Luận văn tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
PHẠM THỊ TÚ ANH
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THEO DỰ ÁN TẠI TỔNG CÔNG TY
TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2011
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đầu tư theo dự án là một hình thức phổ biến, có hiệu quả, là công cụ quản lý
việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong
một thời gian dài. Dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt với sự nghiệp phát triển
kinh tế nói chung và đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Sự thành bại của một
doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư dự án có hiệu quả hay không. Các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã được chủ động trong việc huy động và sử dụng
vốn. Việc triển khai thực hiện hoạt động đầu tư theo dự án giúp doanh nghiệp mở
rộng quy mô, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao năng lực cạnh tranh….
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một tổ chức tín
dụng phi ngân hàng và là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam. Từ ngày đầu thành lập, PVFC xác định hoạt động đầu tư, hợp tác đầu tư, thu
xếp vốn là các sản phẩm, dịch vụ mũi nhọn đưa lại doanh số lớn. PVFC sẽ phát huy
tối đa hạn mức đầu tư dự án được phép, nâng cao khối lượng vốn uỷ thác đầu tư, tập
trung vào các lĩnh vực: Dầu khí, năng lượng, khoáng sản, du lịch cao cấp, vật liệu
xây dựng và tham gia một số dự án ngành khác đạt hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo
an toàn vốn đầu tư. Ngoài việc thu xếp vốn, PVFC còn thực hiện đầu tư, làm chủ đầu
tư trong các dự án như: Dự án thủy điên Sông Vàng, dự án thủy điện Bát đại Sơn, dự
án xây dựng sân Golf – Ninh Bình….
các dự án tổng hợp, các bài viết được đăng trên các tạp chí, các tờ báo, sách, luận án,
các báo cáo hàng năm của Bộ tài chính, các trang Web…để từ đó tiếp cận, gợi mở
một số ý tưởng nghiên cứu.
5. Tên và kết cấu luận văn.
Tên luận văn: “Hoạt động đầu tư theo dự án tại Tổng công ty tài chính
cổ phần dầu khí Việt Nam”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư dự án trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng đầu tư theo dự án tại Tổng công ty tài chính cổ phần
dầu khí Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường đầu tư theo dự án tại Tổng công ty tài
chính cổ phần dầu khí Việt Nam.
2
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 Lí luận chung về dự án đầu tư.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư
Đầu tư là hoạt động sử dựng, kết hợp các nguồn lực (vốn, lao động, tài
nguyên, công nghệ) vào một công việc nhất định ở hiện tại nhằm mục đích thu được
các kết quả ở tương lai. Đầu tư là hoạt động rất đa dạng, phức tạp với nhiều hình thái
như: đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp, đầu tư chuyển dịch, đầu tư phát triển (ĐTPT),
đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài… Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà
người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và cận hành
kết quả đầu tư, còn đầu tư gián tiếp thì người đầu tư chỉ bỏ vốn mà không trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành. Đầu tư chuyển dịch là việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển
quyền sở hữu giá trị của tài sản mà không làm tăng giá trị tài sản. ĐTPT nhằm duy trì
3, khoản 8 quy định: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn
nào đó trong khoảng thời gian xác định”. Ngân hàng Thế giới cho rằng, dự án đầu tư
là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định
nhằm đạt được mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định.
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ:
Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách
chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch nhằm đạt được những kết
quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật tư, lao động để tạo ra cấc kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài.
Xét trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kianh doanh, phát triển kinh tế - xã hội,
làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này, dự án đầu tư là
một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói
chung (Một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự
án).
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tổng thể các hoạt động và chi phí
cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác
định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
4
Luận văn tốt nghiệp
Tuy có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư, nhưng bao giờ
cũng có bốn thành phần chính sau:
+ Các nguồn lực: Vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị, công
nghệ, nguyên vật liệu..v..v..
+ Hệ thống các giải pháp đồng bộ, để thực hiện các mục tiêu, tạo ra các kết
quả cụ thể.
+ Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ
các hoạt động khác nhau của dự án.
đầu tư đạt được mục tiêu đầu tư thì phải bố trí nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)
ngay từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn cuối cùng của chu trình đầu tư. Sẽ thiếu thực
tế nếu dự án đầu tư được lập ra nhưng không được bảo đảm chắc chắn về mặt nguồn
lực. Vì vậy, quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án, vấn đề xác định nguồn lực và
tính khả thi của nó rất quan trọng, quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự
án.
Năm là, về chủ thể tham gia dự án đầu tư. Bất kỳ một dự án đầu tư nào đều có
sự tham gia của các chủ thể bao gồm: chủ đầu tư, các nhà thầu, tổ chức tài trợ vốn và
các cơ quan quản lý.
Sáu là, dự án đầu tư bao giờ cũng được tiến hành trong một thời gian xác định.
Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, mức độ, tính chất của dự án.
1.1.2 Phân loại dự án đầu tư.
Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của hoạt động đầu tư. Có thể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:
- Theo nguồn vốn thì dự án đầu tư có thể phân chia thành:
Một là, dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước phản ánh toàn bộ
những chi phí mà tiền Ngân sách nhà nước bỏ ra dùng cho việc xây dựng mới, mở
rộng, xây dựng lại và khôi phục tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định, bao gồm:
chi phí khảo sát, quy hoạch, chi phí chuẩn bị và các khoản chi phí khác thực hiện
trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư của Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước nên
không có chủ đầu tư đích thực. Vốn nhà nước là sở hữu toàn dân, để thực hiện đầu tư
dự án Nhà nước ủy thác, giao quản lý vốn đó cho tổ chức hoặc cá nhân đại diện cho
vốn Nhà nước được pháp thực hiện các quá trình đầu tư. Việc quản lý vốn đầu tư dự
án của Nhà nước được thực hiện ở nhiều cơ quan, nhiều khâu theo sự phân cấp nhất
định. Đây là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia.
6
Luận văn tốt nghiệp
Hai là, dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước,
vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh: cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng
7
Luận văn tốt nghiệp
thời hạn dài lãi suất thấp cho các nước khác. Một hình thức quan trọng của hình thức
này là vốn ODA.
Vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết đối với sự phát triển dự án đầu tư ở nước
ta. Nhưng cũng cần phải khẳng định một điều đối với sự phát triển đất nước, vốn
trong nước có vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng. Vốn
trong nước quyết định chủ động trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, quyết định thực
hiện thắng lợi các mục tiêu xã hội, quyết định chủ động xây dựng một cơ cấu kinh tế
hợp lý tạo sự phát triển cân đối, quyết định tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm, là bộ phận đối ứng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ sở thuận lợi để thu
hút vốn đầu tư nước ngoài. Còn vốn đầu tư nước ngoài hỗ trợ bổ sung những thiếu
hụt vốn đầu tư góp phần đẩy nhanh mức tiết kiệm nội địa và tăng tỷ trọng vốn đầu tư
nội địa, góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ của nền kinh tế, của các
ngành, góp phần nầng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Năm là, dự án đầu tư bằng bằng nguồn vốn hỗn hợp.
Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn, vai trò của
mỗi nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương
và toàn bộ nền kinh tế cũng như có giải pháp thích hợp đối với việc quản lý các dự án
đối với từng nguồn vốn huy động.
- Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội: Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật, dự án
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kĩ thuật và xã hội)… hoạt động của các dự án đầu tư
này có quan hệ tương hỗ với nhau. Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học
kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh đạt hiệu quả cao, còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt
mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
và các dự án đầu tư khác.
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn đã bỏ ra.
hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu
hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn dự án đầu tư theo
chiều sâu thường đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu,
độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
1.1.3 Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư.
9
Luận văn tốt nghiệp
Chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án
phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ cho đến khi dự án được hoàn thành
chấm dứt hoạt động.
Các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư gồm: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư
và vận hành các kết quả đầu tư (còn gọi là giai đoạn vận hành, khai thác của dự án).
Các bước công việc trong các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư sản xuất công
nghiệp có thể được minh họa như sau:
10
Luận văn tốt nghiệp
Bảng 1.1.3 Các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư.
Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư
Vận hành kết quả đầu
tư (sx, kd, dv)
Nghiên
cứu phát
hiện các
cơ hội
đầu tư
Nghiên
cứu tiền
khả thi sơ
bộ lựa
chọn dự
lắp
công
trình
Thi
công
xây
lắp
công
trình
Chạy
thử và
nghiệm
thu sử
dụng
Sử
dụng
chưa
hết
công
suất
Sử
dụng
công
suất ở
mức
cao
nhất
Công
suất
giảm
Vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản xuất kinh
doanh dịch vụ hay giai đoạn vận hành khai thác của dự án; đời dự án) nhằm đạt được
các mục tiêu của dự án. Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo
tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với
quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và tổ chức quản lý hoạt
động các kết quả đầu tư. Làm tốt công việc của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực
hiện đầu tư tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức quán lý phát huy tác dụng của các kết
quả đầu tư. Thời gian phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư còn được gọi là đời
của dự án hay tuổi thọ kinh tế của công trình, nó gắn với đời sống của sản phẩm (do
dự án tạo ra) trên thị trường.
1.2 Hoạt động đầu tư dự án của doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm.
Đầu tư dự án của doanh nghiệp là một hình thức phổ biến, là công cụ quản lý
việc sử dụng vốn, vật tư, lao động của doanh nghiệp để tạo ra các kết quả tài chính,
kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt với
đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc
rất lớn vào việc đầu tư dự án có hiệu quả hay không.
Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế do đó các yếu tố của nền kình tế
không những là những nhân tố tác động trực tiếp đến doanh nghiệp mà còn tác động
đến hoạt động đầu tư theo dự án của Doanh nghiệp.
Ngoài những đặc điểm chung của dự án đầu tư, dự án đầu tư của doanh
nghiệp có những đặc điểm như:
Thứ nhất, do ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp là khác nhau nên
dự án đầu tư của doanh nghiệp tự bản thân đã có những điểm khác biệt mang đặc
trưng của từng doanh nghiệp, loại hình, ngành nghề.
12
Luận văn tốt nghiệp
Thứ hai, nguồn vốn huy động của từng doanh nghiệp huy động vào dự án đầu
tư cũng khác nhau. Doanh nghiệp có thể đóng vai trò là chủ đầu tư trực tiếp, góp vốn
đầu tư đóng vai trò thứ phát, hoặc liên kết đầu tư.
Luận văn tốt nghiệp
Ưu điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp, vốn sở hữu của
doanh nghiệp nên chủ đầu tư có toàn quyền chủ động quyết định sử dụng chúng. Mặt
khác, nguồn vốn huy động từ nội bộ thường có chi phí cơ hội thấp do đó an toàn hơn
cho chủ đầu tư trong quá trình đầu tư.
Tuy nhiên nếu tăng quá lớn tỉ lệ tài trợ từ vốn nội bộ làm suy giảm khả năng
tài chính hiện tại của công ty, ảnh hưởng đến hoạt động khác của công ty. Làm giảm
tỉ suất sinh lợi vốn có của doanh nghiệp.
Thứ hai, vốn vay: Trong quá trình đầu tư, người ta thường sử dụng các nguồn
vốn vay trung và dài hạn để tài trợ cho dự án, chủ yếu bổ sung vào tài sản cố định.
Doanh nghiệp nhận được các khoản tài trợ này từ những thành phần không
phải là chủ sở hữu của nó sau khi nó được chuyển cho doanh nghiệp. Phải trả lãi cho
các khoản tiền đã vay. Mức lãi suất được trả cho các khoản nợ vay thường theo một
mức ổn định được thoả thuận khi vay. Doanh nghiệp phải hoàn trả lại toàn bộ vốn
vay cho các chủ nợ vào một thời điểm nào đó trong tương lai, ngoại trừ trường hợp là
phiếu tuần hoàn. Công ty có thể phải thế chấp bằng các loại tài sản như hàng hoá các
loại, tài sản cố định, quyền sở hữu tài sản, cổ phiếu hay các biện pháp bảo lãnh cho
vay.
Trường hợp này rủi ro tài chính sẽ phát sinh do doanh nghiệp phải gánh chịu
một khoản lãi phải trả cố định.
Thứ ba, vốn cổ phần: khi khả năng huy động từ nguồn vốn tích luỹ bị hạn
chế, các nhà đầu tư thường tìm nguồn tài trợ mới bằng cách tăng vốn cổ phần. Nhìn
chung không có sự khác biệt đáng kể nào giữa việc huy động vốn từ nội bộ với việc
phát hành thêm cổ phần mới về chi phí tăng vốn ngoại trừ việc phát hành cổ phần
thường làm phát sinh thêm một khoản chi phí phát hành.
Đặc điểm cơ bản của việc tài trợ bằng vốn cổ phần: vốn được tài trợ bởi chủ sở
hữu của các doanh nghiệp cụ thể ở đây là của chủ dự án; không phải trả lãi cho vốn
cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu nếu doanh
nghiệp là ra được lợi nhuận; lợi tức cổ phần chia cho các cổ đông tuỳ thuộc vào quyết
định của Hội đồng quản trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà công ty đạt được;
đem lại kết quả gì, cần có các hoạt động nào để có được kết quả và cuối cùng để đảm
bảo các hoạt động có thể thực hiện được cần có các nguồn lực nào.
Trong đó, mục tiêu của dự án được thể hiện ở 2 mức:
Thứ nhất, mục tiêu tổng thể: mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội
do thực hiện dự án đem lại. Đối với xã hội đó là việc phù hợp với quy hoạch định
hướng phát triển, kinh tế, tạo thêm việc là và sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, bảo vệ tài
nguyên và môi trường sinh thái.
15
Luận văn tốt nghiệp
Thứ hai, mục tiêu trước mắt là mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực
hiện dự án. Đối với doanh nghiệp đó là mục đích thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và vị thế
phát triển mới của doanh nghiệp.
Các kết quả đó là những kết quả cụ thể, có định lượng, được tạo ra từ các hoạt
động khác nhau của dự án.
Các hoạt động là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiên trong dự án
để tạo ra các kết quả nhất định.
Các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành hoạt
động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần
cho dự án.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư dự án của doanh
nghiệp.
1.2.4.1 Khả năng huy động vốn, sử dụng vốn
Vốn đầu tư cho dự án bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định là
vốn đầu tư vào tài sản cố định (máy móc thiết bị, nhà xưởng,…), vốn lưu động là vốn
đầu tư vào tài sản lưu động (nguyên vật liêu, tiền mặt…)
Vốn đầu tư được thực hiện trước khi dự án hoạt động (xây dựng,…) và trong
quá trình dự án hoạt động. Do đó, khi lập dự án đầu tư cần tính toán đầy đủ nhu cầu
vốn của các năm, xác định được nguồn vốn của dự án từ đó xác định được cơ cấu
nguồn vốn cũng như điều chỉnh qui mô dự án cho phù hợp với khả năng huy động
vốn và hiệu quả của dự án.
hạng mục, phải đảm bảo cho dự án có thể đi vào vận hành hoặc hoạt động đúng thời
gian dự định. Đối với các dự án có quy mô lớn, có nhiều hạng mục công trình.kỹ
thuật xây dựng phức tạp, để lập trình thực hiện dự án đòi hỏi phải phân tích một cách
có hệ thống và phương pháp. Cụ thể là liệt kê, sắp xếp, phân tích nhằm xác định:
- Thời gian cần hoàn thành từng hạng mục công trình và cả công trình.
- Những hạng mục nào phải hoàn thành trước, những hạng mục nào có thể làm
sau, những công việc nào có thể làm song song.
- Ngày bắt đầu hoạt động sản xuất.
1.2.4.3 Nguồn lực phục vụ trực tiếp cho dự án
Nguồn lực phục vụ trực tiếp cho dự án bao gồm nguồn cung cấp nguyên vật
liệu đầu vào và nguồn nhân lục.
Nguồn nguyên liệu đầu vào: Nguồn và khả năng cung cấp đều đặn nguyên liệu
cơ bản để sản xuất là điều kiện rất quan trọng để xác định tính sống còn cũng như
tầm cỡ của đa số các dự án. Trong nhiều ngành công nghiệp, việc lựa chọn kỹ thuật
sản xuất, máy móc thiết bị tuỳ thuộc vào các đặc điểm của các nguyên liệu chính,
17
Luận văn tốt nghiệp
trong khi các dự án khác số lượng tiềm năng sẵn có của nguuyên liệu xác định tầm cỡ
của dự án.
Nguồn cung cấp vật liệu cơ bản phải đảm bảo đủ sử dụng trong suốt đời sống
của thiết bị. Nội dung của việc xác định nguyên liệu đầu vào bao gồm:
- Loại và đặc điểm của nguyên liệu cần thiết.
- Tính toán nhu cầu đầu vào cho sản xuất từng năm.
- Tình trạng cung ứng.
- Yêu cầu về dự trữ nguyên vật liệu.
- Nguồn và khả năng cung cấp.
- Chi phí cho từng lịch trình cung cấp.
Nguồn nhân lực: Căn cứ vào yêu kỹ thuật công nghệ và kế hoạch sẽ sản xuất
của dự án để ước tính số lượng lao động cần thiết (lao động trực tiếp,gián tiếp và bậc
thợ tương ứng cho mỗi loại công việc). Nguồn lao động; được chú ý trước hết là số
phù hợp hay không. Nếu một dự án triển khai tại nơi có vị trí địa lý và địa bàn không
phù hợp cho dự án và sản phẩm đầu ra không đáp ứng nhu cầu thì dự án coi như thất
bại. Vùng, lãnh thổ quyết định ngành nghề của dự án đầu tư, công tác triển khai dự
án. Vì thế, nghiên cứu kỹ vị trí địa lý của dự án đầu tư là hết sức quan trọng và cần
thiết.
1.3 Các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả đầu tư theo dự án của doanh nghiệp
1.3.1 Các chỉ tiêu kết quả.
Kết quả của hoạt động đầu tư được biểu hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã được
thực hiện, ở các tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinh doanh
phục vụ tăng thêm. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm tổng số tiền đã chi để
tiến hành các hoạt động của công cuộc đầu tư như là các chi phí cho công tác chuẩn
bị đầu tư, xây dựng nhà cửa và các cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để
tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự
toán và được ghi trong dự án đầu tư.
Chỉ tiêu kết quả của đầu tư theo dự án của doanh nghiệp cũng bao gồm 2 chỉ
tiêu là số lượng dự án được triển khai và quy mô vốn đầu tư theo dự án. Số lượng dự
án là kết quả của dự án đầu tư thể hiện về mặt chiều rộng, đánh giá được phần nào
hoạt động đầu tư dự án của doanh nghiệp. Số lượng và quy mô dự án phản ánh khả
năng của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư dự án. Tùy theo số lượng và quy mô
của dự án có thể đánh giá được sự đầu tư, vị thế và năng lực của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp với nhiều dự án có quy mô lớn thể hiện khả năng quản lý, đầu tư của
doanh nghiệp.
19
Luận văn tốt nghiệp
1.3.2 Các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư theo dự án.
1.3.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư về mặt tài chính theo dự án.
Nghiên cứu dự án về mặt tài chính là một nội dung rất quan trọng của quá
trình thiết lập hay thẩm định một dự án đầu tư. Thông qua phân tích tài chính, chúng
ta xác định được quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, cơ cấu các nguồn tài trợ cho dự
án, tính toán thu chi, lỗ lãi và những lợi ích thiết thực mang lại cho nhà đầu tư và cho
r
B
NPV
00
)1()1(
Trong đó: Ci: Dòng tiền sau thuế của dự án tương ứng với năm i
Bi: Là các khoản đầu tư cho dự án trong năm i
n: Số năm thực hiện dự án.
r: Tỉ lệ chiết khấu mà nhà đầu tư mong muốn hoặc là chi phí sử
dụng vốn bình quân.
Chỉ tiêu giá trị hiện tại cho biết quy mô của dòng tiền (quy đổi về giá trị hiện
tại) có thể thu được từ dự án, một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm (hiện tại là
thời điểm ban đầu khi mà dự án được xuất vốn đầu tư.
* Chỉ tiêu tỉ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR)
20
Luận văn tốt nghiệp
Tỉ lệ hoàn vốn nội sinh là tỉ lệ mà tại đó giá trị hiện tại của các dòng tiền sau
thuế đúng bằng giá trị hiện tại của các khoản đầu tư cho dự án.
IRR là tỉ suất chiết khấu mà tại đó NPV = 0, và được tính theo công thức sau:
21
1
121
)(
NPVNPV
NPV
rrrIRR
−
−+=
Trong đó: r
1
Luận văn tốt nghiệp
hồi vốn đầu tư trước khi kết thúc đời kinh tế của dự án hoặc trước khi máy móc lạc
hậu kỹ thuật.
1.3.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư dự án về mặt xã hội.
Nguồn lực của mỗi đơn vị, mỗi ngành, mỗi địa phương và cả quốc gia đều
khan hiếm và có hạn. Vì vậy, nguồn lực sử dụng cho dự án này sẽ làm giảm nguồn
lực sử dụng cho dự án khác. Bất cứ dự án nào ra đời cũng làm giảm các đầu vào hiện
có của nền kinh tế và làm tăng thêm các đầu ra. Cho nên luôn luôn phải xem xét có
đáng phải mất các đầu vào này để lấy các đầu ra đó không? Tức là phải lựa chọn dự
án sao cho đạt hiệu quả kinh tế quốc dân cao nhất. Vậy thực chất của nghiên cứu kinh
tế dự án là đánh giá các lợi ích và chi phí của dự án, chấp nhận hay loại bỏ dự án
nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Lợi ích kinh tế xã hội chính là sự so sánh giữa lợi ích được dự án tạo ra với cái
giá mà xã hội phải trả để sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhất đối với nền kinh tế
quốc dân.
Lợi ích kinh tế xã hội là lợi ích được xem xét trên phạm vi toàn xã hội, toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, tức là ở tầm vĩ mô. Lợi ích này khác với lợi ích về mặt tài
chính chỉ xem xét ở tầm vi mô liên quan đến từng doanh nghiệp.
Lợi ích kinh tế xã hội của một dự án đầu tư là hiệu số của các lợi ích mà nền
kinh tế quốc dân và xã hội thu được trừ đi những đóng góp mà xã hội phải bỏ ra khi
dự án được thực hiện.
Lợi ích kinh tế mà xã hội thu được có nhiều khi không định lượng được như
sự phù hợp dự án đối với những mục tiêu phát triển kinh tế, những lĩnh vực được ưu
tiên, ảnh hưởng dây chuyền đối với sự phát triển các ngành khác.
Lợi ích kinh tế xã hội cũng được dự tính trên cơ sở các dự báo nên nó cũng có
tính biến động, rủi ro. Lợi ích kinh tế xã hội của dự án được đánh giá thông qua
những chỉ tiêu sau:
- Giá trị gia tăng của dự án.
- Đóng góp cho ngân sách nhà nước.
- Việc làm và thu nhập cho người lao động.
Năm 2004 là năm đột phá trong hoạt động của PVFC, với việc ra mắt HĐQT,
PVFC đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo mô hình mới, triển khai và áp dụng thành
công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000.
23
Luận văn tốt nghiệp
Năm 2005 Công ty tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng, tổng cộng có 7 phòng
giao dịch và 2 Chi nhánh đi vào hoạt động, Tổng tài sản của PVFC đạt 6.828 tỷ đồng.
Năm 2006 Công ty chính thức tăng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng và phát hành
trái phiếu tài chính dầu khí, tổng khối lượng huy động quy đổi 690 tỷ đồng.
Năm 2007 PVFC chính thức tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng, đánh dấu bước
ngoặt quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của Công ty. Trong năm
2007 PVFc phát hành thành công trái phiếu tài chính dầu khí 2007 với tổng khối
lượng huy động đạt 1500 tỷ đồng.
Năm 2008 Công ty chính thức tăng vốn điều lệ lên 5000 tỷ đồng và thực hiện
cổ phần hóa đổi tên thành Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam.
Bảng 2.1.1 Các đơn vị thành viên của PVFC
STT Tên Công ty
Vốn
Điều lệ
Tỷ lệ PVFC nắm giữ
1
Công ty CP Đầu tư và Tư vấn Tài chính
Dầu khí (PVFC Invest) ĐKKD số:
0103017832 ngày 7/6/2007 do Sở KHĐT
Hà Nội cấp
500 tỷ
đồng
49% Trong đó: Vốn PVFC:
11%; Vốn Uỷ thác của
CBCNV: 38%