Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty TNHH XNK May Anh Vũ - Pdf 46

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách mở cửa để hội nhập và phát triển, nền kinh
tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Có được kết quả này chúng ta phải kể
đến những đóng góp đáng kể của hoạt động xuất khẩu. Trong những năm qua, hoạt động
xuất khẩu hàng hoá đã đem về cho nước ta hàng tỷ USD, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ,
trang trải một phần nhu cầu nhập khẩu máy móc, trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn, lạc
hậu, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Việt Nam đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu kết hợp song song với
chiến lược thay thế nhập khẩu.Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng được
đề cập trong các kỳ đại hội của Đảng đã khẳng định tiếp “Đẩy mạnh sản xuất, coi xuất
khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại.” Trong điều kiện đất nước
ta đang đổi mới hiện nay, ngành may mặc được coi là một ngành quan trọng đối với nền
kinh tế quốc dân. Mục tiêu, chiến lược, nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện thắng
lợi đường lối của Đảng, góp phần thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
đất nước đảm bảo nhu cầu may mặc toàn xã hội, không ngừng tăng cường xuất khẩu và
giải quyết việc làm cho người lao động
Công ty TNHH XNK May Anh Vũ là một trong những công ty may mặc xuất
khẩu của nước ta thành lập vào năm 1990 . Những năm đầu thành lập với sự đổi mới về
kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước, công ty đã nhanh chóng thích nghi với thị trường, ổn định sản xuất. Cùng
với mặt hàng may mặc xuất khẩu là mặt hàng chính của công ty từ trước tới nay công ty
đã đóng góp một phần không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của nước ta.
Vì vậy, để tiếp cận với thị trường nước ngoài đòi hỏi ngày càng cao như hiện nay đã đặt
ra cho Công ty TNHH XNK May Anh Vũ những cơ hội và thử thách.
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc, duy trì và mở rộng thị trường nước ngoài là
một vấn đề mang tính chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của công ty hiện nay. Vì
vậy, qua thời gian thực tập tại công ty, được sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị nhân
viên công ty, em đã nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của công ty và chọn đề tài: “Thúc
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A

và cả nước. Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao, đời sống nhân dân không ngừng
tiến bộ, nhu cầu mua sắm của con người cũng gia tăng. Hơn nữa, hiện nay thị trường
thương mại Việt Nam đang mở cửa, các nhà kinh doanh nước ngoài đang vào hợp tác
đầu tư với Việt Nam. Với các điều kiện trên đã tạo cho ngành công nghiệp may ở tỉnh
Hưng Yên nói riêng và cả nước nói chung rất nhiều cơ hội để chuyển mình trở thành một
trong những ngành mũi nhọn của nước nhà. Sản lượng và giá trị sản xuất của ngành
công nghiệp may trong các năm qua không ngừng gia tăng đã đóng góp không nhỏ trong
tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó, tỉnh Hưng Yên cung
cấp một nguồn nhân lực dồi dào mà trong 8 năm trước đây chủ yếu tập trung vào nông
nghiệp. Từ các lý do trên, Công ty TNHH XNK May Anh Vũ ra đời. Công ty có hình
thức hạch toán kế toán độc lập, được thành lập theo quyết định số 002394/GPTDN02
ngày 19 tháng 3 năm 1990 của UBND Thành phố Hà Nội với tên gọi là Công ty TNHH
XNK May Anh Vũ.
Trong năm đầu tiên hoạt động, công ty May Anh Vũ được đặt tại Đường Láng,
quận Cầu Giấy, Hà Nội với gần 200 công nhân. Xét về tính chất ngành nghề và lợi thế
địa lý cũng như lợi thế về lao động của tỉnh Hưng Yên, ngày 15 tháng 7 năm 1991, công
ty TNHH XNK May Anh Vũ chính thức chuyển về Thị trấn Bần Yên Nhân, Huyện Mỹ
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
3
Chuyên đề thực tập
Hào, Tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận số 0502000826 do Sở KH và Đầu tư Tỉnh
Hưng Yên cấp ngày 01 tháng 7 năm 1991.
- Hình thức sở hữu vốn: công ty TNHH nhiều thành viên.
Công ty May Anh Vũ được thành lập trên cơ sở góp vốn của 3 thành viên do bà Lê Thị
Phương Hoa làm chủ tịch hội đồng thành viên. Sau khi họp bàn, hội đồng thành viên
quyết định giao toàn quyền quản lý công ty cho bà Lê Thị Phương Hoa, hai thành viên
còn lại hoàn toàn không tham gia vào công việc kinh doanh của công ty.
- Ngành nghề sản xuất kinh doanh: Công ty TNHH XNK May Anh Vũ trực tiếp kinh
doanh các sản phẩm may mặc, nhận may gia công, xuất khẩu ủy thác các sản phẩm
ngành may.

quyết vấn đề lao động thừa trong Tỉnh.
+ Bảo toàn và khai thác hết tiềm năng để phát triển nguồn vốn, cũng như sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn, để tái sản xuất mở rộng qui mô kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ trách
nhiệm đối với Nhà Nước, tăng dần tích lũy công ty ngày càng phát triển vững mạnh.
Thực hiện chính sách, chế độ quản lí tài sản, tài chính, lao động tiền lương…do công ty
quản lý, làm tốt trong công tác phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng xã hội,
không ngừng đào tạo kiến thức, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, văn hóa cho
toàn thể CB-CNV của công ty. Xây dựng công đoàn công ty kết hợp với địa phương
hướng dẫn CB-CNV ý thức bảo vệ an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ tài sản Xã Hội
Chủ Nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc phòng.
+ Được vay vốn, mở tài khoản riêng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội, tự do trang
trải vay nợ, có sử dụng con dấu riêng.
+ Chủ động ký hợp đồng gia công với tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo
đúng ngành nghề, nghiệp vụ tại công ty. Chủ động tuyển chọn và xây dựng lao động
theo nhu cầu của công ty, đúng theo quy định của pháp luật, tổ chức bố trí công tác, lựa
chọn hình thức trả lương theo lao động cho cán bộ - công nhân viên phù hợp với tình
hình công ty và đúng theo pháp luật.
1.1.3 Đặc điểm hệ thống tổ chức của công ty
1.1.3.1. Tổ chức nhân lực
• Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
5
Chuyên đề thực tập
Nhân lực hoạt động trong công ty được sử dụng, bố trí hợp lý và phát huy trình độ
của từng người. Tổng số lao động là 993 người, trong đó lao động gián tiếp quản lý là 35
người; lao động phục vụ sản xuất và lao động trực tiếp sản xuất là 958 người. Công ty có
đội ngũ nhân viên hầu hết tốt nghiêp các trường Cao Đẳng và Đại Học, được đào tạo cơ
bản, nắm vững nghiệp vụ.
Đội ngũ công nhân không ổn định do ảnh hưởng vĩ mô của nền kinh tế thị trường.
Do vậy, các hoạt động nhằm thu hút công nhân viên mới luôn được áp dụng. Hầu hết

+ Tham mưu giúp việc cho BGĐ công ty về định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh
của công ty; về thị trường giá cả, tiêu thụ và kinh doanh xuất nhập khẩu; và thực hiện
các công việc liên quan tới nghiệp vụ xuất nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và sản phẩm
đầu ra của công ty.
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
7
Giám Đốc
Phòng kế
hoạch - XNK
Phòng tổ
chức hành
chính
Phòng kế toán
tài chính
Phân
xưởng 1
Phân xưởng
2
Kho
Nguyên Phụ
Liệu
Phân xưởng
cắt
Kho hoàn
thiện
Phòng Kỹ
Thuật
Chuyên đề thực tập
+ Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, hoạch định chiến lược phát triển 5
năm, 10 năm của công ty.

nhất cho công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà Nước.
Về bố trí nhân sự: đúng người, đúng việc, các trưởng – phó phòng và nhân viên các
phòng ban xí nghiệp hỗ trợ cho nhau trong công tác khi có sự cần thiết nhằm để hoạt
động của công ty được nhịp nhàng đồng bộ và có hiệu quả cao.
1.1.3.2. Tổ chức sản xuất
• Hệ thống tổ chức sản xuất
Công ty May Anh Vũ chủ yếu nhận gia công đồ may mặc xuất khẩu và xuất hàng
ra nước ngoài theo dạng FOB. Chính vì vậy, sản phẩm của giai đoạn thương lượng và kí
hợp đồng với các đối tác nước ngoài chính là các đơn đặt hàng.
Sau khi đơn hàng được gửi tới phòng Kế Hoạch – XNK, phòng sẽ chịu trách
nhiệm lập kế hoạch sản xuất chuyển tới cho các bộ phận sản xuất bắt đầu thực hiện theo
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2:
Sơ đồ tổ chức hệ thống sản xuất của công ty
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
9
PHÒNG KH – XNK
KHO
THÀNH PHẨM
PHÂN XƯỞNG
CẮT
PHÒNG KỸ
THUẬT
ĐƠN ĐẶT HÀNG
KHO NGUYÊN
PHỤ LIỆU
PHÂN XƯỞNG
MAY 1
PHÂN XƯỞNG
MAY 2

10
Chuyên đề thực tập
Hoạt động xuất khẩu thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu giữa khoa học quản lý
với nghệ thuật kinh doanh của doanh nghiệp, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố
khác như: pháp luật, văn hoá, khoa học kỹ thuật… không những thế hoạt động xuất khẩu
còn nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nước qua đó phát huy các lợi thế bên trong
và tận dụng những lợi thế bên ngoài, từ đó góp phần cải thiện đời sống nhân dân và đẩy
nhanh quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa, rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với
các nước phát triển, mặt khác tạo ra doanh thu và lợi nhuận giúp doanh nghiệp phát triển
ngày một cao hơn
• Vai trò của hoạt động xuất khẩu
- Đối với doanh nghiệp :
Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nghĩa là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đây là yếu tố quan trọng nhất vì
sản phảm sản xuất ra có tiêu thụ được thì mới thu được vốn, có lợi nhuận để tái sản xuất
mở rộng sản xuất, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Cũng thông qua đó, doanh
nghiệp có cơ hội tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm về hình thức trong kinh doanh, về trình
độ quản lý, giúp tiếp xúc với những công nghệ mới, hiện đại, đào tạo đội ngũ cán bộ có
năng lực mới thích nghi với điều kiện kinh doanh mới nhằm cho ra đời những sản phẩm
có chất lượng cao, đa dạng, phong phú. Mặt khác thúc đẩy hoạt động xuất khẩu là đòi
hỏi tất yếu trong nền kinh tế mở cửa. Do sức ép cạnh tranh, do nhu cầu tự thân đòi hỏi
doanh nghiệp phải phát triển mở rộng quy mô kinh doanh mà xuất khẩu là một hoạt
động tối ưu để đạt được yêu cầu đó.
- Đối với nền kinh tế :
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế. Nó là một bộ phận cơ
bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động xuất khẩu
có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với nước ta. Với một nền kinh tế chậm phát
triển cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh việc đẩy
mạnh xuất khẩu để tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sống, tăng thu ngoại tệ, thúc

• Các hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu trực tiếp
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
12
Chuyên đề thực tập
Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu hàng hoá do chính doanh nghiệp sản xuất hoặc
đặt mua của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu những sản phẩm
này với danh nghĩa là hàng của mình. Để tiến hành một thương vụ xuất khẩu trực tiếp
cần theo các bước sau:
+ Tiến hành ký kết hợp đồng mua hàng nội địa với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong
nước sau đó nhận hàng và thanh toán tiền hàng cho các đơn vị sản xuất.
+ Ký hợp đồng ngoại thương (hợp đồng ký kết với các đối tác nước ngoài có nhu cầu
mua sản phẩm của doanh nghiệp), tiến hành giao hàng và thanh toán tiền.
Với hình thức xuất khẩu trực tiếp này có ưu điểm là đem lại nhiều lợi nhuận cho
các doanh nghiệp xuất khẩu hàng, do không mất khoản chi phí trung gian và tăng uy tín
cho doanh nghiệp nếu hàng hóa thoã mãn yêu cầu của đối tác giao dịch. Nhưng nhược
điểm của nó là không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể áp dụng theo được, bởi
nó đòi hỏi lượng vốn tương đối lớn và có quan hệ tốt với đối tác.
- Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó bên đặt gia công ở nước
ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm để bên nhận gia
công tổ chức quá trình sản xuất thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công. Toàn bộ
sản phẩm làm ra bên nhân gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công để nhận về một
khoản thù lao (gọi là phí gia công) theo thoả thuận. Hiện nay, hình thức gia công quốc tế
được vận dụng khá phổ biến nhưng thị trường của nó chỉ là thị trường một chiều, và bên
đặt gia công thường là các nước phát triển, còn bên nhận gia công thường là các nước
chậm phát triển. Đó là sự khác nhau về lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Đối với bên đặt
gia công, họ tìm kiếm một nguồn lao động với giá rẻ hơn giá trong nước nhằm giảm chi
phí sản xuất tăng lợi nhuận, còn bên nhận gia công có nguồn lao động dồi dào mong
muốn có việc làm tạo thu nhập,cải thiện đời sống qua đó tiếp nhận những thành tựu khoa

qui luật vận động của thị trường để kịp thời đưa ra các quyết định. Vì thế nó có ý nghĩa
rất quan trọng trong phát triển và nâng cao hiệu suất các quan hệ kinh tế đặc biệt là trong
hoạt động xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Vì thế khi nghiên cứu về thị
trường nước ngoài, ngoài các yếu tố chính trị, luật pháp, cơ sở hạ tầng phong tục tập
quán,…doanh nghiệp còn phải biểt xuất khẩu mặt hàng nào, dung lượng thị trường hàng
hoá là bao nhiêu, đối tác kinh doanh là ai, phương thức giao dịch như thế nào, sự biến
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
14
Chuyên đề thực tập
động hàng hoá trên thị trường ra sao, cần có chiến lược kinh doanh gì để đạt được mục
tiêu đề ra.
• Tổ chức thu thập thông tin.
Công việc đầu tiên của người nghiên cứu thị trường là thu thập thông tin có liên
quan đến thị trường về mặt hàng cần quan tâm. Có thể thu thập thông tin từ các nguồn
khác nhau như nguồn thông tin từ các tổ chức quốc tế như trung tâm thương mại và phát
triển của Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế và Châu á Thái Bình Dương, cơ quan thống
kê hay từ các thương nhân có quan hệ làm ăn buôn bán. Một loại thông tin không thể
thiếu được là thông tin thu thập từ thị trường, thông tin này gắn với phương pháp nghiên
cứu tại thị trường. Thông tin thu thập tại hiện trường chủ yếu được thu thập được theo
trực quan của nhân viên khảo sát thị trường, thông tin này cũng có thể thu thập theo kiểu
phỏng vấn theo câu hỏi. Loại thông tin này đang ở dạng thô cho nên cần xử lý và lựa
chọn thông tin cần thiết và dáng tin cậy.
• Tổ chức phân tích thông tin và xử lý thông tin.
+ Phân tích thông tin về môi trường: Môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy khi phân tích cần phải thu thập và thông tin về môi
trường một cách kịp thời và chính xác.
+ Phân tích thông tin về giá cả hàng hoá: Giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới biến
động rất phức tạp và chịu chi phối bởi các nhân tố chu kỳ, nhân tố lũng đoạn, nhân tố
cạnh tranh, nhân tố lạm phát.
+ Phân tích thông tin về nhu cầu tiêu dùng: Nhu cầu của thị trường là tiêu thụ được, chú

• Chuẩn bị cho giao dịch.
Để công tác chuẩn bị giao dịch diễn ra tốt đẹp doanh nghiệp phải biết đầy đủ các thông
tin về hàng hoá, thị trường tiêu thụ, khách hàng… Việc lựa chọn khách hàng để giao
dịch căn cứ vào các điều kiện sau như: tình hình kinh doanh của khách hàng, khả năng
về vốn cơ sở vật chất, uy tín, danh tiếng quan hệ làm ăn của khách hàng…
• Giao dịch đàm phán ký kết.
Trước khi ký kết mua bán với nhau, người xuất khẩu và người nhập khẩu phải trải qua
quá trình giao dịch thương lượng các công việc bao gồm:
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
16
Chuyên đề thực tập
- Chào hàng: là đề nghị của người xuất khẩu hoặc người xuất khẩu gửi cho người bên
kia biểu thị muốn mua bán một số hàng nhất định và điều kiện, giá cả thời gian, địa điểm
nhất định.
-Hoàn giá: khi nhận được thư chào hàng nếu không chấp nhận điều kiện trong thư mà
đưa ra đề nghị mới thì đề nghị này được gọi là hoàn giá.
-Chấp nhận: là đồng ý hoàn toàn bộ tất cả các diều kiện trong thư chào hàng.
- Xác nhận: hai bên mua bán thống nhất với nhau về các điều kiện đã giao dịch. Họ đồng
ý với nhau và đồng ý thành lập văn bản xác nhận (thường lập thành hai bản).
Ngày nay tồn tại hai loại giao dịch:
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch mà người mua và người bán thoả thuận bàn bạc
trực tiếp.
- Giao dịch gián tiếp: là giao dịch thông qua các tổ chức trung gian. Tuỳ theo
trường hợp cụ thể mà các doanh nghịêp chọn phương thức giao dịch thích hợp. Trong
thực tế hiện nay, giao dịch trực tiếp được áp dụng rộng rãi bởi giảm được chi phí trung
gian, dễ dàng thống nhất, có điều kiện tiếp xúc với thị trường, khách hàng, chủ động
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
• Ký kết hợp đồng.
Việc giao dịch đàm phán có kết quả tốt thì coi như đã hoàn thành công việc ký kết
hợp đồng. Ký kết hợp đồng có thể ký kết trực tiếp hay thông qua tài liệu. Khi ký kết cần

Chuẩn bị
hàng hóa
Mua bảo hiểm
(nếu cần)
Thuê tàu
(nếu cần)
Làm thủ tục
hải quan
Giải quyết tranh
chấp (nếu có)
Xin giấy
phép xuất
khẩu
( nếu cần)
Kiểm tra
hàng hóa
Thanh toán
Giao hàng
lên tàu
Kiểm tra
L/C
18
Chuyên đề thực tập
Đơn vị: USD
Năm
Số HĐ xuất khẩu
được ký
Trị giá
Số HĐ thanh toán
theo phương thức

Phương thức nhờ thu không được công ty áp dụng thường xuyên. Tính bảo đảm
của phương thức này cao hơn phương thức chuyển tiền nhưng tính chất rủi ro vẫn còn
không ít. Hơn nữa, phương thức này mất nhiều thời gian, thủ tục phức tạp hơn phương
thức chuyển tiền. Bắt đầu từ năm 2008, công ty Anh Vũ bắt đầu hợp tác làm ăn với công
ty Anna Fashion ( Mỹ ), công ty này luôn thanh toán trước 50% trị giá hợp đồng và
thanh toán nốt số còn lại sau khi giao hàng bằng phương thức nhờ thu.
Bảng 1.2: Tình hình thanh toán theo phương thức nhờ thu
Đơn vị: USD
Năm
Số HĐ xuất
khẩu được ký
Trị giá
Số HĐ thanh toán theo
phương thức nhờ thu (D/P)
Trị giá
2008
17 3,700,000
2 444,000
2009
9 2,000,000
2 300,000
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Công ty qua các năm)
Để đảm bảo an toàn, Công ty chủ yếu sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu
trả tiền đổi chứng từ (D/P) hơn là phương thức nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ
(D/A) và nhờ thu phiếu trơn. Khi đó, chứng từ hàng hoá (hoá đơn, vận đơn, hoặc các
chứng từ vận chuyển khác và nếu cần, hợp đồng hoặc chứng nhận bảo hiểm) cùng với
hối phiếu do Công ty ký phát sẽ được chuyển cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài nhờ
thanh toán.
Vietcombank/BIDV----------------(3)------------------> Ngân hàng đại lý
< ---------------(6)-------------------

Trong các năm vừa qua, các hợp đồng được thanh toán theo phương thức tín dụng chứng
từ đã tăng lên:
Bảng 1.3 :Tình hình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Đơn vị: USD
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
21
Chuyên đề thực tập
Năm
Số HĐ xuất
khẩu được ký
Trị giá
Số HĐ thanh toán
theo phương thức
tín dụng chứng từ
Trị giá
2007 15 3,200,000 10 1,728,000
2008 17 3,700,000 11 1,739,000
2009 9 2,000,000 5 900,000
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Công ty qua các năm)
Trong 3 năm qua, tuy số hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ nhiều hơn 2 phương thức trên, nhưng giá trị không lớn hơn nhiều vì hầu
hết các hợp đồng này được ký với những khách hàng mới nên những đơn hàng đầu
thường nhỏ.
Thông thường, quy trình thanh toán L/C đối với hoạt động xuất khẩu của công ty
Anh Vũ được thực hiện như sau:
- Vietcombank sau khi nhận được L/C hoặc sửa đổi L/C từ ngân hàng phát hành
sẽ thông báo L/C cho Công ty. Công ty có thể nhận L/C giao tại trụ sở của ngân hàng
hoặc qua đường bưu điện hoặc yêu cầu giao tận tay nếu doanh số giao dịch lớn.
- Công ty sau khi nhận được L/C hoặc sửa đổi L/C thì kiểm tra kỹ nội dung của
L/C, đối chiếu với các điều khoản hợp đồng đã ký kết . Nếu thấy không thể thực hiện

toàn bộ chi phí liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đó và tổng doanh thu có được của
hợp đồng.
Công thức tính lợi nhuận: P = TR - TC
Trong đó : P : là lợi nhuận.
TR: là tổng doanh thu.
TC: là tổng chi phí.
- Tỉ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ lệ phần trăm (%)
của lợi nhuận trên tổng doanh thu.
Công thức tính: P’ = P/TR*100
- Hệ số sinh lời của chi phí P’’.
Công thức tính: P’’ = P/TC*100
Trong đó P’’ là hệ số sinh lời của chi phí.
Chỉ tiêu P’ nói lên rằng: tỷ lệ % lãi so với tổng chi phí của doanh nghiệp sau khi thực
hiện hợp đồng, hay khả năng sinh lời của một đồng chi phí. Chỉ tiêu này có thể so sánh
với tỷ suất lãi của ngân hàng hay so với một tiêu chuẩn nào đó.
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
23
Chuyên đề thực tập
- Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu:
Là tỷ lệ giữa tổng chi phí tính bằng ngoại tệ trên doanh thu tính bằng ngoại tệ. Chỉ
tiêu này đem so sánh với tỷ giá hối đoái của ngân hàng, nếu chỉ tiêu trên bé hơn tỷ giá
thì thực hiện đường lối có hiệu quả và ngược lại.
Tỷ suất ngoại xuất khẩu = Chi phí (VND)/Doanh thu (ngoại tệ)
• Chỉ tiêu phản ánh kết quả định tính.
Hợp đồng xuất khẩu cũng như hợp đồng kinh doanh khác của doanh nghiệp không
chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận mà còn nhiều mục tiêu khác như: mở rộng thị trường,
định vị sẩn phẩm, cạnh tranh… Có nhiều doanh nghiệp chịu lỗ để đạt được mục tiêu về
cạnh tranh, mở rộng thị trường, khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường, kết quả này
có được sau một thời gian nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy các
hợp đồng xuất khẩu của mình. Kết quả này biểu hiện ở thị trường xuất khẩu hiện có của

đối thủ cạnh tranh, marketing giúp các doanh nghiệp quảng cáo các sản phẩm của mình
cho nhiều người biết, biện pháp marketing giúp cho doanh nghiệp nâng cao uy tín của
mình quảng cáo, xúc tiến bán hàng giới thiệu cho người tiêu dùng biết chất lượng, giá cả
của sản phẩm mình.
+ Các dịch vụ đi kèm: Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm thì dịch vụ
bán hàng phải phát triển những dịch vụ này giúp tạo tâm lý tích cực cho người mua, khi
mua và tiêu dùng hàng hoá và sau nữa cũng thể hiện trách nhiệm xã hội và đạo đức trong
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là một vũ khí trong cạnh tranh lành mạnh và
hữu hiệu.
+ Chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu những đặc
trưng của nó thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng nhất định,
phù hợp với công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn.
+ Giá sản phẩm: giá cả ảnh hưởng đến khối lượng tiêu dùng sản phẩm, giá rẻ thì khả
năng tiêu thụ sản phẩm sẽ nhanh hơn, khả năng tiêu thụ trên thị trường thế giới sẽ cao
hơn, sẽ xuất khẩu nhiều hơn.
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp.
+ Ban lãnh đạo doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp là nơi xây dựng
những chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp đề ra mục tiêu đồng thời giám sát, kiểm
Nguyễn Văn Hán Quản trị kinh doanh CN & XD 48A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status