Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND thị xã hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NHAN VĂN TRUYỆN

THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NHAN VĂN TRUYỆN

THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

chính (Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở TP. Hồ Chí Minh) đã tận tình quan
tâm, giúp đỡ, hướng dẫn học viên hoàn thành Luận văn này.
Học viên trân trọng cám ơ n Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốc
gia; gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên học viên hoàn thành
Luận văn này.
Trân trọng cám ơn Quý cơ quan, đơn vị của Thị xã Hà Tiên và các địa
phương khác đã hỗ trợ học viên trong quá trình thực hiện Luận văn này.
Trân trọng cám ơn các thành viên của Hội đồng khoa học đã nghiên cứu,
đánh giá Luận văn của học viên.
Trân trọng cám ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày

tháng 7 năm 2017

HỌC VIÊN

Nhan Văn Truyện


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ, bảng biểu
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 3

thông ........................................................................................................................ 35
1.4.1. Kinh nghiệm của một số địa phương ........................................................ 36
1.4.2. Bài học kinh nghiệm ................................................................................. 38
Tiểu kết chương 1.................................................................................................... 40
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO
CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG ........................................................... 29
2.1. Sơ lược vài nét về công tác triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại
Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên ............................................................................ 41
2.1.1. Tổng quan về Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ....................................... 41
2.1.2. Xây dựng, ban hành thể chế về cơ chế một cửa, một cửa liên thông ....... 42
2.1.3. Tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả .............................................. 45
2.1.4. Bố trí nguồn nhân lực thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ...... 47
2.1.5. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cơ chế một cửa, một cửa liên thông ......... 49
2.2. Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên
thông tại Ủy ban nhân dân Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ................................. 53
2.2.1. Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ................... 53
2.2.2. Tình hình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông .. 60
2.2.3. Mức độ hài lòng của nhân dân trong thực hiện thủ tục hành chính theo cơ


chế một cửa, một cửa liên thông ......................................................................... 64
2.3. Đánh giá chung................................................................................................. 66
2.3.1. Ưu điểm ..................................................................................................... 66
2.3.2. Hạn chế...................................................................................................... 68
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế .............................................................. 71
Tiểu kết chương 2.................................................................................................... 74
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC THỰC
HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA
LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TÌNH KIÊN

STT

Cụm từ viết tắt

Cụm từ đầy đủ

1.

CBCC

Cán bộ, công chức

2.

HĐND

Hội đồng nhân dân

3.

QLNN

Quản lý nhà nước

4.

TTHC

Thủ tục hành chính


chức tại Bộ phận TN&TKQ của UBND Thị xã
Hà Tiên
Kết quả khảo sát về sự hướng dẫn của công

3

Bảng 2.3

chức tại Bộ phận TN&TKQ của UBND Thị xã
Hà Tiên

4

Bảng 2.4

Kết quả khảo sát về công khai TTHC tại Bộ
phận TN&TKQ của UBND Thị xã Hà Tiên
Thống kê số lượng thiết bị được trang bị theo

5

Bảng 2.5

Công văn số 5274/BNV-CCHC tại UBND Thị
xã Hà Tiên

6

Bảng 2.6


Kết quả khảo sát công chức về nguyên nhân
hồ sơ trễ hẹn tại UBND Thị xã Hà Tiên


Thống kê lĩnh vực, số lượng TTHC thực hiện
12

Bảng 2.12

theo cơ chế một cửa liên thông tại UBND Thị
xã Hà Tiên

13

Sơ đồ 2.13

14

Bảng 2.14

Sơ đồ khái quát quy trình thực hiện cơ chế một
cửa liên thông
Kết quả thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa
liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên
Kết quả mức độ đánh giá sự hài lòng của

15

Bảng 2.15


đã có nhiều giải pháp để triển khai thực hiện có hiệu quả việc thực hiện TTHC tại
địa phương mình, trong đó nổi bật là việc thí điểm thực hiện một cơ chế thực hiện
TTHC mới với tên gọi chung là “cơ chế một cửa”1. Qua quá trình triển khai thực
hiện cơ chế này trong thực tiễn giải quyết TTHC đã đem lại những kết quả đáng
khích lệ. Để khẳng định tính hiệu quả của mô hình này, Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số
136/2001QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn
mạnh việc mở rộng cơ chế một cửa2 trong việc giải quyết TTHC tại các cơ quan
hành chính nhà nước. Và sau này, Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên gọi của cơ chế này là “một cửa, một dấu”
Từ năm 2007, theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg thì bên cạnh việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo
cơ chế một cửa còn tổ chức giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông.
1
2


2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục nhấn mạnh và xem cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông như là một bộ phận quan trọng trong việc đơn giản hóa một
cách tối đa quy trình giải quyết TTHC.
Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của cơ chế một cửa, ngày 04 tháng 09
năm 2003 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về
việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương và sau một thời gian thực hiện đã được thay thế bằng Quyết
định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 về việc ban hành Quy chế
thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương. Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ra đời đã bổ sung thêm một
cơ chế mới là “một cửa liên thông”, đây là cơ chế nhằm giải quyết các TTHC
mang tính liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước. Đứng trước những đòi
hỏi ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp trong việc giải quyết TTHC

nhiều TTHC còn được tiếp nhận và giải quyết tại các phòng, ban chuyên môn;
năng lực, tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận CBCC còn hạn chế...
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Thực
hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban
nhân dân Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” làm nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài
Luận văn Cao học Quản lý công của mình với mong muốn làm rõ những ưu điểm
để phát huy, đề ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm hoàn
thiện việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị
xã Hà Tiên.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến vấn đề thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên
thông nói chung hiện nay đang được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Có thể liệt kê những công trình, những ấn phẩm khoa học trên các
phương diện sau đây:
- Các đề tài khoa học, dự án
+ Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước (2009), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế “Một cửa” tại xã, phường,
thị trấn” do TS. Nguyễn Thị Minh Tâm làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã làm sáng

3


rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng cơ chế “một cửa” trong thực
hiện TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, đồng thời đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế này. Tuy nhiên đề tài chỉ dừng ở
việc tập trung nghiên cứu và đánh giá hiệu quả việc thực hiện TTHC của mô hình
một cửa áp dụng tại cấp xã mà chưa đề cập đến mô hình một cửa liên thông nói
chung, tại cấp huyện nói riêng.
+ Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế (2013), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
tỉnh “Xây dựng thí điểm mô hình thống nhất tổ chức, tiếp nhận giải quyết thủ tục

này TP. Hồ Chí Minh chưa triển khai mô hình “một cửa liên thông” nên tác giả
cũng chưa có những luận giải về vấn đề này.
+ Trần Văn Tuấn (2010), Bài viết “Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế
“một cửa, một cửa liên thông” ”đăng trên Tạp chí Cộng sản số 6 (198). Tác giả đã
trình bày một cách khái quát về quá trình cải cách hành chính tại Việt Nam, nêu
lên thực trạng của vấn đề cải cách TTHC theo cơ chế “một cửa, một cửa liên
thông”, đặc biệt là từ khi có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg; đồng thời bài viết
cũng đã đưa ra những hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong
thời gian sắp tới.
+ Tạ Thị Hải Yến (2012), bài viết “Hoàn thiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân” đăng trên website Cục Kiểm
soát Thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu đi
sâu khái quát những tồn tại và hạn chế nói chung của các địa phương trong việc
thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” ; đồng thời tác giả cũng đưa ra một
số giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa, một cửa
liên thông”. Tuy nhiên, bài viết chỉ mới dừng lại ở nội dung khái quát vấn đề chứ
chưa đi sâu phân tích làm rõ những thành tựu cũng như hạn chế của các mô hình
và các giải pháp còn chưa mang tính cụ thể.
+ Đồng Minh (2015), bài viết “Mô hình một cửa liên thông ở Thái Bình:
Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 07/2015. Bài
viết đã khẳng định, để cải thiện môi trường đầu tư tại tỉnh Thái Bình cần đẩy mạnh
công tác cải cách TTHC, trong đó thực hiện cơ chế một cửa liên thông là một giải
pháp trọng tâm, có tính đột phá. Đồng thời, bài viết cũng nêu bật những thành tựu

5


mà tỉnh Thái Bình đã đạt được trong giải quyết TTHC về đầu tư theo cơ chế một
cửa liên thông, được cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư đánh giá cao.


nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng, từ đó tìm ra những thành tựu, hạn chế,
nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, Luận văn chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu về cơ chế một cửa liên thông tại UBND quận mà bỏ qua cơ chế
một cửa.
Nhìn chung, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế một cửa, một
cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước nói chung. Các công trình
nghiên cứu này đã đề cập và luận giải nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn của cơ
chế một cửa, cũng như một cửa liên thông trong thực hiện TTHC. Tuy nhiên các
công trình này chỉ tập trung nghiên cứu về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên
thông tại từng địa phương cụ thể hoặc là những đánh giá chưa mang tính cụ thể,
chưa đi vào nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện TTHC theo cơ chế này. Đặc biệt
đối với Thị xã Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang nói riêng hiện nay chưa có đề tài nào
nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát về thực hiện TTHC theo cơ chế một
cửa, một cửa liên thông.
Từ những khảo cứu nêu trên về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
cho thấy các kết quả nghiên cứu đã giải quyết thấu đáo cơ sở khoa học về thực hiện
TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, phát huy tính hiệu quả của cơ chế
này trong hoạt động thực tiễn. Tuy vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá những
ưu điểm, hạn chế để hoàn thiện việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa
liên thông đang được áp dụng tại Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là cần thiết và
đề tài này không trùng lắp với bất cứ công trình nào đã công bố trước đó. Trong
quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình trước đó nhưng đảm bảo không trùng lắp với các công trình khoa học đã công
bố trước đây.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu cơ bản của đề tài này là nghiên cứu cơ sở lý luận và
pháp lý về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại
UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; đánh giá thực trạng, làm rõ những ưu

- Phương pháp khảo sát tài liệu thứ cấp: tác giả sử dụng phương pháp này để
nghiên cứu hệ thống văn bản QLNN về thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một
cửa liên thông, nghiên cứu các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền và các công

8


trình khoa học, đề tài, đề án, bài báo khoa học có liên quan đã công bố; từ đó tác
giả thực hiện việc đối chiếu, tham khảo số liệu, phục vụ cho việc giải quyết các
vấn đề mà đề tài đặt ra
- Phương pháp phân tích: phương pháp này được tác giả sử dụng để xem xét,
đánh giá một cách cụ thể việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên
thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Theo đó, phương pháp này
được sử dụng để phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện TTHC theo cơ
chế một cửa, một cửa liên thông, đánh giá và phân tích làm rõ thực trạng hoạt động
thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, xác định rõ được những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế.
- Phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để khái quát nội
dung của từng vấn đề trong luận văn, rút ra được những nhận xét, kết luận mang
tính tổng quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện
TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh
Kiên Giang.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác
giả đã sử dụng 02 mẫu phiếu điều tra xã hội học để khảo sát ý kiến của 02 nhóm
đối tượng là: tổ chức, cá nhân đến giải quyết TTHC và công chức làm việc tại bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, để biết
được ý kiến, nhận xét của 02 nhóm đối tượng này đối với một số nội dung có liên
quan đến việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại UBND
Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh… Các

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG
TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1. Thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông
1.1.1. Thủ tục hành chính
1.1.1.1. Khái niệm
Trong mỗi tổ chức, để đảm bảo tính thống nhất và đạt được mục tiêu chung
đã đề ra, các thành viên của tổ chức đó trong quá trình giải quyết công việc phải
tuân thủ theo các quy định, các trình tự, thể thức đã được đặt ra, đây chính là thủ
tục. Hiểu theo nghĩa rộng, thủ tục – procédure (tiếng Pháp), procedure (tiếng Anh)
là “toàn bộ những quy tắc và thể thức cần phải tuân thủ để hành động về pháp lý
trước, trong khi tiến hành một việc cần giải quyết và cho tới khi kết thúc, cũng như
để hoàn thành những văn bản thực hiện bắt buộc” [64, tr.824].
Theo Từ điển Tiếng Việt, thủ tục được hiểu là “những việc cụ thể phải làm
theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [28,
tr.1486]. Theo nghĩa hẹp hơn, thủ tục được xem là một nguyên tắc trong hoạt động
quản lý; theo đó, “thủ tục là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một
trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ
với nhau nhằm đạt kết quả mong muốn: [20, tr.9].
Trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, khi giải quyết một
công việc nhất định thì đều cần phải tuân theo những cách thức, trình tự nhất định.
Những cách thức đó phải tuân theo những quy tắc, những nguyên tắc pháp lý được
quy định một cách cụ thể. Những quy định về trình tự, cách thức thực hiện công
việc từ khi bắt đầu tới khi kết thúc, phạm vi quyền hạn của các cơ quan hành chính
nhà nước khi thực thi công việc được gọi là TTHC. TTHC thể hiện được rằng các
văn bản pháp luật được thực hiện như thế nào, ví dụ như cách thức để đăng ký kinh

dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý ở
nước ta, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện bằng hành
động liên tục theo một trình tự nhất định nhằm đạt mục đích quản lý đã đề ra, được
gọi là TTHC. TTHC có tính bắt buộc các cơ quan hành chính nhà nước cũng như

12


các công chức phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng
và thẩm quyền của mình. TTHC được điều chỉnh bởi quy phạm hành chính, nó bảo
đảm cho các quy phạm vật chất của luật hành chính được thực hiện có hiệu quả
trong đời sống xã hội. Tại Luận văn này, khái niệm TTHC được hiểu theo Nghị
định số 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
1.1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, TTHC được điều chỉnh chủ yếu bằng các quy phạm thủ tục.
Trong hoạt động QLNN cần phải tuân theo những quy tắc pháp lý, quy định
về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền để giải quyết công việc; khoa học
pháp lý gọi đó là quy phạm thủ tục. Quy phạm thủ tục gồm các bộ phận: quy phạm
thủ tục lập pháp (làm Hiến pháp và làm Luật); quy phạm thủ tục tố tụng tư pháp
(giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử); quy phạm TTHC (thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước).
Theo cách hiểu trên, TTHC là một bộ phận trong quy phạm thủ tục, là hoạt
động QLNN tuân theo những quy tắc pháp lý quy định về trình tự, cách thức khi sử
dụng thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong giải quyết
công việc. Và để đảm bào cho sự tuân thủ TTHC thật chặt chẽ thì mọi TTHC đều
phải được quy định bởi pháp luật; tuy nhiên không phải TTHC nào cũng được điều
chỉnh bởi các quy phạm thủ tục theo quy định pháp luật, cụ thể như hoạt động tác
nghiệp trong môi trường nội bộ tổ chức Nhà nước do các quy định, quy chế nội bộ
điều chỉnh.

hậu làm cản trở sự phát triển của xã hội.
1.1.1.3. Cải cách thủ tục hành chính
Tại Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 04/5/1994 về cải cách một bước TTHC
trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, Chính phủ nhận định:
“TTHC mà trước hết là thủ tục tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân vừa
thiếu tính đồng bộ, vừa rườm rà phức tạp; nhiều cơ quan nhà nước đùn đẩy trách
nhiệm giải quyết công việc, cuối cùng công việc không ai giải quyết; thậm chí tự
đặt ra các thủ tục, các khoản phí, lệ phí không đúng thẩm quyền hoặc thu phí, lệ
phí quá mức quy định; không niêm yết công khai TTHC; không bố trí cán bộ đủ
trình độ và phẩm chất làm công việc tiếp nhận và giải quyết công việc; không ít

14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status