Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển bền vững - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
------------------------------------

ĐỖ THANH TUÂN

NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CÁC HUYỆN
VEN BIỂN CỦA TỈNH THÁI BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Chuyên ngành : Thực vật học
Mã số

: 642 01 11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học 1: TS Trần Thị Phương Anh
Người hướng dẫn khoa học 2: TS Hoàng Lê Tuấn Anh

Phản biện 1: …
Phản biện 2: …

Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6. Hà Nội, 21/10/2015. Nxb.
Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội, trang 1250-1256.
4. Hoang Le Tuan Anh, Do Thi Trang, Do Thanh Tuan, Tran
Minh Duc, Tran Thi Phuong Anh, Duong Thi Hai Yen, Nguyen
Xuan Nhiem, Chau Van Minh, Bui Huu Tai, Phan Van Kiem (2015),
Dipeptide and phenolic compounds from the leaves of Cudrania


tricuspidata Carr. Bur and their cytotoxic activity. Tạp chí Hóa học;
tập 53 (5), 580-584; ISSN: 0866-7155, 2015.
5. Hoang Le Tuan Anh, Duong Thi Dung, Do Thanh Tuan,
Bui Huu Tai, Nguyen Xuan Nhiem, Pham Hai Yen, Tran Minh Duc,
Pham Quoc Binh, Nguyen Hoai Nam, Chau Van Minh, and Phan
Van Kiem (2016), New phenolic glycosides from Physalis angulata.
Natural Product Communications; Vol 11 (12), 1859-1860; ISSN:
1555-9476, 2016.
6. Do Thanh Tuan, Do Thi Trang, Nguyen Xuan Nhiem,
Duong Thi Dung, Pham Hai Yen, Trieu Quy Hung, Duong Thi Hai
Yen, Phan Van Kiem, Hoang Le Tuan Anh (2016), Chemical
constituents of Cudrania tricuspidata Carr. Bur and their antioxidant
activity. Tạp chí Dược liệu; tập 21(5), 309-314; ISSN: 1859-4736,
2016.
7. Hoang Le Tuan Anh, Do Thanh Tuan, Do Thi Trang, Bui
Huu Tai, Nguyen Xuan Nhiem, Pham Hai Yen, Phan Van Kiem,
Chau Van Minh, Tran Minh Duc, Hee Kyoung Kang, Youn Chul
Kim and Young Ho Kim (2017), Prenylated Isoflavones from
Cudrania tricuspidata inhibit NO Production in RAW 264.7
Macrophages and Suppress HL-60 Cells Proliferation. Journal of
Asian Natural Products Research; Vol. 19, No 5, 510-518, ISSN:
1028-6020, 2017.

huyện ven biển của tỉnh Thái Bình. Đánh giá được tình hình khai
thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh
Thái Bình.
- Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học 1 đến 2
loài cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững
nguồn tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái
Bình.
1


3. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đề tài góp phần hoàn thiện danh lục và đánh giá đa dạng các
loài cây thuốc ở các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình nhằm phục
vụ nhu cầu chữa bệnh ở địa phương.
4. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị, những điểm mới
của luận án, còn có các chương sau:
- Chương 1. Tổng quan tài liệu: 31 trang
- Chương 2. Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp
nghiên cứu: 10 trang.
- Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 84 trang.

2


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc
trên thế giới
1.1.1. Tình hình điều tra, thống kê

1985 là hơn 43 tỷ USD. Cây cỏ làm thuốc được buôn bán khắp nơi trên
thế giới, doanh số ước tính khoảng 16 tỷ euro. Mỹ đạt 17 tỷ USD
(2004), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro
(2004)...; Dự đoán, nếu phát triển tối đa thuốc cây cỏ từ các nước nhiệt
đới có thể làm ra khoảng 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước
thế giới thứ ba.
1.1.3. Tiềm năng phát triển
Các sản phẩm và dịch chiết tự nhiên từ thực vật chữa bệnh được
nghiên cứu, xác định thành phần hóa học và cấu trúc hóa học cho thấy
có ít nhất 120 hợp chất khác nhau từ thực vật được sử dụng là biệt
dược để cứu sống con người. Các hợp chất này được sàng lọc mới chỉ
khoảng 6% trên tổng số loài thực vật. Như vậy, nguồn tài nguyên thực
vật chưa khai thác cần được điều tra nghiên cứu để chữa trị các bệnh
hiểm nghèo như AIDS, ung thư, đái đường,...là vô cùng lớn.
Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm
thuốc. Khoảng 2.500 loài cây thuốc được buôn bán trên thế giới,
trong đó, 90% thảo dược được thu hái hoang dại. Nguồn tài nguyên
cây thuốc là kho tàng khổng lồ đầy tiềm năng có thể giúp nhân loại
chăm sóc sức khỏe một cách kịp thời và hiệu quả.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc
trên thế giới
Hiện nay trên thế giới mới chỉ có vài trăm loài được trồng, 20
- 50 loài ở Ấn Độ, 100 - 250 loài ở Trung Quốc, 40 loài ở Hungari,
130 - 140 loài ở Châu Âu.
4


Năm 1993, toàn thế giới có 8.619 khu bảo tồn thì đến năm
1997 đã có 12.754 khu bảo tồn được Liên hợp quốc công nhận.
Ngoài ra còn khoảng hơn 17.500 điểm khác không được đưa vào

số 3.200 loài được ghi nhận trong Từ điển cây thuốc Việt Nam.
Trong số đó trên 90% là cây hoang dại và có 144 loài đã được đưa
vào"Bảo tồn các loài cây thuốc quý hiếm, bị đe dọa ở Việt Nam"
(2003) và "Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam" (2006). Theo IMS
Health, Việt Nam thuộc 17 nước có ngành công nghiệp dược đang
phát triển. Thị trường dược phẩm Việt Nam có mức tăng trưởng cao
nhất Đông Nam Á, khoảng 16% hàng năm. Năm 2013 tổng giá trị tiêu
thụ thuốc là 3,3 tỷ USD, tiềm năng xuất khẩu dược liệu có thể đạt 40 50 triệu USD, dự báo sẽ tăng lên khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020.
1.2.3. Tiềm năng phát triển
Số lượng các loại cây cỏ được dùng làm thuốc ngày càng được
ghi nhận nhiều hơn, trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc
mọc tự nhiên. Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên
vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số
chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ. Việt Nam với 54 dân tộc có
truyền thống văn hoá tập quán khác nhau, quá trình khai thác tự
nhiên để tồn tại và phát triển, tích luỹ cho mình các tri thức và kinh
nghiệm sử dụng thực vật để phòng và chữa bệnh. Với nguồn tài
nguyên thực vật phong phú cùng vốn tri thức kinh nghiệm về cây
thuốc dồi dào, đây chính là tiềm năng to lớn để đầu tư nghiên cứu,
tạo ra những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao.
1.2.4. Tình hình nghiên cứu, bảo tồn nguồn tài nguyên cây
thuốc ở Việt Nam
Chính phủ và ngành Y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài
nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng. Những
công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây
6


thuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen
cây thuốc ở các Dự án đầu tư của Nhà nước hay các dự án của Tổ

Thái Bình”.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cây Tầm
bóp (Physalis angulata)
Theo tác giả Võ Văn Chi, ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi
Physalis (thuộc họ Cà - Solanaceae) là P.angulata (Tầm bóp, Lu lu
cái), P.alkekengi (Thù lù kiểng), P.peruviana (cây Lồng đèn, Thù lù
lông) và P.minima (Thù lù nhỏ).
Trái ngược với Việt Nam, các loài thuộc chi Physalis lại được
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu. Nhiều
kết quả khả quan đã được các nhà khoa học trên thế giới công bố. Về
thành phần hóa học thì lớp chất chính của chi Physalis là các
withanolide, rồi đến các labdane diterpene, các sucrose ester, các
flavonoid, các ceramide và một số chất khác. Các hợp chất
withanolide được phân chia thành 2 dạng là các withanolide có
khung không biến đổi và các withanolide có khung bị biến đổi.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cây Mỏ
quạ (Cudrania tricuspidata)
Mỏ quạ có tên khoa học là Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur,
thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), còn gọi là Mỏ quạ ba mũi, Hoàng lồ,
Vàng lồ, Xuyên phá thạch. Ở Trung Quốc, rễ và vỏ cây Mỏ quạ được
dùng để làm trà thảo dược và đồ uống chức năng từ hàng nghìn năm
trước. Cây Mỏ quạ cũng đã được dùng như 1 vị thuốc cổ truyền để
điều trị các bệnh viêm, ung thư, viêm gan, cúm và viêm thần kinh.
Trong vài thập kỷ gần đây, cây Mỏ quạ được coi là một trong những
phương thuốc cổ truyền dùng điều trị bệnh ung thư ở Hàn Quốc. Các
nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy cây Mỏ quạ chứa hàm
lượng cao các hợp chất dạng xanthone và flavonoid với tác dụng
8



2.2.2.Nghiên cứu sơ bộ về thành phần hóa học và hoạt tính
sinh học của một số loài cây thuốc có giá trị
- Thu thập mẫu, tạo dịch chiết metanol phục vụ sàng lọc hoạt
tính.
- Lựa chọn một số mẫu có hoạt tính tốt để tiến hành nghiên
cứu thành phần hóa học.
- Đánh giá lại hoạt tính sinh học của các chất sạch phân lập được.
2.2.3. Đề xuất các giải pháp để quản lý, bảo tồn có hiệu quả
và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại tỉnh Thái
Bình
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Công tác chuẩn bị
- Thu thập tài liệu, sách báo có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
- Kết hợp với các cơ quan chức năng chuyên môn (hóa thực vật).

10


- Thống nhất các biện pháp kĩ thuật với các giáo viên hướng
dẫn và chuẩn bị các điều kiện về tài chính, hậu cần cho công tác điều
tra nghiên cứu.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thực vật
- Phương pháp kế thừa
- Phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến.
- Xác định tên khoa học.
- Xử lý số liệu, các thông tin thu thập được.
- Phương pháp phỏng vấn nhanh.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học
a. Các phương pháp phân lập các hợp chất
Chủ yếu là các phương pháp sắc ký, bao gồm sắc ký cột

không lớn (346 loài) nhưng trong phạm vi giới hạn diện tích của khu
vực này thì tài nguyên cây thuốc ở đây khá phong phú và đa dạng.
3.1.1.2. Đa dạng về bậc họ
Từ các số liệu ở Danh lục các loài cây thuốc cho thấy:
Trong số 6 ngành thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam, ở 2
huyện Thái Thuỵ, Tiền Hải của tỉnh Thái Bình chỉ có 3 ngành:
Ngành Dương xỉ, ngành Thông và ngành Ngọc lan. Trong 3 ngành
cây thuốc hiện có ở đây mức độ đa dạng khá cao. Tuy nhiên, thành
phần của các bậc họ phân bố không đều nhau, trong đó chiếm ưu thế
là cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan chiếm tỉ lệ 97,87% trong tổng số
loài cây thuốc thu được. 2 ngành còn lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
3.1.1.3. Đa dạng về bậc chi
Hai ngành Dương xỉ và Thông có tỉ lệ rất nhỏ, ngành chiếm đa
số vẫn là ngành Ngọc lan với tỷ lệ lên đến 99,26%.
3.1.1.4. Đa dạng về bậc loài
Cũng giống như sự phân bố trong bậc họ và bậc chi, tại khu vực
nghiên cứu đã xác định được 346 loài cây thuốc, tập trung chủ yếu trong
12


ngành Ngọc lan, chiếm đến 99,40% trên tổng số loài đã được ghi
nhận. Ngành Dương xỉ và ngành Thông mỗi ngành chỉ có 01 loài.
Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra số loài cây thuốc phân bố không đều
trong các họ. Có rất nhiều họ chỉ có 1 loài cây thuốc, 03 họ có trên
15 loài và 05 họ có từ 10 đến 15 loài. Từ đó khẳng định, số loài sử
dụng làm thuốc tại Thái Thụy, Tiền Hải của tỉnh Thái Bình chủ yếu
nằm trong ngành Ngọc lan.
3.1.1.5. Đa dạng về dạng sống
Phổ dạng sống cho thấy nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm tỷ lệ
cao nhất, ưu thế hơn hẳn các nhóm khác. Tiếp theo là nhóm cây chồi

mọc hoang ở khu vực đồng ruộng, ven lối đi, đầm lầy, ven bờ biển
với 176 loài, chiếm tỷ lệ 50,87%.
3.1.3. Tiềm năng chữa các nhóm bệnh khác nhau của các
loài cây thuốc (28 nhóm bệnh)
Số loài có tiềm năng chữa các bệnh đường tiêu hóa chiếm
nhiều nhất (181 loài), tiếp theo là chữa các bệnh da liễu (169 loài),
chữa ho, ho ra máu (142 loài), giải độc (101 loài), chữa các bệnh phụ
khoa (95 loài), chữa bệnh thấp khớp (71 loài), chữa rắn cắn (61 loài),
chữa gẫy xương, chấn thương (53 loài), chữa bệnh thận (46 loài),
chữa bệnh sốt rét (37 loài), chữa bệnh về mắt (loài), chữa bệnh viêm
gan (35 loài), giúp an thần (34 loài), chữa bệnh về tim mạch, huyết
áp (33 loài), chữa các bệnh giun sán, côn trùng (31 loài), chữa bỏng
(20 loài), chữa bệnh xơ gan (18 loài), chữa bệnh hen suyễn (17 loài),
chữa bệnh lao (12 loài), chữa bệnh tiểu đường (12 loài), chữa bệnh
còi xương, suy dinh dưỡng trẻ em (9 loài), chữa bệnh trĩ (9 loài),
chữa bệnh ung thư (8 loài), có khả năng làm sổ thai (5 loài), làm an
thai (6 loài), chữa bệnh bại liệt (4 loài), chữa bệnh viêm não (2 loài)
và chữa bệnh béo phì (2 loài).
3.1.4. Một số loài có công dụng mới
14


Có 16 loài có công dụng mới mà tài liệu chưa đề cập đến. Có 2
loài cây thuốc quá trình nghiên cứu đã xác định có chứa các hợp chất
có tính ô xi hóa và chống ung thư mạnh (Tầm bóp, Mỏ quạ).
3.1.5. Các loài thực vật làm thuốc quý, hiếm theo Sách Đỏ
Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014) tại hai huyện ven
biển của tỉnh Thái Bình
Chỉ có 3 loài thuộc phân hạng ít lo ngại (LC - Least concern):
bao gồm các taxon không được coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị

gặp bằng nguồn cây thuốc dễ kiếm ngay tại địa phương.
3.3. Sàng lọc hoạt tính sinh học của một số loài có giá trị
theo tri thức bản địa
Lựa chọn được 20 loài cây thuốc có tiềm năng làm đối tượng
nghiên cứu, nhằm chiết xuất, sàng lọc hoạt tính sinh học để tìm kiếm
các hoạt chất có khả năng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người.
Các mẫu Na, Na biển, Lu lu đực, Cà gai leo, Phì diệp biển và
Cà độc dược cho kết quả sàng lọc hoạt tính tốt. Tuy nhiên, phần lớn
các mẫu này đã và đang được nghiên cứu ở Việt Nam. Tổng hợp kết
quả thử hoạt tính kết hợp với tham khảo các nghiên cứu trên thế giới
phát hiện 2 mẫu Tầm bóp và Mỏ quạ có chứa nhiều hoạt chất có hoạt
tính tốt nhưng lại chưa có nghiên cứu cụ thể nào ở Việt Nam. Trên
cơ sở nghiên cứu bước đầu này có thể định hướng, lựa chọn 2 loài
cây “Tầm bóp” và “Mỏ quạ” trong kế hoạch bảo tồn, ưu tiên phát
triển trong tương lai.
3.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về Cây Tầm bóp và Cây
Mỏ quạ
3.4..1. Kết quả nghiên cứu Mẫu Tầm bóp

16


* Đã phân lập và xác định được cấu trúc hóa học của 15 hợp
chất từ mẫu Tầm bóp; trong đó có 3 hợp chất mới là VPA4, VPA9 và
VPA10.
* Phát hiện được 3 hợp chất (VPA30, 31 và 32) có hoạt tính
gây độc tế bào mạnh đối với các dòng tế bào ung thư phổi A-549,
ung thư cổ tử cung Hela và ung thư tuyến tuỵ PANC1.
* Phát hiện được 2 hợp chất (VPA6 và 13) có hoạt tính chống
oxi hóa, bảo vệ tế bào gan

3.5.2. Nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương
Xác định rõ công tác quản lý, bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng
tâm, cấp bách, thường xuyên và lâu dài để góp phần giảm nhẹ thiên
tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu - nước
biển dâng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm
nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân ven biển, đảm bảo quốc
phòng, an ninh vùng ven biển. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của
người đứng đầu các cơ quan, tổ chức ở địa phương trong công tác
bảo vệ và phát triển rừng. Các tổ chức đoàn thể nhân dân là lực
lượng góp phần quan trọng vào quá trình bảo tồn và phát triển nguồn
tài nguyên cây thuốc tại địa phương.
3.5.3. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhận thức
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, giáo dục
các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý và phát
triển hệ thống rừng ngập mặn (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ…) ven
biển để thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của chúng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế sự tác
động của biến đổi khí hậu, tiềm năng về du lịch sinh thái và tiềm
năng làm thuốc (thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kịp thời
nêu gương, khen thưởng, tuyên truyền trong các chương trình
18


khuyến nông, các buổi tọa đàm, giao lưu, các lớp bồi dưỡng nâng
cao kiến thức; tổ chức hội thi tìm hiểu, phát tờ rơi, lồng ghép vào các
chương trình văn hóa, văn nghệ quần chúng; kết hợp với các trường
học; tổ chức tập huấn ngoài hiện trường về trồng, chăm sóc, bảo vệ
rừng...).
3.5.4. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về

cộng đồng ưu tiên bảo tồn. Giáo dục thế hệ trẻ có ý thức giữ gìn tri
thức bản địa trong sử dụng cây cỏ chưa bệnh.
3.5.6. Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Mở rộng các hình thức đào tạo nghề cho người dân gắn với
chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Đổi mới
phương thức đào tạo theo hướng đào tạo theo vùng quy hoạch, vùng
chuyên canh. Tăng cường tập huấn các kỹ thuật trồng trọt, thu hái
theo tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP, Hữu cơ)…Ưu tiên tập huấn,
xây dựng sản xuất theo tiêu chuẩn, chất lượng mà thị trường cần.
Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Hợp tác
xã Dịch vụ nông nghiệp, có hướng hỗ trợ, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
cho cán bộ quản lý Hợp tác xã.
3.5.7. Giải pháp về phát triển thị trường
Tập trung đề xuất việc triển khai mô hình phối hợp giữa “4
nhà” bao gồm: Nhà nông, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học và Nhà
nước đối với công tác phát triển dược liệu. Ưu tiên hàng đầu cho việc
tìm kiếm, khai thác thị trường thông qua xúc tiến thương mại, hội
thảo, hội chợ…Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tăng cường
công tác truyền thông, xúc tiến đầu tư.
Tóm lại: Thái Bình là vùng đất nông nghiệp màu mỡ, có thổ
nhưỡng phù hợp để trồng nhiều loài thực vật. Cây Hòe của Thái Bình
là sản phẩm dược liệu nổi tiếng, đã cung cấp đến nhiều vùng trong cả
nước. Từ kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy việc trồng và phát
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status