TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON
------ o0o ------
LÊ THỊ LOAN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC NHÓM
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔITHÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ TỰ NHIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHÓA 54
Ngành: Giáo dục Mầm non
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
ThS. Phạm Thị Yến
Quảng Bình, 2016
1
2
Lôøi caûm ôn
Trong suốt quá trình hoàn thành đề tài khóa luận này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn
chân thành tới quý thầy cô giáo trong Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non,
Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình
Mầm non
2
PP BTNB
Phương pháp bàn tay nặn bột
3
HTN
Hợp tác nhóm
4
PPDH
Phương pháp dạy học
5
GV
Giáo viên
6
TN
Tiêu chí
12
SL
Số lượng
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hợp tác là một đặc trưng cơ bản trong hoạt động của con người.
Từ thủa sơ khai, con người đã có nhu cầu được hợp tác. Cùng với sự phát triển,
con người càng ý thức một cách đầy đủ giá trị của hợp tác trong hoạt động giữa con
người với con người trong xã hội. Con người không thể sống và hoạt động để thỏa mãn
nhu cầu vật chất, tinh thần của mình nếu không có sự hợp tác trong mối quan hệ với
mọi người xung quanh. Sức mạnh của con người chính là xã hội mà ở đó con người hợp
tác với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Như vậy, sự hợp tác nhóm (HTN) là cơ chế
của sự tham gia của mỗi cá nhân vào mối quan hệ xã hội. Đúng như C. Mác đã từng
4
nói: “…trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là sự tổng hòa các mối
quan hệ xã hội.”
Như chúng ta đã biết, kỹ năng HTN có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của con người nói chung và trẻ em nói riêng. Nó chỉ được hình thành khi trẻ được
trực tiếp, chủ động tham gia vào các hoạt động. Theo GS.TS Đặng Thành Hưng, khi có
kỹ năng hợp tác trẻ có thể hiểu sâu sắc, toàn diện và biết đánh giá những ý tưởng của
nhiều người, dễ dàng hoà nhập nhiều hoạt động, nhiều sự kiện khác nhau và trên cơ sở
đó, trẻ sẽ có cơ hội được trải nghiệm, tìm ra nhiều giải pháp dựa trên quá trình gom góp
lý. Chúng ta có thể thấy rằng, hoạt động khám phá MTTN là một trong những phương
tiện quan trọng tạo ra nhiều cơ hội để giúp trẻ hợp tác với nhau cùng chiếm lĩnh tri
thức.
1.4. Để đáp ứng xu hướng đổi mới giáo dục ở bậc học MN, cũng như các
phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp “Bàn tay nặn bột” (PPBTNB) luôn
coi trẻ là trung tâm của quá trình nhận thức, chính trẻ là người tìm ra câu trả lời và nhận
thức về các sự vật hiện tượng xung quanh dưới sự giúp đỡ của cô giáo. Mục tiêu của
BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá thế giới đầy bí ẩn xung quanh trẻ nói
chung và môi trường tự nhiên nói riêng. Ngoài việc chú trọng phát triển nhận thức cho
trẻ, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện phát triển ngôn ngữ, tính mạnh dạn và
đặc biệt là phát triển kỹ năng HTN cho trẻ. Chủ đề của hoạt động khám phá MTTN rất
phong phú, đa dạng và độ phức tạp ngày càng tăng thêm. Vì vậy, trẻ không thể hoạt
động đơn lẻ một mình mà cần có những người bạn đồng hành. Để hoàn thành tốt nhiệm
vụ nhận thức chung đòi hỏi trẻ phải tuân thủ theo những yêu cầu chung và phân công
nhiệm vụ của nhóm. Mặt khác, với sự tham gia vào hoạt động hợp tác nhóm sẽ tạo cho
trẻ cảm giác được thuộc về nhóm, được tôn trọng, tin tưởng, độc lập, bình đẳng trong
công việc. Từ đó, trẻ có trách nhiệm với công việc của mình cũng như thành tích chung
của cả nhóm.
Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy việc hình thành kỹ năng hợp tác nhóm
cho trẻ chưa thực sự được quan tâm đúng mực nên giáo viên (GV) chưa có các biện
pháp dạy học phù hợp. Cho nên, cần phải có một sự nghiên cứu thật cẩn thận, kỹ lưỡng,
những bước thực hiện khoa học, sự kết hợp linh hoạt giữa lý luận và thực tiễn để có thể
đưa ra các biện pháp dạy học hiệu quả nhằm hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ, nâng
cao hiệu quả dạy học. Chính vì thế, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Vận dụng
phương pháp “Bàn tay nặn bột” nhằm phát triển kỹ năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động khám phá tự nhiên.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình vận dụng PP BTNB nhằm phát triển kỹ năng hợp tác nhóm
cuả trẻ 5-6 tuổi.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 12/2015 đến 5/2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu
sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7
Mục đích: Nghiên cứu để giải quyết các vấn đề lý luận như: làm sáng tỏ các thuật
ngữ, khái niệm, bản chất của PP BTNB và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng HTN của trẻ.
Biện pháp: Để thực hiện điều đó chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh, tổng
hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Mục đích: Sử dụng phương pháp quan sát nhằm quan sát kỹ năng hợp tác nhóm
của trẻ 5-6 tuổi thông qua các hoạt động khám phá tự nhiên và các hoạt động khác của trẻ
Biện pháp: Để thực hiện được điều đó chúng tôi tiến hành dự giờ, quan sát và
đánh giá các phương pháp cô giáo sử dụng khi cho trẻ khám phá MTTN.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Mục đích: Sử dụng phương pháp đàm thoại nhằm thu thập một số thông tin cụ
thể, góp phần tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi trao đổi với các GV về PP
BTNB nhằm phát huy kỹ năng hợp tác nhóm của trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động khám phá
tự nhiên. Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua các hoạt động hằng ngày để tìm hiểu
mức độ nhận thức và kỹ năng HTN của trẻ trong hoạt động giáo dục nói chung và hoạt
động khám phá tự nhiên nói riêng.
7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Mục đích: Nhằm thu thập những kinh nghiệm quý báu của các nhà chuyên môn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 3: Quy trình tổ chức phương pháp “Bàn tay nặn bột” và bước đầu thực
nghiệm sư phạm
9
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
VÀ KỸ NĂNG HỢP TÁC NHÓM CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
* Trên thế giới
Phương pháp dạy học (PPDH) "Bàn tay nặn bột", tiếng Pháp là La main à la pâte
- viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa học dựa trên
cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.
Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lý
năm 1992). Tiếp đó, Gieorges Chappak – nhà vật lý người Pháp đã kế tục và triển khai
phương pháp dạy học này tại một số trường tiểu học ở Paris và đạt được những thành
công nhất định.
Tháng 9/1996, ở Pháp diễn ra cuộc hội thảo xung quanh vấn đề dạy Khoa học ở
trường tiểu học, tổ chức tại Treilles. Từ đó, chương trình “Bàn tay bặn bột” được áp
dụng thử nghiệm ở nhiều trường tiểu học của Pháp. Họ chủ trương cho học sinh tiếp
xúc với khoa học và cách nghiên cứu một vấn đề khoa học bằng việc chính các em tự
tiến hành làm thí nghiệm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Sau một năm thực
hiện, bắt đầu từ năm học 2001-2002, PPBTNB chích thức được Bộ Giáo dục Quốc gia
Pháp đưa vào chương trình dạy học các môn khoa học ở trường tiểu học. Sau đó,
để triển khai theo tiêu chí cụ thể: Mỗi năm, mỗi một nội dung có thêm giáo án dạy theo
PPBTNB.
Năm 1999: NXB Giáo dục đã xuất bản lần đầu tiên cuốn sách "Bàn tay nặn bột"
nguyên bản tiếng Pháp của G. Charpak được dịch ra tiếng Việt bởi Đinh Ngọc Lân.
Năm 2001: BTNB đã được phổ biến cho sinh viên khoa Sư phạm Tiểu học ĐHSP Hà Nội I và được áp dụng thí điểm tại trường tiểu học Đoàn Thị Điểm (Hà Nội),
và trường thực hành Nguyễn Tất Thành (thuộc ĐHSP Hà Nội I)
Từ đó đến nay, dưới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam các lớp tập huấn hè
về BTNB đã được triển khai cho các giáo viên cốt cán và các cán bộ quản lý tại nhiều
địa phương trong toàn quốc. Đây là một chương trình trong quan hệ hợp tác văn hoágiáo dục song phương Pháp -Việt.
Năm 2011: Bộ GD-ĐT có quyết định phê duyệt đề án “Triển khai phương pháp
Bàn tay nặn bột ở trường phổ thông giai đoạn 2011-2015” với hai giai đoạn: từ 20112013 thực hiện thí điểm, từ 2014-2015 thực hiện đại trà trên toàn quốc.
PP BTNB là phương pháp mới, phương pháp này chỉ mới áp dụng cho bậc học
tiểu học trở lên. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, áp dụng phương pháp dạy học này
để dạy các môn khoa học ở tiểu học như công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai
11
Hương với đề tài: “Vận dụng phương pháp bàn tay nặn nột trong dạy học khoa học lớp
4” … và một số tác giả khác.
Ở bậc học mầm non đã có công trình nghiên cứu của ThS. Phạm Thị Yến với đề
tài “Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong quá trình tổ chức cho trẻ khám phá
khoa học về môi trường xung quanh ở trường mầm non”.
Từ việc nghiên cứu lịch sử việc vận dụng PP BTNB nhằm phát triển kỹ năng hợp
tác nhóm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá tự nhiên, chúng tôi có thể
khẳng định đề tài nghiên cứu này của chúng tôi đề cập đến vấn đề hoàn toàn mới,
không lặp lại nghiên cứu đã có trước đó với mong muốn góp một phần công sức của
mình vào việc phát triển kỹ năng hợp tác nhóm cho trẻ, nâng cao chất lượng dạy học và
thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non.
1.2. Cơ sở lý luận
người học trong hoạt động dạy học giống Gioerges Charpak nhưng có một vấn đề cần
lưu ý là nhóm nghiên cứu đã nhấn mạnh đến thao tác tư duy trừu tượng, thao tác trí tuệ
ở đây. Tuy nhiên, với với trẻ 5-6 tuổi thì tư duy của trẻ là tư duy trực quan hình tượng,
trẻ chưa thể sử dụng chữ viết để đưa ra kết quả mà trẻ chỉ mới sử dụng ngôn ngữ của
mình để trình bày kết quả nghiên cứu. Để giải quyết nhiệm vụ theo BTNB đòi hỏi trẻ
phải biết cùng nhau thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Cùng với những người bạn đồng
hành của mình trẻ sẽ dễ dàng từng bước chinh phục được chính bản thân mình và thế
giới tự nhiên xung quanh. Sự tập hợp trẻ vào một nhóm hoạt động chung sẽ giúp trẻ học
cách chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ và kinh nghiệm, cùng trao đổi tìm ra các giải pháp tối
ưu để hoàn thành nhiệm vụ.
Trên cở sở phân tích các khái niệm, người nghiên cứu nhận đinh: Bàn tay nặn
bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, áp dụng
giảng dạy cho các môn học tự nhiên. Phương pháp này chú trọng tới việc hình thành
kiến thức cho trẻ em bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu
trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm,
quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc điều tra. Với một vấn đề khoa học, trẻ có thể đặt ra
câu hỏi, giả thiết từ hiểu biết ban đầu, tiến hành thí nghiệm, nghiên cứu, kiểm chứng, so
sánh, phân tích, thảo luận và đưa ra kết luận phù hợp. Phương pháp này kích thích sự
tò mò, ham mê khám phá của trẻ.
1.2.1.2. Đặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”
- Trẻ em, một nhà nghiên cứu… được đỡ đầu tức là cũng giống như một nhà
nghiên cứu thực sự, các em có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết.
Nhưng các em cần được hướng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của cô giáo và hoạt động
trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ
13
hội”. Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của trẻ thông qua việc giáo viên giúp trẻ tự đi lại
chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý: Từ tình huống xuất
14
xây dựng trên cơ sở chương trình giáo dục mầm non nhưng cũng chú ý đến tính tích
cực chủ động của trẻ.
- Nguyên tắc 4: Mỗi chủ đề thực hiện trong nhiều tuần nhưng ít nhất mỗi tuần
phải có một hoạt động học về chủ đề đó. Giáo viên xây dựng hoạt động phải đảm bảo
tính liên tục của các hoạt động và các phương pháp dạy học dựa trên tổng thể nội dung
chương trình.
- Nguyên tắc 5: Trẻ phải có một dụng cụ để thể hiện lại quá trình thực hiện thực
nghiệm của mình.
- Nguyên tắc 6: Mục đích quan trọng của các thử nghiệm là giúp trẻ tiếp cận dần
dần với những kiến thức tiền khoa học, có kỹ năng thao tác thực hành và cũng cố kỹ
năng ngôn ngữ nói.
- Nguyên tắc 7: Phối hợp với gia đình cùng tham gia thực hiện khám phá khoa
học về môi trường xung quanh cho trẻ.
- Nguyên tắc 8: Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung
về các mô đun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải
đáp thắc mắc. Họ cũng có thể tham gia các hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng
nghiệp, với các nhà sư phạm và các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm
giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách” [18, tr. 676].
1.2.1.4. Vai trò của phương pháp “Bàn tay nặn bột” đối với quá trình hình thành kỹ
năng hợp tác nhóm của trẻ
BTNB được hiểu đơn giản là giáo viên đưa cho trẻ “bột”, yêu cầu các em làm ra
một cái “bánh”. Để làm ra cái bánh theo một khuôn mẫu, người ta phải tự tay pha chế,
tự tay nặn bột. Nhưng với trẻ trong PP BTNB, để làm ra được “cái bánh” thì ngoài việc
tự tay nặn bột, trẻ phải biết thiết kế nó theo ý nghĩa sáng tạo của mình mà không dựa
vào một khuôn đúc nào cả. Có nghĩa là giáo viên cung cấp cho trẻ các nguyên liệu cần
thiết như: dụng cụ thí nghiệm, các đồ dùng dạy học, … Trẻ phải phán đoán, lập kế
hoạch, phân chia công việc để tìm ra tri thức và kết quả cuối cùng.
các thao tác của hành động.
Như vậy, theo quan điểm này kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động phù
hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo các tác giả
trên, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động
đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của
hành động.
+ Quan điểm thứ 2:
Quan điểm xem xét kỹ năng từ góc độ không đơn thuần chỉ là mặt kỹ thuật của
hành động mà còn là biểu hiện của năng lực của chủ thể hành động và nhấn mạnh đến
kết quả của hành động.
16
- Các tác giả K.K.Platonop và G.G.Golubev cho rằng: kỹ năng là năng lực của
con người thực hiện công việc có kết quả là một chất lượng cần thiết trong những điều
kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng.
- X.I.Kiêgóp cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống các
hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này”.
- Theo P.A.Ruđích: “Kỹ năng là tác động mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế
của kiến thức đã tiếp thu được để đạt được kết quả trong một hình thức hoạt động cụ
thể”.
- H.D.Levitov thì cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động nào
đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng đúng đắn các hình
thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả.
- Theo TS. Vũ Dũng: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức
hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
- Các nhà Tâm lý học Việt Nam như PGS.TS Ngô Công Hoàn, PGS.TS Nguyễn
Thị Ánh Tuyết, GS Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành cho rằng kỹ năng là một mặt
năng lực của con người thực hiện một công việc có hiệu quả.
phong phú hơn. C.Mác cũng chỉ cho chúng ta thấy: “Sự hợp tác của con người trong
mối quan hệ xã hội không phải dấu cộng về số lượng mà nhờ sự hợp tác tạo nên một
sức lao động chiến đấu có hiệu quả. Sức mạnh của con người cũng chính là xã hội mà ở
đó hợp tác với nhau trong cuộc sống để tồn tại và phát triển.
Như vậy, bất kỳ mỗi một cá nhân nào cũng có một nhóm xã hội là do xã hội quy
định và có vị trí nhất định trong nhóm. Trong nhóm xã hội, mỗi cá nhân đều có mối liên
hệ lẫn nhau và có vai trò của cá nhân trong đó nhóm xã hội là do xã hội quyết định một
cách khác quan. Các cá nhân phải thực hiện vai trò đó theo chức năng của mình trong
sự hợp tác với người khác. Vì thế, vai trò của xã hội tạo thành vai trò của cá nhân cụ
thể.
Trong các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân đều có sự lệ thuộc lẫn nhau. Mỗi
người đều cần người khác để thực hiện mục đích của mình. Sự tham gia như là sự tìm
kiếm mối liên hệ với người khác mà trong đó sự hợp tác là cơ chế chính của sự tham
gia giai đoạn này. Theo quan niệm chung hợp tác là chung sức giúp đỡ nhau trong một
công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đặt mục đích chung.
Dựa trên kết quả phân tích trên chúng tôi thấy rằng hợp tác có thể hiểu như sau:
Hợp tác là quá trình tương tác xã hội, trong đó con người chung sức hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau trong một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích chung.
1.2.2.3. Khái niệm nhóm
Nhóm là một tập thể từ hai người trở lên với những khả năng, năng lực, kinh
nghiệm và nền tảng giáo dục khác nhau cùng đến với nhau ví mục đích chung. Bên
cạnh sự khác biệt của mỗi cá nhân, mục tiêu chung ấy mang lại sợi chỉ xuyên suốt
khẳng định họ là một nhóm.
18
1.2.2.4. Khái niệm kỹ năng hợp tác nhóm
Dựa trên sự phân tích khái niệm “Kỹ năng”, “Hợp tác” và “Nhóm” chúng tôi xác
định kỹ năng hợp tác nhóm như sau:
19
trẻ cũng đã biết tìm cách giải quyết để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nhận thức. Ở tuổi
này, ý thức về bản thân của trẻ đã được phát triển, bước đầu có khả năng tự khẳng định
mình trong tập thể. Ý thức tập thể của trẻ cũng đang được hình thành, trẻ đã biết cùng
hành động với nhau, đặc biệt trẻ đã biết đưa ra các nhận xét, ý kiến về hành động cùng
như kết quả hoạt động của chính mình và các bạn trong lớp.
Với những nội dung và nhiệm vụ nhận thức, cách thức tổ chức, cách đánh giá
mới, là cơ hội để giúp trẻ duy trì hoạt động và thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau bền
vững và hiệu quả hơn. Ở lứa tuổi này sự trao đổi, thoả thuận và thiết lập các mối
quan hệ giữa các thành viên trong nhóm hoạt động đã trở nên thành thục, sự phối
hợp hành động cũng trở nên nhịp nhàng hơn. Trẻ đã biết cùng nhau phân chia nhiệm
vụ cho từng thành viên trong nhóm.
1.2.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng hợp tác nhóm của trẻ
* Sự trưởng thành của bản thân trẻ
Sự lớn lên và phát triển của trẻ là một quá trình diễn ra liên tục theo một trình tự và
quy luật định sẵn. Những thay đổi trong quá trình trưởng thành của trẻ ở lứa tuổi MG cho
phép trẻ giải quyết những tình huống phức tạp hơn. Thông qua các hoạt động hàng ngày trẻ
tiếp tục được phát triển những kỹ năng cần thiết: Kỹ năng vận động, kỹ năng tự phục vụ,
kỹ năng hợp tác cùng chung sống... Những bước tiến trong sự phát triển của cơ thể giúp
cho trẻ trở nên độc lập, mạnh dạn và dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng hơn.
Trẻ càng lớn thì môi trường hoạt động của trẻ càng được mở rộng, trẻ không chỉ
tiếp xúc với những người thân trong gia đình mà còn được tham gia vào các hoạt động
xã hội khác nhau, có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những nguời xung quanh, đặc biệt là
được chơi, hoạt động với bạn. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động xã hội khác
nhau thì vốn kinh nghiệm của trẻ cũng được tăng lên, đồng thời trẻ cũng trở nên mạnh
dạn, tự tin hơn.
Các nhà tâm lý học cho rằng, sự tự ý thức về bản thân đóng vai trò điều chỉnh,
phương pháp, biện pháp, phương tiện dạy học phù hợp cho từng hoạt động.
- Hứng thú thường biểu hiện một cách chủ quan của các trạng thái xúc cảm của
cá thể trong quá trình hoạt động khám phá MTTN, khi hứng thú với công việc chung
đạt đến cao độ sẽ tạo thành niềm đam mê, biểu hiện như một nhu cầu hoạt động do
chính hứng thú tạo nên. Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự hợp
tác của trẻ trong tất cả các hoạt động chung.
* Môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục là những điều kiện cần thiết như: nhà giáo dục, gia đình, cơ
sở vật chất… để tác động đến trẻ nhằm đặt được mục đích giáo dục. Môi trường giáo
dục có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách cho trẻ nói chung và kỹ năng hợp tác cho trẻ nói riêng.
21
Sự hợp tác xuất phát từ gia đình, trong đó bố mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ. Theo
thống kê của nhiều nhà giáo dục: Nếu trong gia đình, người lớn biết quan tâm tạo điều kiện
cho trẻ được tham gia vào các hoạt động xã hội và luôn xem trẻ như một thành viên thực
thụ của gia đình, đối xử với trẻ một cách bình đẳng, cho phép trẻ được nói lên ý kiến của
mình về các vấn đề có liên quan đến trẻ, luôn lắng nghe và tôn trọng trẻ thì sẽ tạo cho trẻ có
cảm giác mình được tin tưởng, mình có giá trị với tư cách là một thành viên của gia đình.
Từ đó trẻ rất tự tin, mạnh dạn và dễ dàng hoà nhập vào các mối quan hệ xã hội.
Trẻ nhỏ học cách hợp tác qua việc quan sát người lớn xung quanh chúng như cho
trẻ thấy sự hợp tác bằng cách làm mẫu. Vì vậy, bố mẹ hãy tập trung việc của mình thay
vì tạo ra sự cạnh tranh bằng sự hợp tác. Sự tác động của bố mẹ sẽ phát huy cao độ và
triệt để những điều kiện bên trong, giúp trẻ dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống xã hội sau
này.
Trường MN là gia đình thứ hai của trẻ, ở đó trẻ có cô giáo, có rất nhiều bạn và
có không gian, thời gian để hoạt động khám phá thế giới bí ẩn xung quanh. Tất cả
những hành động của cô giáo, các bạn đều có tác động rất lớn đều phát triển toàn diện
TS. Trần Lan Hương cho rằng, hoạt động hợp tác là những hành động cần có ít
nhất một người bạn. Nếu nhóm quá nhỏ (2 thành viên) thì trẻ sẽ có được ít cơ hội trẻ
trao đổi ý kiến và tham khảo ý tưởng của nhiều người. Nếu quy mô nhóm quá lớn sẽ
làm cho các mối quan hệ của trẻ trong nhóm trở nên quá phức tạp đối với trẻ. Và như
vậy các mối quan hệ cũng trở nên lộn xộn và phức tạp hơn, trẻ sẽ gặp rất nhiều khó
khăn khi thảo luận, đàm phán, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và thống nhất
trong công việc.
Theo nghiên cứu của TS. Đặng Thành Hưng sự hợp tác của trẻ có hiệu quả nhất
khi trẻ được hoạt động trong nhóm nhỏ từ 3 đến 6 trẻ.
Dựa trên quan điểm của TS. Đặng Thành Hưng, để hình thành kỹ năng hợp tác
cho trẻ MG 5 – 6 tuổi qua hoạt động khám phá MTXQ, chúng tôi sẽ tổ chức hoạt động
hợp tác nhóm cho trẻ theo nhóm nhỏ từ 3 đến 6 trẻ.
* Yếu tố thi đua
Việc thành kỹ năng hợp tác cho trẻ chỉ mang lại hiệu quả khi trẻ được khuyến
khích cùng nhau trao đổi, đàm phán, thoả thuận, chia sẻ kinh nghiệm để cùng bạn trải
nghiệm và khám phá MTTN.
Không khí lớp học là rất quan trọng đối với tâm trạng của trẻ trong mối quan hệ
đối với việc học. Sự tự tin phát triển tốt khi tất cả sự khác biệt của cá nhân được tôn
trọng và chấp nhận. Các em phải hiểu được rõ cô giáo muốn gì ở cả lớp, ở các hành vi
và ở các mối quan hệ của trẻ. Đồng thời, cô giáo phải thừa nhận sự nỗ lực, sự đóng góp
tích cực của trẻ vào trong các hoạt động của lớp.
Việc thi đua với bạn khác để hoàn thành một sản phẩm giống nhau sẽ gây ra sự
chán nản, thất vọng nhiều ở trẻ. Trong hoạt động khám phá MTTN, trẻ có thể thi đua để
23
làm ra những sản phẩm khác nhau hoặc các sản phẩm thay thế phù hợp bằng nhiều cách
khác nhau mà không có sự thất vọng chán nản vì những tình huống xảy ra cho phép
nhiều sản phẩm ở mức độ khác nhau. Giáo viên có thể cung cấp cho trẻ cơ hội để trẻ có
24
có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thành tích chung của nhóm. Mặt khác, với sự
tham gia vào hoạt động hợp tác sẽ tạo cho trẻ cảm giác được thuộc về nhóm, được tôn
trọng, tin tưởng, độc lập, bình đẳng trong công việc. Từ đó, trẻ có trách nhiệm với công
việc của mình cũng như thành tích chung của cả nhóm.
Trong quá trình trao đổi, đàm phán, thoả thuận với bạn trẻ không chỉ học cách bày
tỏ ý tưởng, suy nghĩ của mình cho cô giáo và bạn mà còn học cách lắng nghe và chấp nhận
ý kiến của người khác. Với việc tổ chức các hoạt động theo nhóm nhỏ đã tạo nhiều cơ hội
để cạnh tranh lành mạnh giữa các cá nhân, giữa các nhóm. Sự cạnh tranh này, đã tạo cho
trẻ cảm giác được khuyến khích, được làm chủ chính mình, vì trẻ chính là nguời khám phá
khả năng của mình và của các thành viên khác.
Sự hợp tác đã hình thành sự thiện cảm, mối quan hệ thân mật giữa cá nhân với cá
nhân, giữa nhóm với nhóm, giúp trẻ hiểu nhau hơn, dễ dàng cảm thông và chia sẻ với nhau
hơn. Như vậy, quá trình hoạt động khám phá MTTN đã tạo ra cho trẻ một xúc cảm mới, đó
là sự đồng cảm. Trẻ được rung động, sung sướng khi tận hưởng thành công của mình, của
nhóm và buồn khi bị thất bại, xúc động trước những tình cảm của các bạn dành cho mình.
Chính sự đồng cảm, sự chia sẽ đó đã thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau chặt chẽ, hiệu quả công
việc trở nên tốt hơn.
Tuy vậy, trong suốt quá trình hoạt động hợp tác của trẻ cũng thường xuyên xảy ra
những mâu thuẫn, những tình huống bất thường đòi hỏi trẻ phải tìm cách khắc phục, vượt
qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ nhận thức chung. Để làm được điều đó, đỏi hỏi
trẻ phải biết đàm phán, thoả hiệp với các bạn, biết kiềm chế và điều chỉnh hành vi cũng như
cảm xúc của bản thân phù hợp với yêu cầu chung.
Hoạt động khám phá MTTN là hoạt động có rất nhiều cơ hội để hình thành kỹ năng
hợp tác cho trẻ. Sự hợp tác của trẻ chính là chất kết dính để tạo được sự thành công của
hoạt động khám phá. Tuy vậy, việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trong hoạt động khám
phá MTTN không phải là chuyện dễ dàng mà ngày một ngày hai có thể hình thành được
mà cần phải đuợc tổ chức rèn luyện thường xuyên, liên tục bằng các biện pháp giáo dục