1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
====================
Khoa: Quản trị kinh doanh
Lớp: B212QT2A
Môn: Quản trị chiến lược
Bài tiểu luận nhóm
Đề tài:
TÌM HIỂU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
VÀ ĐƯA RA ĐIỂM YẾU, ĐIỂM MẠNH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN
GIẢNG VIÊN: TS. NGUYỄN THANH LONG
Sinh viên thực hiện: Nhóm BDT
1/ Nguyễn Thanh Phượng, MSSV: 1264010042
2/ Nguyễn Ngọc Yến Sơn, MSSV: 1264010047
3/ Đoàn Bắc Việt Trân, MSSV: 1264010064
4/ Nguyễn Thành Vân, MSSV: 1264010072
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 8 NĂM 2013
1
2
MỤC LỤC TỰ ĐỘNG
tìm kiếm khả năng thành công trên thương trường khốc liệt ấy, việc xây dựng một chiến lược phù
hợp là yếu tố sống còn giúp doanh nghiệp xác định sự khác biệt để làm nền tảng phát triển và
thành công.
Trong khuôn khổ thực hiện bài tập nhóm môn Quản trị Chiến lược, nhóm BDT lớp
B212QT2A trường Đại học Mở TP.HCM theo đuổi đề tài “Tìm hiểu chiến lược và đưa ra điểm
mạnh, điểm yếu của Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen”, với mục tiêu vận dụng được kiến thức
đã được giảng viên truyền đạt trong quá trình học tập, từ đó học hỏi, rút ra được bài học từ việc
xây dựng chiến lược của một doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. Xa hơn trong tương lai, các
thành viên của nhóm kỳ vọng có thể áp dụng bài học này vào quá trình làm việc sau này.
Nhóm BDT xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Thanh Long, người thầy đã nhiệt tâm truyền
đạt, hướng dẫn chúng em lĩnh hội kiến thức để có thể hoàn thành bài tập này.
3
4
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH THÉP VIỆT NAM
1.1. Tổng quan ngành thép tại Việt Nam
Từ năm 1990 đến nay ngành thép Việt Nam có nhiều đổi mới và tăng trưởng mạnh. Sự
ra đời của Tổng Công ty thép Việt Nam năm 1990 đã góp phần quan trọng vào sự bình ổn và phát
triển của ngành.
Thống kê sản lượng của ngành thép thời kỳ 1990-2008 (ĐV nghìn tấn)
(Nguồn: Hiệp hội thép)
Những năm qua, tuy ngành thép đã được đầu tư đáng kể và có bước phát triển tương đối
khá mạnh (cả quốc doanh và tư nhân), đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, có tiềm lực tăng gấp
về giá của các doanh nghiệp Việt Nam cũng thấp, hầu như hoàn toàn chịu biến động của giá thị
trường thế giới. Như vậy có thể thấy áp lực từ phía nhà cung cấp đối với các doanh nghiệp trong
ngành thép Việt Nam ở mức trung bình.
1.2.2. Áp lực từ khách hàng ở mức trung bình đến cao
Khách hàng tiêu thụ thép là các cá nhân, doanh nghiệp xây dựng và doanh nghiệp sản
xuất máy móc công nghiệp, trong đó áp lực từ khách hàng cá nhân không lớn do họ không có
nhiều thông tin về chất lượng sản phẩm và giá cả cũng như khả năng đàm phán giá thấp.Ngược
lại, khách hàng doanh nghiệp tạo áp lực lớn do các yếu tố sau:
5
6
- Thép xây dựng: nguồn cung trên thị trương hiện đã dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ.
Thép dẹt hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhưng từ năm 2013 trở đi có khả năng nguồn cung thép
dẹt cũng thừa so với nhu cầu.
- Khách hàng doanh nghiệp thường có nhiều thông tin về giá cả, chất lượng sản phẩm,
do đó khả năng đàm phán giá cao, cũng như việc lựa chọn và thay đổi nhà cung cấp dễ dàng.
- Khối lượng đặt mua lớn và việc ký được hợp đồng cung cấp dài hạn với khách hàng
mang lại nhiều lợi ích với doanh nghiệp.
Như vậy có thể thấy sức mạnh của nhóm khách hàng này khá cao, điều này tạo áp lực
cho các doanh nghiệp trong việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán để
có thể thu hút và giữ chân các khách hàng lớn và truyền thống, tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh.
1.2.3. Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn rất cao
Khả năng gia nhập ngành thép của các đối thủ tiềm ẩn cao do chính sách thu hút vốn đầu
tư của Nhà nước và những lỏng lẻo về quy định pháp luật của Việt Nam. Việc tiếp nhận các dự
án đầu tư do các địa phương thực hiện, không có khả năng thẩm định về năng lực vốn cũng như
chưa có các quy định rõ ràng về công nghệ và cam kết về môi trường với các dự án. Điều này
doanh nghiệp nào đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại. Khả năng cạnh tranh tốt hơn
nằm ở các doanh nghiệp có quy mô công suất ở mức tương đối lớn (từ 200.000 tấn/năm) và thành
lập, phát triển sau năm 2002 hoặc các doanh nghiệp liên doanh có ưu thế về vốn, công nghệ, cách
thức quản lý và quảng bá sản phẩm như Pomina, Vinakyoei, Hoa Sen, Việt Úc, Hoà Phát v.v..
Ngược lại một số các doanh nghiệp cán thép thành lập từ trước như thép Đà Nẵng (1992), thép
Miền Trung (1998), Nasteel (1996) v.v. và các xưởng cán thép mini của tư nhân đang mất dần thị
trường và hoạt động không hiệu quả.
Nhìn chung, cạnh tranh trong ngành thép đang ngày càng gay gắt giữa các đơn vị sản
xuất trong ngành, trong đó chủ yếu tập trung vào một số doanh nghiệp mới thành lập trong mấy
năm gần đây.
7
8
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN VÀ CHIẾN
LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY NÀY
2.1. Lịch sử hình thành
Năm 2001: thành lập công ty cổ phần Hoa Sen, tiền nhân của Công ty cổ phần Tập
đoàn Hoa Sen (Hoa Sen Group) hiện nay với ba chi nhánh phân phối - bán lẻ trực thuộc.
Năm 2004: khai trương dây chuyền sản xuất tôn mạ màu 1 công suất 45.000 tấn/năm
công nghệ tiên tiến Nhật Bản, khánh thành tòa nhà trụ sở văn phòng tại Khu công nghiệp Sóng
Thần 2, Dĩ An, Bình Dương.
Năm 2005: Khai trương dây chuyền sản xuất tôn mạ kẽm 1, công suất 50.000
tấn/năm, tại khu công nghiệp Sóng Thần II
Năm 2006:
-
Khởi công xây dựng nhà máy thép cán nguội Hoa Sen, công suất 180.000
Thành lập công ty cổ phần cơ khí và xây dựng Hoa Sen.
-
Sáp nhập các công ty cổ phần tôn Hoa Sen, công ty cổ phần vật liệu xây dựng Hoa
Sen, công ty cổ phần cơ khí và xây dựng Hoa Sen vào Hoa Sen Group, nâng vốn điều lệ lên 570
tỷ đồng.
Năm 2008:
8
-
Thành lập công ty tiếp nhận cảng biển Hoa Sen – Gemadept.
-
Khánh thành giai đoạn 1 nhà máy vật liệu xây dựng.
-
Khánh thành nhà máy tôn mạ hợp kim nhôm kẽm.
9
-
Kinh doanh cảng biển và dịch vụ logistic
Bất động sản:
10
11
-
Kinh doanh bất động sản
-
Xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, sản xuất cấu kiện thép trong xây dựng.
2.4. Tầm nhìn, sứ mệnh, chiến lược kinh doanh
Trở thành một tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam và khu
Tầm nhìn
vực trong lĩnh vực vật liệu xây dựng bằng chiến lược phát
triển bền vững, trong đó tập trung vào các sản phẩm truyền
thống: tôn, thép, nhựa trên cơ sở xây dựng và phát triển chuỗi
lợi thế cạnh tranh cốt lõi: quy trình sản xuất kinh doanh khép
kín, hệ thống phân phối – bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng,
chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng đồng,
hệ thống quản trị và văn hoá doanh nghiệp đặc thù, tiên phong
đầu tư đổi mới công nghệ để mang lại giá trị gia tăng cao nhất
cho cổ đông, người lao động và xã hội.
·
Chất lượng sản phẩm là trọng tâm
·
Lợi ích khách hàng là then chốt
·
Thu nhập nhân viên là trách nhiệm
·
Chia sẻ cộng đồng là nghĩa vụ
Chiến lược kinh doanh:
Tập trung nguồn lực vào lĩnh vực kinh doanh chủ yếu gồm tôn - thép, vật liệu xây
dựng, cảng biển, logistics và bất động sản.
Phát triển năng lực cạnh tranh bền vững của quy trình sản xuất kinh doanh khép kín
để đảm bảo sản phẩm có chất lượng cao và giá thành thấp nhất trong lĩnh vực kinh doanh tôn –
thép, vật liệu xây dựng.
Khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh vượt trội của hệ thống chi nhánh phân phối – bán
lẻ để giữ vững vị thế doanh nghiệp có thị phần lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực tôn – thép.
Đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh, phấn đấu trở thành nhà sản xuất và phân phối
hàng đầu các sản phẩm vật liệu xây dựng cơ bản tại Việt Nam.
Xây dựng và phát triển thương hiệu mạnh và thân thiện.
Phát triển hệ thống chi nhánh bán lẻ lên 200 chi nhánh trên cả nước và 10 trung tâm
kinh doanh vật liệu xây dựng tổng hợp.
mở rộng kênh bán hàng công trình và xuất khẩu.
Đầu tư các dự án bất động sản: Dự án Cao ốc căn hộ Phố Đông – Hoa Sen, Dự án
Căn hộ cao cấp Hoa Sen - Phước Long, Dự án Căn hộ cao cấp Hoa Sen Riverside.
Tiếp tục đầu tư Dự án Liên doanh Khu tiếp vận và Cảng quốc tế Hoa Sen - Gemadept
tại Khu công nghiệp Phú Mỹ I, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tăng vốn điều lệ bằng lợi nhuận giữ lại thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức để
từng bước tái cơ cấu nguồn vốn theo hướng giảm vốn vay tín dụng và phục vụ đầu tư phát triển
nhưng vẫn đảm bảo thu nhập trên mỗi cổ phần duy trì ở mức cao.
Phấn đấu đưa các sản phẩm ống thép, ống nhựa lên vị trí hàng đầu tại thị trường trong
nước.
Thực hiện chính sách sản xuất kinh doanh linh hoạt, năng động theo thị trường.
Thực hiện các chương trình marketing sáng tạo, đa dạng, hiệu quả để xây dựng hệ
thống thương hiệu Hoa Sen ngày càng vững mạnh, tạo uy tín, thân thiện với người tiêu dùng
trong lĩnh vực tôn, thép, vật liệu xây dựng.
Tiếp tục thực hiện tái cấu trúc bộ máy quản lý theo hướng Tập đoàn; thành lập mới
một số công ty con do Tập đoàn Hoa Sen sở hữu 100% vốn.
Xây dựng hệ thống quản trị tiên tiến, hiện đại theo mô hình Tập đoàn.
Triển khai áp dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - ERP.
Hoàn thiện Hệ thống Quản lý chất lượng ISO trong toàn Tập đoàn.
Hoàn thiện các chính sách về tuyển dụng, đào tạo và chiến lược phát triển nguồn
nhân lực.
CHƯƠNG 3. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG
CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN
13
14
Cơ hội gia tăng doanh thu, gia tăng lãi khi nền kinh tế có sự tăng trưởng tốt, các
lĩnh vực khác cần đến sản phẩm xây dựng.
14
15
-
Cơ hội thành công trong kinh doanh khi chọn sản phẩm sản xuất, kinh doanh là
tôn, thép, thuộc nhóm sản phẩm nằm trong lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nền
kinh tế.
-
Cơ hội gia tăng doanh thu, gia tăng lãi khi nền kinh tế có sự tăng trưởng tốt, các
lĩnh vực khác cần đến sản phẩm xây dựng.
Thách thức:
-
Có nguy cơ phải chịu cạnh tranh cao khi các doanh nghiệp khác cũng chọn ngành
công nghiệp xây dựng vì có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế.
-
Nền kinh tế vừa thoát ra khủng hoảng, suy thoái, viễn cảnh phía trước chưa có cơ
15
16
-
Mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới nhờ chính sách ngoại giao tích cực, chủ
động của Đảng và Nhà nước..
Thách thức:
-
Hệ thống pháp luật chưa hoàn toàn đồng bộ và hoàn thiện nên có khả năng phải
đối diện rủi ro khi giải quyết các tình huống pháp luật trong kinh doanh.
-
Phải chịu cạnh tranh với sản phẩm của các nước trong khu vực khi nước ta đã ký
kết các hiệp định thương mại với các nước và khu vực.
3.1.3. Môi trường văn hóa - xã hội
Kinh tế tăng trưởng cũng đã tạo đà thúc đẩy xã hội có những bước phát triển nhất định,
như tỷ lệ người có việc làm tăng, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người dân đều phát
triển. Người tiêu dùng có sự yêu cầu về chất lượng cao hơn khi chọn sản phẩm. Không những
vậy, hình ảnh doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, Hoa Sen đã
nêu trong tầm nhìn của mình “xây dựng chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng
đồng, hệ thống quản trị và văn hoá doanh nghiệp đặc thù, tiên phong đầu tư đổi mới công nghệ để
mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho cổ đông, người lao động và xã hội”.
Một nét đẹp trong văn hóa của dân tộc Việt Nam là “đền ơn đáp nghĩa” và “lá lành đùm
trường mà còn hội nhập về công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý. Tri thức về khoa học kỹ thuật,
về khoa học kinh tế, khoa học quản lý cũng có khả năng nhanh chóng trở nên phổ biến, trở thành
kiến thức chung của nhân loại. Nắm bắt xu hướng toàn cầu hóa này, công ty Hoa Sen đã xây
dựng tầm nhìn và sứ mạng vươn ra khu vực và thế giới: “Trở thành một tập đoàn kinh tế hàng
đầu Việt Nam và khu vực trong lĩnh vực vật liệu xây dựng bằng chiến lược phát triển bền vững,
trong đó tập trung vào các sản phẩm truyền thống: tôn, thép, nhựa trên cơ sở xây dựng và phát
triển chuỗi lợi thế cạnh tranh cốt lõi: quy trình sản xuất kinh doanh khép kín, hệ thống phân phối
– bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng, chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng
đồng, hệ thống quản trị và văn hoá doanh nghiệp đặc thù, tiên phong đầu tư đổi mới công nghệ để
mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho cổ đông, người lao động và xã hội”; “Cung cấp những sản
phẩm mang thương hiệu Hoa Sen, chất lượng quốc tế, giá hợp lý, đa dạng nhằm thoả mãn nhu
cầu của người tiêu dùng, góp phần thay đổi diện mạo kiến trúc đất nước và phát triển cộng đồng”.
Cũng trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 và trở thành thành viên
chính thức của tổ chức này năm 2007 đã mở rộng thị trường của sản phẩm Việt Nam ra thế giới,
cũng đồng thời mở cửa thị trường nội địa cho sản phẩm ngoại nhập, bên cạnh đó tăng thu hút vốn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trong đó có đầu tư vào ngành thép.
Cơ hội:
-
Đưa sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới.
-
Học tập kiến thức, kế thừa kinh nghiệm về sản xuất, quản lý, bán hàng từ các
nguồn nghiên cứu lẫn thực tiễn trên thế giới.
-
Tiếp nhận công nghệ tiên tiến, giúp giảm dần khoảng cách về công nghệ áp dụng
tiêu dùng “…quy trình sản xuất kinh doanh khép kín, hệ thống phân phối – bán lẻ đến tận tay
người tiêu dùng, chuỗi thương hiệu mạnh, thân thiện và hướng đến cộng đồng, hệ thống quản trị
và văn hoá doanh nghiệp đặc thù, tiên phong đầu tư đổi mới công nghệ để mang lại giá trị gia
tăng cao nhất cho cổ đông, người lao động và xã hội”.
Thông tin và truyền thông càng ngày càng phát huy thế mạnh trong việc giúp doanh
nghiệp tiếp cận với người tiêu dùng, quảng bá sản phẩm và thương hiệu. Mạng lưới thông tin
điện tử, truyền thanh, truyền hình, báo, tạp chí,… tạo nên môi trường mở trong việc tìm kiếm và
theo dõi thông tin của mọi người. Công ty Hoa Sen đã tận dụng tối đa mạng lưới thông tin này
như xây dựng trang tin điện tử cho công ty, tham gia tài trợ nhiều chương trình phát thanh, truyền
hình để có cơ hội quảng bá thương hiệu, lãnh đạo công ty tham gia trả lời trên báo, đài để xây
dựng hình ảnh doanh nghiệp, v. v… Tất cả điều này giúp đưa thương hiệu “tôn Hoa Sen” đơn
giản, gần gũi và thân quen đến với người tiêu dùng, gây thiện cảm của người tiêu dùng đối với
“tôn Hoa Sen”.
Cơ hội:
-
Tiếp cận với công nghệ sản xuất tiên tiến.
-
Quảng bá sản phẩm, quảng bá thương hiệu dựa trên hệ thống công nghệ thông tin,
truyền thông.
Thách thức:
-
Tiềm lực tài chính phải đủ mạnh để phục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển
công nghệ sản xuất.
-
kinh doanh khép kín, hệ thống phân phối – bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng…”, nhằm đưa sản
phẩm đến tận tay người tiêu dùng ở các vùng miền, khắc phục các trở ngại do địa hình và khí hậu
có thể làm hạn chế khả năng tiếp cận sản phẩm của người dân sống trên khắp mọi miền đất nước.
Cơ hội:
-
Có lãi từ việc kinh doanh loại sản phẩm phù hợp với điều kiện tự nhiên của tất cả
các vùng miền của đất nước. .
-
Nhờ vị trí địa lý thuận lợi của đất nước, công ty có cơ hội đưa sản phẩm ra thị
trường các nước láng giềng và thế giới.
-
Hệ thống phân phối sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng giúp công ty chủ động
trong việc xây dựng thị trường, kênh phân phối, dễ thu thập ý kiến người tiêu dùng về sản phẩm.
Thách thức:
-
Tiềm lực tài chính và nhân sự phải đủ mạnh để duy trì và phát triển hệ thống phân
phối trực tiếp trải dài khắp địa hình đất nước.
-
Sự đa dạng của thời tiết, khí hậu của mỗi vùng miền đất nước có thể làm xuất phát
các nhu cầu sản phẩm khác nhau cho các công trình xây dựng. Công ty phải có khả năng nghiên
từ đó tăng cơ hội tiêu thụ cho sản phẩm xây dựng.
-
Dân số phân bổ nhiều ở nông thôn nên sản phẩm tôn của công ty có cơ hội được
tiêu thụ nhiều, vì người dân nông thôn có nhu cầu sử dụng tôn để lợp nhà cao hơn thành thị.
-
Có cơ hội tuyển dụng, đào tạo và sử dụng nguồn lao động trẻ từ dân số.
Thách thức:
-
Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, đòi hỏi công ty phải nhạy bén trong việc đón đầu
việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm (tỷ lệ sản xuất tôn – thép, và các sản phẩm xây dựng khác).
-
Tốn chi phí cho việc đào tạo lao động, do nguồn lao động chủ yếu đến từ nông
thôn, thiếu kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp.
-
Giữ được lực lượng lao động giỏi mà công ty đã đào tạo tay nghề. Do nguồn lao
động lành nghề luôn khan hiếm trên thị trường lao động nên có khả năng các lao động của công
ty được mời gọi về các công ty khác.
20
100,00
100,00
24,53
23,24
23,03
22,54
21,81
20,70
dựng
36,73
38,13
38,49
39,47
40,21
40,80
Dịch vụ
Nguồn: Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương
Riêng trong khối ngành thép, có thể hình dung quá trình phát triển như sau:
-
Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất
nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40
ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm.
-
Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và
Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, năm 1990, sản lượng Thép trong nước đã vượt
mức trên 100 ngàn tấn/năm.
-
Năm 1990, Tổng Công ty Thép Việt Nam được thành lập, thống nhất quản lý
ngành sản xuất Thép quốc doanh trong cả nước. Đây là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự án
đầu tư chiều sâu và liên doanh với nước ngoài được thực hiện. Các ngành cơ khí, xây dựng, quốc
phòng và các thành phần Kinh tế khác đua nhau làm Thép mini.
-
Sản lượng Thép cán năm 1995 đã tăng gấp 04 lần so với năm 1990, đạt mức
450.000 tấn/năm, bằng với mức Liên Xô cung cấp cho nước ta hàng năm trước 1990.
Hiện nay, thành phần tham gia sản xuất và gia công, chế biến thép ở trong nước
rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia. Ngoài Tổng công ty Thép Việt
Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có các liên doanh, các công ty
cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Sau 2000, tỉ trọng về sản lượng
của Tổng Công ty Thép Việt Nam giảm chỉ còn 40% so với 100% trước đó. Và đến thời điểm
hiện nay thì chỉ còn khoảng < 30%.
-
Tính đến năm 2002, Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất Thép xây
dựng, không kể các công ty kết cấu thép (chỉ tính các cơ sở có công suất lớn hơn 5.000 tấn/năm),
trong đó có 12 dây chuyền cán, công suất từ 100 ngàn đến 300 ngàn tấn/năm.
(Nguồn: nhathepvietnam.com)
Như vậy, thời điểm công ty Hoa Sen được thành lập (năm 2001) là thời điểm cho thấy
triển vọng rất hứa hẹn của ngành thép Việt Nam, vì thời kỳ 1996 – 2000 trước đó ngành thép có
mức độ tăng trưởng tốt, tiếp tục được đầu tư mạnh, phát triển mạnh sang khu vực tư nhân, đã đưa
vào hoạt động 13 liên doanh, trong đó có 12 liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau
cán. Sản lượng thép cán của cả nước đã đạt 1,57 triệu tấn vào năm 2000, gấp 3 lần so với
năm 1995 và gấp 14 lần so với năm 1990. Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao nhất.
Hiện tại, ngành thép Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề: 1) cạnh tranh với
việc hạ giá của sản phẩm thép nhập khẩu, trong đó có nhập lậu; 2) nhu cầu xây dựng giảm do tình
hình kinh tế chưa hồi phục sau suy thoái; 3) giá điện tăng, xăng dầu tăng làm chi phí sản xuất
tăng theo. Công ty Hoa Sen cũng không tránh khỏi những vấn đề này. Tuy nhiên, trong khối
22
23
gia tăng tính cạnh tranh.
-
Chuẩn bị cho thời kỳ mới trong chu kỳ phát triển của công ty.
CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ ĐIỂM MẠNH,
ĐIỂM YẾU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN
4.1. Quá trình thực hiện chiến lược
4.1.1. Giai đoạn: Bước khởi đầu - bước phát triển vượt trội
Để chuẩn bị cho việc hình thành và phát triển lớn mạnh theo mục tiêu trở thành tập đoàn
kinh tế năng động, bền vững, tập trung chủ yếu trên các lĩnh vực: tôn – thép, vật liệu xây dựng,
bất động sản, đầu tư tài chính, cảng biển và logistics, công ty Hoa Sen đã tiến hành thành lập
công ty con đầu tiên mang tên Công ty cổ phần Tôn Hoa Sen vào tháng 11 năm 2006, khai
23
24
trương văn phòng đại diện tại TP.HCM, vốn điều lệ 320 tỷ đồng và hoàn chỉnh hệ thống phân
phối trực tiếp đến người tiêu dùng tại trên 70 chi nhánh trải dài từ Bắc – Trung – Nam.
Đây được xem là một lợi thế quan trọng trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. Trong
tương lai, Hoa Sen sẽ mở rộng và nâng cấp hệ thống này thành những “Trung tâm thép hoặc Siêu
thị vật liệu xây dựng” để đáp ứng tốt nhất nhu cầu xây dựng ngày càng cao của khách hàng.. Và
mở rộng thị trường xuất khẩu để đưa các sản phẩm mang thương hiệu Hoa Sen khẳng định vị trí
trên trường quốc tế.
Hiện nay, Hoa Sen Group là doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tiên tại Việt Nam đầu
tư xây dựng Nhà máy thép cán nguội (công suất 180.000 tấn/năm) nhằm chủ động sản xuất tôn
doanh nghiệp cùng ngành thì Hoa Sen còn tồn kho số lượng lớn các nguyên liệu như phôi thép,
thép phế, cuộn cán nóng với giá cao gấp 3 lần so với thời giá của 2009, nếu tiếp tục sản xuất thì
buộc phải bán dưới giá thành và chịu lỗ lớn (thép xây dựng từ mức giá bán xấp xỉ 20 triệu đ/tấn ở
thời điểm giữa năm 2008 đã giảm xuống còn 7 – 9 triệu đ/tấn trong những tháng đầu năm 2009).
Ngay trong giai đoạn khó khăn nhất, nhờ chính sách hỗ trợ lãi suất đã giúp các doanh nghiệp
ngành thép được tiếp cận nguồn vốn rẻ để duy trì sản xuất, triển khai các công trình đầu tư trong
ngành thép, tạo điều kiện phát triển ổn định. Chính sách miễn giảm 50% thuế VAT từ mức 10%
xuống 5%, có hiệu lực từ 1/2/2009 đến hết 31/12/2009 cũng giúp các doanh nghiệp có điều kiện
giảm giá bán sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, gói kích cầu trị giá
khoảng 6 tỷ USD có tác động rất tốt đến sức tiêu thụ sản phẩm thép, khiến thị trường thép trong
nước mở rộng đáng kể. Nhiều dự án xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng nhà ở nông thôn, nhà ở
cho công nhân khu công nghiệp, nhà ở cho người thu nhập thấp và nhà ở cho sinh viên được tiếp
thêm vốn đã được triển khai.
Vào thời điểm giá thép hạ, ban giám đốc Hoa Sen đã mạnh dạn nhập về một lượng lớn
phôi thép dự trữ. Và khi tác động của các chính sách hỗ trợ của chính phủ được phát huy thì giá
thép cũng như sản lượng tiêu thụ liên tục tăng. Nhờ đó đã mang về cho Hoa Sen một khoảng lợi
nhuận lớn. Với sự quyết đoán trong kinh doanh của Ban lãnh đạo Tập đoàn Hoa Sen đã tạo nên
một sự thành công vượt quá mong đợi trong năm 2009
Đạt được kết quả kinh doanh tốt trong năm 2009 ta phải nói đến chiến lược kinh doanh
thành công cũng như sự uyển chuyển, nhạy bén của Ban Giám đốc công ty đã chuyển tình huống
25