BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN THẮNG
CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC
ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN THẮNG
CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC
ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. DƢƠNG QUANG TUNG
Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Thắng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 01
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện .............................................. 10
1.1. Khái niệm công chức, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện ...................................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm công chức ........................................................................... 10
1.1.2. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện ............................................................................................................................. 15
1.2. Khái niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện ................................................... 24
1.2.1. Khái niệm chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện ...................................................................................... 24
1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện ........................................................................... 26
1.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng công chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện .......................................... 35
Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội................ 41
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây và đặc điểm của công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành
phố Hà Nội ................................................................................................................... 41
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 41
việc làm ........................................................................................................ 89
3.2.2. Nâng cao hiệu quả tuyển dụng công chức ................................. 91
3.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng công chức ...................................... 93
3.2.4. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức .................. 94
3.2.5. Nâng cao chất lượng đánh giá công chức .................................. 97
3.2.6. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đãi ngộ với công chức ........... 99
3.2.7. Tăng cường công tác thanh tra công vụ................................... 100
3.2.8. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ, đẩy mạnh
đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tự diễn biến, tự chuyển hóa của công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây ....... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 107
Phụ lục 1 ....................................................................................................... 111
Phụ lục 2 ....................................................................................................... 118
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGDĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
BTTTT
Bộ Thông tin và Truyền thông
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CP
SL
Sắc lệnh
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TS
Tiến sỹ
TT
Thông tư
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Tên bảng
Bảng 2.1
đến năm 2016
Bảng 2.6
Bảng đánh giá các kỹ năng cần thiết đối với công chức
các cơ quan chuyên môn cấp huyện
Bảng 2.7
Bảng đánh giá mức độ thành thạo các kỹ năng cần thiết
đối với công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện
Bảng 2.8
Bảng đánh giá của công dân đối với thái độ, hành vi của
công chức
Bảng 2.9
57
Độ tuổi của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây tính đến năm 2016
Bảng 2.10 Đánh giá của người dân về tiến độ và chất lượng giải
quyết công việc của công chức các cơ quan chuyên môn
58
59-60
Biểu đồ 2.3
Kết quả khảo sát biểu hiện tham nhũng tiêu cực của
công chức
Biểu đồ 2.4
Kết quả khảo sát về việc công chức được bố trí công
việc phù hợp với trình độ chuyên môn
Biểu đồ 2.5
Biểu đổ thể hiện kết quả khảo sát công chức đối với
cách thức đánh giá công chức hiện nay
Biểu đồ 2.6
53
53
56
67
Biểu đổ thể hiện sự hài lòng của người dân đối với
công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân thị xã Sơn Tây
68
2
trong giai đoạn vừa qua, đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình cải cách
hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có tính chuyên
nghiệp cao, xây dựng một Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành
động quyết liệt, phục vụ nhân dân mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã đặt
ra trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, thực trạng công chức nói chung và công chức
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện hiện nay vẫn bộc lộ những
yếu kém, bất cập như Đảng ta đã nhận định: “đội ngũ cán bộ hiện nay xét về
chất lượng, số lượng, cơ cấu nhiều mặt chưa ngang tầm với thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[19], “Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ
công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hoá, biến chất”[18]. Trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu
cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn
thấp; khả năng quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế. Một bộ phận công chức
thoái hoá, biến chất, gây nhũng nhiễu phiền hà, thiếu công tâm, khách quan
khi giải quyết công việc; kỷ luật hành chính lỏng lẻo, bản lĩnh thiếu vững
vàng, lãng phí...bị kỷ luật. Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ
đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút lòng tin
của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết phải nâng cao
chất lượng công chức trong đó có công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp huyện.
Tại UBND thị xã Sơn Tây, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND thị xã trong thời gian qua đã được kiện toàn, bồi dưỡng kỹ năng,
chuyên môn nghiệp vụ nên chất lượng được nâng lên rõ rệt, cơ bản đáp ứng
được những đòi hỏi rất khắt khe của thời kỳ mở cửa, hội nhập. Tuy nhiên,
bên cạnh những ưu điểm, chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND thị xã Sơn Tây vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như:
trình độ, năng lực, kỹ năng của một số công chức chưa đáp ứng được yêu
4
phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất
lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu hiện nay.
- Nguyễn Kim Diện (2006), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
hành chính tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội.
Luận án đã hệ thống được những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng
đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương nói riêng. Đồng thời
đã phân tích và rút ra những đánh giá thực trạng đó một cách khách quan,
chính xác về một số ưu điểm và hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức
hành chính sự nghiệp nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới. Luận án
cũng đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp quan trọng,
phù hợp, nêu lên những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới. Song tác giả
luận án mới chỉ dừng lại ở độ ngũ công chức hành chính trên phạm vi cấp tỉnh
chứ chưa chuyên sâu về đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn ở cấp
huyện vốn có những đặc thù nhất định so với các cấp khác trong bộ máy quản
lý hành chính nhà nước.
- Vũ Quang Dương (2007), Xây dựng đội ngũ công chức trong điều
kiện nhà nước pháp quyền qua thực tiễn Quận Cầu Giấy, Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, Đại học quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
Luận văn đi sâu nghiên cứu chế độ công chức của Việt Nam và kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới, qua thực trạng đội ngũ công chức quận
Cầu Giấy, tác giả làm sáng tỏ những bập cập, hạn chế của đội ngũ công chức
ở Việt Nam hiện nay; những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến đội ngũ công
chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dựng nhà nước pháp quyền và nhiệm vụ mới, cần phải nghiên cứu một số mô
6
hình công vụ, công chức của một số nước tiên tiến và những nước có điều
kiện gần giống với Việt Nam để thấy rõ hơn những vấn đề về công vụ, công
chức ở Việt Nam, từ đó có giải pháp đổi mới công tác cán bộ, nhanh chóng
khắc phục những mặt còn hạn chế là việc làm rất cần thiết.
Trong nội dung cuốn sách, các tác giả tập trung phân tích, giới thiệu
những vấn đề: bộ máy quản lý công chức; tuyển chọn công chức; chế độ công
trạng, luân chuyển công chức; đào tạo, bồi dưỡng công chức; chế độ kiểm tra,
đánh giá công chức; chế độ, chính sách đối với công chức; ở Nhật Bản, Hoa
Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc. Từ việc khảo cứu các mô hình
công vụ, công chức của một số nước trên thế giới, các tác giả rút ra một số
nhận xét chung và đề xuất kiến nghị nhằm đổi mới công tác cán bộ của Việt
Nam cho phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của đất nước trong giai
đoạn mới.
- Chu Xuân Khánh (2010), Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công
chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên
ngành Quản lý hành chính công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
Nội dung luận án tác giả chủ yếu đề cập đến những quan niệm về
công chức nhà nước của một số quốc gia khác nhau, làm cơ sở việc
phântích, so sánh với thực tiễn ở Việt Nam, từ đó góp phần vào việc hệ
thống hóa cơ sở lý luận về đội ngũ công chức hành chính nhà nước và tính
chuyên nghiệp của đội ngũ này. Luận án đưa ra quan niệm về tính chuyên
nghiệp của đội ngũ công chức hành chính nhà nước, những biểu hiện của
tính chuyên nghiệp và hệ thống chuẩn mực của đội ngũ công chức hành
chính nhà nước chuyên nghiệp. Tác giả đã hệ thống lại quá trình hình thành
và phát triển của đội ngũ công chức ở Việt Nam qua các giai đoạn cách
thuộc UBND thị xã Sơn Tây trong thời gian tới.
8
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng công chức.
- Phân tích thực trạng chất lượng công chức tại UBND thị xã Sơn Tây.
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng chất lượng công chức các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã
Sơn Tây.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về chất lượng công chức các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây.
-Về thời gian: Luận văn nghiên cứu trong năm 2016.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về công tác cán bộ, chất lượng cán bộ, công chức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích
- tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử - cụ thể và phương
pháp điều tra, khảo sát.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Góp phần vào hệ thống hoá lý luận về công chức các cơ quan chuyên
1.1.1. Khái niệm công chức
Công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế
giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một
quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã thực hiện chế độ công chức thì
công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một
công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa
phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước. Với quan niệm như thế để trở thành người
công chức cần phải thỏa mãn sáu điều kiện sau:
- Là công dân của nước đó
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển
- Giữ một công vụ thường xuyên
- Làm việc trong một công sở
- Lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước [31].
Ở một số nước, công chức chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản
lý nhà nước. Có những nước, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt
động quản lý nhà nước, công chức còn được áp dụng cho những người làm
trong các cơ quan dịch vụ công. Từ năm 1859 ở vương quốc Anh, người ta đã
xác định hai bộ phận của công chức như sau: Những người do nhà Vua trực
tiếp bổ nhiệm hoặc được ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận cho phép tham
gia công tác ở cơ quan dân sự; những người mà toàn bộ tiền lương được cấp trực
11
tiếp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc từ các khoản được
Quốc hội thông qua.
Nước Mỹ, người ta gọi chung những nhân viên trong ngành hành chính
của Chính phủ là công chức.
Công chức ở Nhật Bản gồm có công chức Nhà nước và công chức ở
lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà về Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam
chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ, đó là “Những công
dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường
xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức
theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Tuy nhiên, do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản Quy chế công
chức này không được triển khai đầy đủ, và suốt một thời gian dài (đến cuối
những năm 1980), khái niệm công chức không được sử dụng mà thay vào đó
là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước. Khái niệm này dùng
chung cho tất cả mọi người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt,
theo đó đội ngũ này rất đông đảo vì nó được hình thành từ rất nhiều con
đường, có thể do bầu, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng,
bổ nhiệm,… phạm vi làm việc của họ cũng rất rộng, vì vậy đội ngũ cán bộ,
công nhân viên chức không ổn định. Thực tế trên đã gây khó khăn, thiếu
thống nhất cho công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước trong việc sử dụng và
quản lý đội ngũ cán bộ, công chức.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, chúng
ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, lấy người cán bộ làm trung
tâm. Theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm
trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ "cán bộ,
công nhân viên nhà nước".
13
Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan
cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công
chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định
169/HĐBT ngày 25/5/1991. Nghị định chỉ rõ: Công dân Việt Nam được tuyển
bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức.
Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay, ngày 13
tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật
Cán bộ, công chức. Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước
đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức.
Tại Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
15
Như vậy, có thể khái quát, công chức là thuật ngữ được sử dụng để chỉ
những người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm một công việc thường xuyên
trong cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay
chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong cơ quan của tổ
chức chính trị - xã hội; trong hệ thống Tòa án nhân dân; trong hệ thống Viện
Kiểm sát nhân dân; trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an
nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.
Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố (gọi chung là
cấp huyện), được xác định là cầu nối chuyển tải các chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, đồng thời cũng là cấp
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quyết định trên địa bàn. Vì vậy,
UBND huyện có những chức năng chủ yếu sau:
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định các nội dung
quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của
Luật Chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân huyện.
- Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện.
- Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du
lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây
dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ,
tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên
thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định của
pháp luật.
- Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục,