SKKN Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn lớp 3 - Pdf 47

I. THÔNG TIN VỂ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có
lời văn lớp 3
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lớp 3C, Trường Tiểu học Hòa Bình
3. Tác giả : Nguyễn Thị Phương Lan – nữ
Ngày sinh: 02/7/1974
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Tiểu học
Nhiệm vụ được giao: Giáo viên chủ nhiệm lớp 3C – tổ phó Tổ 2
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hòa Bình
Điện thoại: 01694083369
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường Tiểu học Hòa Bình
Địa chỉ: Thôn Tây Hồ, xã Hòa Bình, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Điện thoại : 0363826105
5. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014-2015

II. BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có
lời văn lớp 3
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lớp 3C, Trường Tiểu học Hòa Bình
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng và giải pháp
Năm học 2016-2017, ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện chương trình đổi
mới, nâng cao chất lượng dạy và học một cách đồng bộ và toàn diện cho tất cả
các cấp học nói chung, tiểu học nói riêng. Căn cứ vào mục tiêu cơ bản của việc
dạy học toán đối với cấp tiểu học đó là: Giúp học sinh có những kiến thức ban
đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượng thông dụng ;
1


một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành các kĩ năng tính, đo
lường, giải toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Góp phần phát

toán đã nêu). Từ đó, các em chọn phép tính, lời giải không thích hợp.Học sinh
tóm tắt bài toán dài dòng, chưa biết lược bỏ những từ ngữ không quan trọng
hoặc lựa chọn cách tóm tắt chưa tối ưu. Khi giải, các câu trả lời của học sinh
không có sự thống nhất, em trả lời kiểu này, em trả lời kiểu kia, lời giải không
phù hợp với phép tính và ngược lại hoặc máy móc, thiếu sáng tạo. Nhiều trường
hợp danh số, đáp số cũng ghi không hợp lí. Nhiều học sinh nắm cách thực hiện
giải toán có lời văn ngay trong tiết học nhưng sau đó thì quên; việc vận dụng kỹ
năng thực hành trở thành“quy trình” hay “đường mòn” và đặc biệt giải bài toán
có lời văn một cách sáng tạo để ứng dụng vào thực tế thì còn nhiều hạn
chế,...Tất cả những điều đó chứng tỏ, khi dạy mảng kiến thức này, giáo viên
chưa thật sự đi sâu vào phương pháp tìm lời giải, mỗi giáo viên lại hướng dẫn
trình bày một kiểu, một cách khác nhau, dẫn đến sự bất hợp lí nói trên.
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
a/ Mục đích của giải pháp
Toán có lời văn là một trong 5 mạch kiến thức cơ bản trong chương trình
toán lớp 3 (Số học và các yếu tố Đại số, các yếu tố Hình học, Đại lượng và đo
Đại lượng, giải toán có lời văn, một số yếu tố thống kê). So với mạch kiến thức
Số học, Hình học và Đo lường, khối lượng mạch Giải toán không nhiều( chiếm
khoảng 9%), song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy
toán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư
duy trìu tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận
thấu đáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn đề của học sinh.
Căn cứ vào mục tiêu và thực trạng của dạy học toán nói chung và giải toán
có lời văn lớp 3 nói riêng , với tầm quan trọng như vậy ,việc dạy giải toán có lời
văn cho HS lớp 3 là một vấn đề không thể xem nhẹ. Vì vậy trong phạm vi của đề
tài này, tôi xin trao đổi một số kinh nghiệm giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 3.
b/ Nội dung giải pháp

3



b.2 Lựa chọn cách trình bày tóm tắt hợp lý:
Tóm tắt bài toán không phải là một phần trong khâu trình bày bài giải,
nhưng là phần quan trọng giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về toàn bộ nội dung
bài toán, từ đó tìm được mối liên hệ cần thiết giữa cái đã cho và cái phải tìm.
Không những thế, lựa chọn tóm tắt phù hợp giúp định hình hướng giải, qua đó
các em biết lựa chọn phép tính thích hợp. Đối với lớp 3 cũng như cấp Tiểu học nói
chung có rất nhiều cách tóm tắt như: tóm tắt bằng lời, hình vẽ, sơ đồ Ven,.. Sử
dụng sơ đồ đoạn thẳng (SĐĐT) là một trong những cách tóm tắt phù hợp đối với
học sinh Tiểu học. SĐĐT không những giúp các em có cái nhìn khái quát về bài
toán mà còn giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa
chúng. Trong những trường hợp không thể sử dụng được SĐĐT mới nên dùng
quy ước bằng lời, hoặc hình vẽ… để tóm tắt.
Để học sinh làm tốt các bài toán hợp thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh
rèn luyện kỹ năng giải các bài toán đơn. Vì vậy, việc rèn cho học sinh thuần thục
khâu tóm tắt các bài toán đơn (chủ yếu bằng SĐĐT) là thật cần thiết. Việc thuần
thục khâu tóm tắt bài toán đơn không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra
lời giải, mà nó còn là cơ sở giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán
hợp.
Ví dụ, với dạng sơ đồ tóm tắt bài toán đơn loại “nhiều hơn” như:
230kg
90 kg

Buổi sáng:
Buổi chiều:
? kg

Ta cũng có dạng sơ đồ tóm tắt cho bài toán hợp tương ứng:
230 kg


? tuổi

Khi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, giáo viên cần lưu ý học sinh dóng thẳng
các vị trí đầu mút có giá trị so sánh. Với các bài toán dạng chia phần hoặc gấp,
giảm, các đoạn thẳng tỉ lệ được chia đều trên sơ đồ cần đảm bảo tính chính xác
tuyệt đối ( sử dụng thước có chia vạch cm hoặc dòng kẻ ôli ). Còn những bài
toán dạng hơn, kém (hoặc nhiều hơn,ít hơn) thì các phần được chia ra chỉ mang
tính ước lệ song cũng phải đảm bảo được độ chính xác tương đối (ước lượng
bằng mắt).
Bên cạnh việc luyện cho học sinh kĩ năng tóm tắt đề toán, giáo viên cũng
cần chú trọng luyện cách nêu bài toán theo tóm tắt rồi giải. Chẳng hạn:
Nêu bài toán theo tóm tắt rồi giải:

Bao gạo :

50 kg
kg

Bao ngô:

15 kg
kg

? kg
kg
6


Bao gạo cân nặng 50 kg, bao ngô cân nặng hơn bao gạo 15 kg. Hỏi bao

toán. Đây chính là quá trình phân tích bài toán để tìm câu trả lời. Cụ thể là tìm
đúng thứ tự của 2 bước tính.
Quá trình phân tích bài toán cho phép ta tách một bài toán hợp (mà học
sinh chưa giải được) thành 2 bài toán đơn (loại mà học sinh quá quen thuộc)quá trình phân tích bài toán để tìm lời giải theo kiểu đi ngược từ câu hỏi đến cái
đã cho. Nhưng trong thực tế, rất nhiều giáo viên đều có chung phương pháp là
hướng dẫn học sinh đi xuôi từ cái đã cho đến câu hỏi.

7


Ví dụ, với bài toán sau: (BT2-Tr50-Toán 3): Thùng thứ nhất đựng 18 lít
dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi cả hai thùng
đựng bao nhiêu lít dầu?
Thực tế nhiều GV hướng dẫn HS giải từng bước như sau:
- Bài toán cho biết gì? (thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng
nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu)
- Vậy muốn biết thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu em làm thế nào?
(lấy 18 + 6 = 24 lít)
- Bây giờ đã biết thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít
dầu. Vậy muốn biết cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu, em làm thế nào?
(lấy 18 + 24 = 42 lít).
Với cách trên rất dễ thực hiện, nó vừa làm cho bài giảng trở lên suôn sẻ,
trôi chảy, lại vừa làm cho học sinh đỡ mệt óc vì không phải động não nhiều. Đó
chính là cách giải toán theo lối tổng hợp. Ở đây, bám theo lời văn của đề bài, ta
lần lượt giải 2 bài toán đơn:
Bài toán 1: …….Tìm số lít dầu ở thùng thứ hai.
Bài toán 2: ……..Tìm số lít dầu ở cả hai thùng.
Kết hợp (tổng hợp) lại ta có cách giải bài toán đã cho.
Song cách trên không đặc trưng cho phương pháp tìm cách giải của các bài
toán trong toán học và trong thực tế. Do đó nó không giúp học sinh nắm được

Quá trình suy nghĩ trên không những giúp học sinh tách được bài toán đã
cho thành 2 bài toán đơn mà còn giúp các em biết cần phải suy nghĩ từ đâu và
thứ tự thực hiện các bước như thế nào.
Trong khi hướng dẫn giải, giáo viên kết hợp ghi sơ lược các bước giải theo
tiến trình phân tích (ngược từ dưới lên). Nhìn vào sơ đồ đó lần lượt đặt lời giải
và viết phép tính một cách dễ dàng.
Cách giải:
9


Thùng thứ nhất + 6
Cả hai thùng = Thùng thứ nhất + Thùng thứ hai
Dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài giải. (Cần làm từ trên xuống)
Nhìn vào “Thùng thứ nhất +6”, ta có phép tính thứ nhất: 18 +6 = 24 (l)
Nhìn vào phần gạch chân thấy chữ “Thùng thứ hai”, ta viết ngay câu lời giải
tương ứng thứ nhất: “Số lít dầu của thùng thứ hai là”:
Nhìn vào Thùng thứ nhất + Thùng thứ hai ta có phép tính thứ hai:
18 +24 = 42 (l)
Nhìn vào gạch chân Cả hai thùng ta có lời giải tương ứng thứ hai
“Số lít dầu của cả hai thùng là.”
Vậy ta được bài giải:
Số lít dầu của thùng thứ hai là:
18 + 6 = 24(l)
Số lít dầu của cả hai thùng là:
18 + 24 = 42(l)
Đáp số: 42 l dầu
b.4 Trình bày bài giải
Khi đã tìm được cách giải bài toán thì việc cuối cùng cần làm là trình bày
bài giải. Giáo viên cần cho học sinh thấy được cấu trúc của bài giải dạng toán có
lời văn. Toán đơn thì 1 lời giải tương ứng là 1 phép tính, 1 đáp số (Lời giải chỉ

Đáp số: 17 cái bàn.
VD2: Có 215 m vải, may mỗi bộ quần áo hết 3 m. Hỏi có thể may được
nhiều nhất bao nhiêu bộ quần áo như thế và còn thừa mấy mét vải?
Bài giải
Thực hiện phép chia, ta có:
215 : 3 = 71 (dư 2)
Vậy có thể may được nhiều nhất 71 bộ quần áo như thế và còn thừa 2 m vải.
Đáp số: 71 bộ, thừa 2m vải
Việc đặt câu lời giải ở các bài toán đơn cũng như các bài toán hợp không có
gì khó khăn. Nếu để ý một chút, ta thấy nội dung câu lời giải thường có 2 phần:
Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần biểu thị.
11


VD: Số lít dầu
Cái cần tìm

đựng ở thùng thứ hai
Phạm vi cái cần tìm biểu thị

Khi hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải, nhiều giáo viên không chú ý đến
điều này nên không có quy định cụ thể. Vì vậy mới xảy ra tình trạng học sinh trả
lời theo cảm tính, lúc thế này, lúc thế khác.Đương nhiên, trừ những trường hợp
nội dung câu trả lời chỉ có một phần thì mỗi phép tính thường có hai cách trả lời.
Để có sự nhất quán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh (và quy định rõ
ràng) cách trình bày câu lời giải: đặt phần 1 (cái cần tìm) lên trước rồi đến phần
2 (phạm vi cái cần tìm biểu thị) hoặc ngược lại.
VD: Trả lời:
- Số lít dầu đựng ở thùng thứ hai là:
- Số học sinh ở mỗi hàng là:

kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.
Tóm lại: Giáo viên phải thực hiện đầy đủ, kĩ lưỡng từng khâu tiến hành
giải một bài toán có lời văn:
a- Bước 1: Đọc bài toán hiểu rõ đâu là dữ kiện, điều kiện của bài toán (cái
đã cho, đã biết), đâu là câu hỏi của bài toán (cái cần tìm).
b- Bước 2: Tóm tắt bài toán để thiết lập mối quan hệ giữa dữ kiện và yêu
cầu của bài. Để làm rõ điều này, giáo viên hướng học sinh tóm tắt bằng
SĐĐT.Trong trường hợp không thể sử dụng SĐĐT thì mới dùng quy ước bằng
lời.
c- Bước 3: Dựa vào dữ kiện, điều kiện và yêu cầu của bài toán, phân tích
bài toán qua hệ thống câu hỏi đi từ cái cần tìm đến cái đã cho.
d- Bước 4: Trình bày bài giải thành 2 bước theo thứ tự ngược lại quá trình
phân tích bài toán (dựa vào kết quả phân tích ở bước 3).
đ- Bước 5: Kiểm tra bài giải: lời giải, phép tính và kết quả tính xem đã phù
hợp và đúng với yêu cầu bài toán chưa. Đây là một yêu cầu bắt buộc giúp học
13


sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá bài làm của mình để tránh được những
sai sót không đáng có.
3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Từ thực tiễn áp dụng các biện pháp trên trong nhiều năm giảng dạy lớp 3
cho thấy, để đạt được mục tiêu dạy học nói chung và dạy giải toán có lời văn lớp
3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì, sáng tạo, tìm tòi các phương pháp để
giải bài toán một cách thích hợp.Giáo viên cần trang bị cho học sinh đầy đủ các
kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng không gò
bó. Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi,
phát hiện đường lối trong giải toán. Tập cho học sinh có kĩ năng phân tích bài
toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả, tập đặt câu hỏi gợi mở cho các bước giải
trong bài toán. Động viên khuyến khích các em đưa ra phương pháp giải gần

3.5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:
Khối 3 trường Tiểu học Hòa Bình năm học 2014-2015
3.6. Các thông tin cần được bảo mật: (Không có)
3.7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
Về trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm trở lên.
Về cơ sở vật chất: Bao gồm: Kinh phí tổ chức chuyên đề sinh hoạt chuyên
môn.
3.8 Tài liệu kèm (Không có)
4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
Tôi xin cam kết những nội dung trình bày trong sáng kiến là những suy
nghĩ và việc làm của tôi và đã áp dụng vào trong thực tế tại lớp 3C trường Tiểu
học Hòa Bình năm học 2016-2017.
CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG

Hòa Bình, ngày 21 tháng 3 năm 2017

SÁNG KIẾN

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

15


Nguyễn Thị Phương Lan

16





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status