HÒA GIẢI vụ án dân sự và NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT tố TỤNG dân sự - Pdf 47

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Lược sử hình thành
Pháp luật Việt Nam quy định về hòa giải từ rất sớm, ngay từ khi Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời đã thông qua hai Sắc lệnh 13 và Sắc lệnh 51 năm
1946 về trách nhiệm hòa giải của Ban Tư Pháp xã; cùng với chế định này là chế định
hòa giải của Tòa án sơ cấp (trước 1950) và của Tòa án nhân dân Huyện (sau 1950).
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hoạt động hòa giải chủ yếu được tiến hành tại cấp cơ
sở. Sau đó, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã thể chế hóa hoạt động hòa giải tuy
nhiên do đặc điểm của xã hội Việt Nam mà pháp luật vẫn chỉ chú trọng và qui định về
hoạt động hòa giải tại cơ sở.
Chỉ khi Bộ luật TTDS 2004 ra đời và Điều 10 Bộ luật này khẳng định rằng hòa
giải vụ án dân sự tại Tòa án là một nguyên tắc bắt buộc trừ những trường hợp không
hòa giải được hoặc không tiến hành hòa giải được.
1.2. Khái niệm "hòa giải vụ án dân sự"
Định nghĩa hòa giải vụ án dân sự được đề cập đến trong Giáo trình Luật Tố tụng
dân sự - Trường đại học Luật Hà Nội có nội dung như sau: “Hòa giải vụ án dân sự là
hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với
nhau về giải quyết vụ án dân sự.”
Từ định nghĩa này, ta thấy được một số đặc điểm riêng của hòa giải vụ án dân sự
so với các loại hòa giải khác:
Thứ nhất, hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng. Thật vậy, việc hòa giải
vụ án dân sự là một thủ tục bắt buộc (trừ những trường hợp pháp luật quy định không
được hòa giải) trong quá trình tố tụng của một vụ án dân sự và được quy định tại các
điều từ Điều 180 đến Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.

1

1


Thứ hai, cơ quan tiến hành hòa giải vụ án dân sự là Tòa án. Khác với các loại hòa

giải quyết vụ án. Pháp luật tố tụng dân sự quy định trách nhiệm hòa giải của Tòa án để
giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án, nhưng không có nghĩa là
bắt buộc các đương sự phải hòa giải mà chỉ tạo các điều kiện để các đương sự hòa giải
với nhau. Trong quá trình hòa giải, Tòa án với vai trò trung gian giúp các đương sự
hiểu về quyền và nghĩa vụ liên quan tới các tranh chấp, tự nguyện thỏa thuận với nhau
về giải quyết vụ án. Tòa án không được can thiệp vào thỏa thuận của các đương sự
nếu nội dung thỏa thuận đó không trái pháp luật, đồng thời cũng không được để các
đương sự biết về phương hướng giải quyết vụ án nếu phải đưa ra xét xử.
- Nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái với quy định của
pháp luật và đạo đức xã hội. Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, do dó mọi sự thỏa thuận trái pháp luật đều không có giá trị pháp lí. Tòa án
nhân danh nhà nước chỉ có thể công nhận những thỏa thuận của các đương sự nếu các
thỏa thuận đó phù hợp với quy định của pháp luật. Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt
buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, trong quá trình hòa giải, các
đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau nhưng các thỏa thuận đó không phù hợp với
quy định của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì thỏa thuận đó cũng không được
công nhận. Mặt khác, là một hoạt động tố tụng, hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở
của pháp luật và mọi sự thỏa thuận về giải quyết vụ án phải phù hợp với quy định của
pháp luật.
2.2. Phạm vi và nội dung hòa giải vụ án dân sự
a. Phạm vi hòa giải vụ án dân sự
Theo Điều 180 BLTTDS: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án
tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ
những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được”. Như vậy

3

3



trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh,
thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án tiến hành hoà giải để
các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã
hội. Toà án không được hoà giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật
(giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hoà giải
nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó. Trường hợp các bên chỉ
có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc
trái đạo đức xã hội, thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận
với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó.
Thứ hai, về những vụ án không tiến hành hòa giải được, theo Điều 182, những
vụ án này gồm:
- Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
- Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng.
- Đương sự là vợ/chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
Đối với các trường hợp trên, tòa án phải lập biên bản không hòa giải được, nêu rõ
lý do lưu vào hồ sơ vụ án, sau đó đưa ra xét xử tại tòa. Đối với những vụ án này, tòa
không hòa giải được và không có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự. Nếu đương sự tự hòa giải được hoặc rút đơn kiện và hoàn toàn tự nguyện và phù
hợp với quy định pháp luật, tòa có thể đình chỉ việc giải quyết vụ án.Đối với những vụ
án do cơ quan tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác, nếu phải hòa giải thì tòa
không được hòa giải giữa cơ quan, tổ chức khởi kiện với bị đơn mà phải tiến hành hòa
giải giữa bị đơn với nguyên đơn hoặc người đại diện của họ trừ trường hợp pháp luật
quy định không được hòa giải hoặc không hòa giải được.
b. Nội dung hòa giải
5

5




đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến
hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa
giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa
giải”.
- Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt. Đây là điều cần thiết để
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự.
b. Thủ tục phiên hòa giải
Hòa giải vụ án dân sự được tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử sau khi Tòa
án đã thụ lý vụ án dân sự và được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm vụ án dân sự với
thủ tục như sau:
Bước 1: Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa phải đưa ra thông báo về việc
hòa giải giúp các đương sự biết về thời gian và địa điểm, để có sự chuẩn bị đầy đủ và
chi tiết các tài liệu, căn cứ để bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình.1
Bước 2: Tổ chức phiên hòa giải.
Trình tự hòa giải theo điều 185a BLTTDS:
- Trước khi tiến hành hòa giải, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên hòa giải đã được Tòa án thông báo. Thẩm
phán chủ trì phiên hòa giải kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham
gia phiên hòa giải.
- Toà án xem xét các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ án phải giải quyết để
tiến hành hoà giải từng yêu cầu theo thứ tự hợp lý. Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán
phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải
quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình mà tự nguyện thoả thuận
1 Điều 183 BLTTDS

7

7



Thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thuộc về
Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân
công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau
khi được ban hành; không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ có
thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó
là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Đánh giá quy định của BLTTDS về hoạt động quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự:
- Việc không ghi nhận hậu quả pháp lý nếu các đương sự thay đổi ý kiến về sự
thỏa thuận trước đó hợp lý vì điều khoản này chỉ quy định việc “ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự”. Nhưng trong tất cả các điều khoản còn lại của
BLTTDS đều không ghi nhận hậu quả trên là thiếu sót cần thiết phải bổ sung hướng
dẫn thực hiện (VD như trước đây trong quy định của PLTTGQCVADS có quy định rất
rõ tại khoản 2 Điều 44 “… Nếu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày lập biên bản
hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến… thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử”)
- Quy định về việc thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự nếu họ thỏa thuận được với nhau về toàn bộ vụ án. Nhưng thế nào là thỏa
thuận toàn bộ vụ án thì chưa có hướng dẫn cụ thể, và hiện nay còn tồn tại nhiều quan
điểm về vấn đề nộp án phí. Đây là điểm cần làm rõ và thống nhất.
2.5. So sánh với luật cũ, pháp luật nước ngoài
-

So với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự(PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ)

9

việc thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải cho đương sự
biết. Thêm vào đó, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
tham gia phiên hòa giải nếu xét thấy cần thiết. Đây là một quy định hoàn toàn hợp lý
bởi các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong nhiều trường hợp là bên có khả
năng thuyết phục được đương sự để đi đến sự đồng thuận. Ví dụ như vai trò của Hội
10

10


phụ nữ trong hòa giải các vụ án ly hôn; vai trò của Trưởng bản, già làng trong vụ án
giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trong tộc…


Về trình tự hòa giải: BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 bổ sung các quy định mới về
trình tự hòa giải (được quy định tại Điều 185a BLTTDS sửa đổi 2011). Đây là điều
luật hoàn toàn mới, nhằm thiết lập quy trình chính thức cho quá trình hòa giải tiền tố
tụng, tránh sự tùy tiện trong quá trình hòa giải.

-

So với pháp luật về hòa giải của nước ngoài:
Pháp luật Việt Nam tuy luôn có sự tiếp thu học hỏi nhiều điểm tiến bộ của pháp
luật các nước trên thế giới nhưng chúng ta cũng không dập khuôn theo pháp luật nước
khác mà luôn có những điểm khác biệt. Sau đây là một số sự so sánh về vấn đề hoà
giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với pháp luật tố tụng dân sự Trung quốc,
một trong những nước có nhiều quy định pháp luật gần gũi nhất với nước ta.
Theo quy định tại Điều 89 Luật Tố tụng Dân sự của Trung Quốc, khi một thỏa
thuận hòa giải đạt được, tòa án nhân dân cần ra một biên bản hòa giải, tuyên bố rõ
ràng về các vấn đề như các tình tiết trong vụ việc và kết quả hòa giải. Biên bản hòa

Article 91
If no agreement is reached through conciliation or if one party retracts before the conciliation statement is served,
the people's court shall render a judgment without delay.

4
Article 90
The people's court need not draw up a conciliation statement for the following cases when an agreement is reached
through conciliation:
(1). cases of divorce in which both parties have become reconciled after conciliation;
(2). cases in which adoptive relationship has been maintained through conciliation;
(3). cases in which the claims can be immediately satisfied; and
(4). other cases that do not require conciliation statements.
Any agreement that does not require a conciliation statement shall be entered into the written record and shall
become legally effective after being signed or sealed by both parties, the judge and the court clerk

12

12


bản này có hiệu lực ngay sau khi được kí hoặc đóng dấu bởi cả 2 bên, Thẩm phán và
thư ký Tòa án. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, không có trường hợp nào hòa
giải thành mà không cần phải ra biên bản hòa giải thành như quy định của pháp luật
Trung Quốc.
III. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ
1. Về thủ tục hòa giải
Vấn đề: Các quy định quá cứng nhắc ở thủ tục hòa giải trong tố tụng có thể làm
một bên tham gia tranh chấp trục lợi. Pháp luật qui định nếu bị đơn được triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì vụ việc sẽ được đưa ra xét xử. Vấn đề là ở chỗ:
thế nào là triệu tập hợp lệ, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu một bên có mặt một buổi, rồi lại

định công nhận hòa giải của các bên, rồi 15 ngày sau quyết định này mới có hiệu lực
sẽ khiến cho các bên có thời gian suy nghĩ lại hay cố tình kéo dài vụ việc bằng cách
phản đối lại những gì mình đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải trước đó.
Giải pháp: Thiết nghĩ, nên bãi bỏ quy định về thời gian chờ đợi 7 ngày để ra
quyết định công nhận hòa giải các bên. Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận
hòa giải thành, nếu có, chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của thẩm
phán có sai sót, chứ không phải là do đương sự không đồng ý với những gì mình đã
ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng.
3. Về hòa giải trong tranh chấp đất đai

Vấn đề: Ðiều 135 và 136 của Luật Ðất đai năm 2003 bắt buộc các đương sự
phải tiến hành thủ tục hòa giải ở cấp cơ sở. Nhưng việc hòa giải tranh chấp đất đai ở
cơ sở có những vấn đề chưa thống nhất trong nhận thức cũng như cách làm của cán bộ
làm công tác hòa giải. Song những vướng mắc trong vấn đề hòa giải tại địa phương đã
tạo tiền đề cho những vướng mắc, khó xử khi đương sự muốn hòa giải tại Tòa án.

14

14


Khó đưa tranh chấp đất đai ra hòa giải tại Tòa án: trường hợp UBND cấp xã triệu
tập nhiều lần nhưng người bị kiện cố tình không đến, cho nên không thể tiến hành hòa
giải được. Như vậy, nếu người bị kiện cố tình trốn tránh việc tham gia hòa giải thì
tranh chấp sẽ kéo dài thời gian hòa giải mà nếu chưa qua hòa giải được ở địa phương
thì Tòa án không thụ lý đơn khởi kiện mà hiện nay cũng chưa có chế tài nào quy định
xử lý đối với trường hợp này.
Phạm vi hòa giải tại cấp xã và Tòa án không phân định rõ : trong thực tế, tranh
chấp đất đai xảy ra rất nhiều dạng, vậy loại tranh chấp nào phải qua hòa giải tại cấp
xã? Ðây là vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau. Nơi này thì cho rằng chỉ có loại tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status