu chí thủy
xã, đạt 24,4%; Cơ sở vật chất văn hóa: 28 xã, đạt 17,1%; Chợ nông
thôn: 82 xã, đạt 50,0%; Bưu điện: 266 xã, đạt 76,8%; Nhà ở dân cư:
96 xã, đạt 58,5%
2.4.3. Đánh giá chung cho từng vùng (3 vùng theo giới hạn)
2.4.3.1. Vùng 1 (huyện Sơn Tịnh)
* Thuận lợi
- Là huyện có tiềm năng lớn về đất nông nghiệp, địa hình tương
đối bằng phẳng; Công trình thuỷ lợi Thạch Nham đã phát huy tác dụng
và có khả năng tưới cho hơn 13.000ha đất canh tác. Đây là cơ sở cho
việc thâm canh tăng năng suất.
- Đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân quyết tâm phát triển
kinh tế - xã hội trên cơ sở nâng cao hiệu quả các hoạt động chỉ đạo, tổ
chức lao động sản xuất.
- Cơ sở hạ tầng trọng yếu những năm qua đã xây dựng cơ bản, đặc
biệt là giao thông, thủy lợi, điện...
- Về sự chỉ đạo, điều hành: Huyện ủy, HĐND và UBND huyện
tập trung, tăng cường công tác chỉ đạo.
- Về công tác tuyên truyền, vận động: Một số xã đã vận động nhân
dân hiến đất để mở đường, xây dựng các công trình hạ tầng, bước
đầu đã tạo phong trào thi đua sôi nổi trong nông thôn.
- Về xây dựng kết cấu hạ tầng: Thời gian qua, đã vận động được
một bộ phận người dân tham gia thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng
của xã, khắc phục được một phần tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ của
Nhà nước.
* Khó khăn: Huyện Sơn Tịnh kinh tế mặc dù tăng trưởng khá, thu
ngân sách hàng năm tăng so với năm trước, nhưng quy mô nền kinh tế
15
của huyện còn nhỏ và phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố khách quan.
huyện đối với các xã được phân công phụ trách còn hạn chế.
- Một số địa phương chưa bố trí hoặc bố trí cán bộ chuyên trách
16
NTM chưa hợp lý, chất lượng cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu
công việc.
2.4.3.3. Vùng 3 (Thành phố)
Ngay sau khi sáp nhập 12 xã của 2 huyện về thành phố Quảng
Ngãi, thành phố đã kịp thời thành lập Ban chỉ đạo Chương trình
MTQG xây dựng nông thôn mới cấp thành phố, ban hành quy chế
hoạt động của Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn
mới cấp thành phố, phân công trách nhiệm và địa bàn phụ trách cho
các thành viên, phân công nhiệm vụ cho các phòng ban chịu trách
nhiệm từng tiêu chí và hướng dẫn các đơn vị hoàn thành các tiêu chí
xây dựng nông thôn mới.
* Những mặt đạt được
- Hệ thống quản lý, thực hiện Chương trình từ cấp thành phố đến
cấp xã đã được thành lập, kiện toàn, đi vào hoạt động cơ bản hiệu
quả.
- Nhận thức trong đội ngũ cán bộ công chức các cấp và nhân dân
về xây dựng NTM đã có sự thay đổi rõ rệt;
- Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất của Trung ương, tỉnh
được triển khai kịp thời, các mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả
được chú ý nhân rộng.
* Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Nguồn ngân sách của cấp trên hỗ trợ chưa kịp thời theo đề án đã
được UBND tỉnh phê duyệt, trong khi đó ngân sách địa phương có
hạn, sự ủng hộ của doanh nghiệp, con em địa phương có tiềm lực
đang công tác ở nơi khác rất thấp.
các công trình vệ sinh; cải tạo cổng ngõ, tường rào;
* Nguyên nhân
* Yếu tố khách quan
- Trình độ phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế thị trường, điều
kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn lực phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật...
- Khi triển khai chính sách ở các vùng có địa bàn rộng và dân cư
phân tán, việc đầu tư xây dựng hạ tầng sẽ đòi hỏi suất đầu tư cao,
lượng vốn lớn mà hiệu quả đầu tư không cao.
- Trong giai đoạn khó khăn về kinh tế kéo theo sự khó khăn về
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và người dân.
- Đa số bộ phận dân cư còn khó khăn, đặc biệt là 06 huyện miền
núi (vùng 2 nghiên cứu là huyện Sơn Hà), đây là trở ngại lớn trong
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, giảm sự cách biệt về mức
18
sống và trình độ sản xuất giữa các vùng trong tỉnh.
* Yếu tố chủ quan
- Khả năng, năng lực, nhận thức, hiểu biết, trình độ, tập tục, tập
quán...
- Trình độ cán bộ cấp xã còn nhiều hạn chế.
- Thiếu việc làm ở khu vực nông thôn, kết quả của việc di dân tự do.
- Do nhận thức hạn chế của người dân về chương trình xây dựng
nông thôn mới.
2.5.2. Những hạn chế
- Tiến độ triển khai nhìn chung còn chậm so với mục tiêu, yêu
cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân; một
số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều
chỉnh, sửa đổi;
truyền. Tuyên truyền phải bằng nhiều hình thức.
- Cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thôn phải vào cuộc quyết
liệt, cán bộ, đảng viên phải là những người gương mẫu, đi đầu thì
chương trình mới đạt hiệu quả cao;
- Muốn tạo được niềm tin và huy động sức dân tham gia thì trong
cả quá trình thực hiện xây dựng NTM phải công khai minh bạch, tôn
trọng ý kiến đóng góp của người dân; đồng thời người dân phải được
tham gia giám sát công tác triển khai thực hiện.
- Vận động bà con nhân dân đóng góp tiền thuê thợ thi công, góp
phần các đường ngõ xóm đã cứng hóa.
- Trong khi nguồn vốn Ngân sách đầu tư trực tiếp cho chương
trình còn hạn chế, để thực hiện tốt mục tiêu chương trình đề ra, địa
phương cần phải tập trung chỉ đạo thực hiện theo thứ tự ưu tiên.
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020
3.1. Quan điểm và định hƣớng xây dựng phát triển hạ tầng
NTM ở tỉnh
3.1.1. Quan điểm phát triển hạ tầng nông thôn mới của Tỉnh
đến năm 2020
Coi phát triển nông nghiệp là then chốt, xây dựng nông thôn mới
là căn bản; phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là nền
tảng, đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
20
đại hóa của tỉnh, là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng.
3.1.2. Định hướng phát triển hạ tầng nông thôn mới của Tỉnh
- Không có xã dưới 5 tiêu chí.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện các xã về đích NTM.
3.3. Giải pháp tăng cƣờng hiệu quả thực hiện chính sách phát
triển hạ tầng NTM ở tỉnh
3.3.1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
- Cần nhanh chóng triển khai thực hiện cơ chế giao quyền chủ
động cho người dân và cộng đồng dân cư hưởng lợi từ thực hiện xây
dựng nông thôn mới thông qua nghiên cứu cụ thể hóa và ban hành bổ
sung một số cơ chế, chính sách cho phù hợp tình hình kinh tế xã hội,
điều kiện của khu vực nông thôn trong tỉnh.
- Phân kỳ giai đoạn đầu tư các đề án giao thông nông thôn, đề án
kiên cố hóa kênh mương... trên cơ sở nguồn lực cân đối hàng năm và
kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016-2020;
- Có cơ chế chính sách huy động vốn từ đấu giá quyền sử dụng
đất.
- UBND tỉnh có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người dân,
đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp, đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất khi thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa, chỉnh
lý biến động.
- Cơ chế nhà nước hỗ trợ và nhân dân cùng làm trước đây … giờ
triển khai ở tất cả các nội dung đối với cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.
- Xây dựng quy chế chung về hỗ trợ, tuy nhiên phải khắc phục
tình trạng phân bổ bình quân.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư hoặc hợp
tác xây dựng doanh nghiệp tại các vùng nông thôn.
- Xây dựng các chính sách tín dụng riêng đối với các địa phương.
3.3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy, công tác chỉ đạo, lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của hệ
trình có tính lan tỏa, bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế, các vùng
kinh tế trọng điểm.
- Xác định mục tiêu phù hợp với các xã khó khăn để tạo động lực
cho các xã vươn lên, từng bước vượt qua tâm lý ỷ lại, thụ động, trông
chờ hoàn toàn vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Cần thống nhất mục tiêu của Chương trình giảm nghèo và
Chương trình xây dựng Nông thôn mới, cả hai chương trình cần
nhằm thực hiện một mục tiêu chung.
- Đẩy mạnh thu hút và huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng
phát triển kinh tế - xã hội.
23