BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…..…/……..
..…/…..
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN TIẾN ÂU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN KHU VỰC NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…..…/……..
..…/…..
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành Chính Quốc Gia,
Lãnh đạo Khoa sau Đại học, Lãnh đạo khoa Hành chính học, các thầy cô giáo
đã tận tình giảng dạy những kiến thức khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho học
viên thực hiện nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của chương trình cao học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hải người
Thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giành
những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng chí lãnh đạo trong Sở Lao
Động Thương Binh và Xã Hội thành phố Hà Nội và trực tiếp là phòng đào tạo
nghề trực thuộc Sở đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình tìm tòi
số liệu phục vụ cho quá trình thực hiện làm luận văn . Bên cạnh đó còn có sự
quan tâm của Ban Giám Hiệu Trường Cao đẳng công thương Việt Nam nơi tôi
công tác , đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian và công việc
để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè đã cổ vũ, động
viên, tiếp thêm nghị lực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu thực tế có hạn, đồng thời kinh nghiệm nghiên
cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Học viên mong
nhận được sự cảm thông, chia sẻ và những ý kiến đóng góp của các nhà khoa
học, quý thầy cô và những người quan tâm đến đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn.!
Hà nội, ngày
tháng
Tác giả
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
9
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
9
6.
Ý nghĩa của luận văn
10
7.
Kết luận của luận văn
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN
11
1.1.
NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
2.1
45
Thực trạng về tay nghề của thanh niên khu vực ngoại thành
Hà Nội
45
1
2.2.
Tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
48
khu vực ngoại thành Hà Nội
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN Ở KHU VỰC NGOẠI THÀNH
73
HÀ NỘI
3.1.
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay nhân loại đang bước vào nền văn minh trí thức với những
biến đổi vô cùng to lớn cùng sự phát triển kỳ diệu của khoa học kỹ thuật
và công nghệ, đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, bằng truyền thống và
nội lực của mình phải tạo được những bước đi thích hợp để nhanh chóng
tiếp cận và hội nhập vào trào lưu đó. Đối với nước ta, đây thực sự là thời cơ
thuận lợi to lớn để phát triển, đồng thời đây cũng là một thách thức vô cùng gay
gắt, đòi hỏi phải có nghị lực kiên cường, tài năng sáng tạo để vượt qua. Chính vì
lẽ đó mà đầu tư cho sự nghiệp giáo dục , đào tạo - phát triển nguồn nhân lực đã
được Đảng ta coi là quốc sách hàng đầu. Đào tạo nghề là một nội dung quan
trọng, không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia để hướng tới sự phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác
đào tạo nghề cho thanh niên là nhiệm vụ quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả
nguồn nhân lực của đất nước, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đáp ứng nguyện
vọng về học nghề của thanh niên, gia đình cũng như toàn xã hội.
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa diễn ra
trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang có những diễn biến
phức tạp, có mặt còn quyết liệt và sâu sắc hơn. Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho thanh niên đặt ra yêu cầu cấp bách
hơn bao giờ hết. Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước,
sự phát triển kinh tế của Hà Nội có vai trò quan trọng với nền kinh tế quốc dân. Nơi
đây cũng tập trung khá nhiều thanh niên từ các tỉnh, thành lân cận đến cư trú đề tìm
kiếm việc làm, khởi nghiệp cho sự phát triển tương lai của bản thân. Để đáp ứng nhu
cầu việc làm ngày càng cao của thanh niên trong những năm gần đây, hệ thống dạy
nghề Hà Nội đã có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực cho
phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
3
4
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho con người nói chung và cho thanh niên nói
riêng. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này theo
nhóm các vấn đề nghiên cứu như sau.
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách đào tạo nghề
Nguyễn Chí Trường (2012), Luận án tiến sĩ “Phân tích các yếu tố ảnh hướng
đến công tác dạy nghề Việt Nam: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giai
đoạn 2013 - 2020” chuyên ngành Quản trị kinh doanh Trường Đại học Nông lâm,
Đại học Thái Nguyên. Luận án đã xác định và phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến
chất lượng dạy nghề, gồm: đặc tính cá nhân; trình độ giáo viên dạy nghề; Cơ sở vật
chất giảng dạy; Năng lực quản lý; Cơ hội việc làm; Thông tin thị trường lao động;
Hỗ trợ chính sách về dạy nghề. Trên cơ sở đó, luận án cũng đề xuất các giải pháp,
chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề góp phần tăng năng xuất lao động và
nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước, gồm các giải pháp, chiến lược như: nâng
cao năng lực giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề; nâng cao năng lực quản lý về dạy
nghề; tăng cường cơ sở vật chất dạy nghề; hỗ trợ cơ hội việc làm; tăng cường thông
tin thị trường lao động và chính sách phát triển dạy nghề; tăng cường quan hệ công –
tư; nâng cao chất lượng phát triển các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (NOSS);
nâng cao năng lực hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Mặt
khác, luận án đã phân tích những mô hình điển hình, các kinh nghiệm hay của một
số nước phát triển có mô hình dạy nghề hiện đại đáp ứng hiệu quả nhu cầu của
ngành công nghiệp trên thế giới và đề xuất mô hình mới nhằm gắn kết dạy nghề với
thực tiễn ngành công nghiệp cho Việt Nam, gồm: mô hình trường trung học đào tạo
nghề cao cấp; mô hình Cơ quan quản lý đánh giá kỹ năng nghề quốc gia (NSTMA);
mô hình Hội đồng nghề (ISC); khung trình độ quốc gia; đề xuất sửa đổi, bổ sung một
số quy định của pháp luật liên quan như Luật lao động, luật dạy nghề; đề xuất thông
qua luật việc làm liên quan đến các quy định quyền hạn, trách nhiệm của người lao
động được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, đặc biệt là quy định về thang bảng
Đào Thị Phương Nga, luận văn “Tăng cường sự liên kết giữa trường dạy
nghề với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc giang nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo nghề” chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Đại học Nông nghiệp Hà Nội
(2008); Nguyễn Thị Kim Thu, luận văn “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các
6
trường cao đẳng nghề Hà Nội” chuyên ngành chính sách công của Trung tâm đào
tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị (2012).
Các công trình trên đã nghiên cứu đánh giá, chỉ ra những yếu tố tác động đến
việc thực hiện chính sách dạy nghề trên một địa bàn cụ thể; chỉ ra thực trạng việc
thực hiện chính sách dạy nghề với việc liên kết với các cơ sở đào tạo, qua đó, tác giả
đưa ra hệ thống những giải pháp nhằm nâng cao chính sách đào tạo nghề ở nước ta
hiện nay, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực thi những chính sách đó một
cách quyết liệt của các cơ quan, chức năng, ban ngành nhằm khai thác có hiệu quả
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên.
Phan Thị Thúy Linh ( 2011),“ Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm
cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách
công. Luận văn đã khẳng định tính tất yếu khách quan phải thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên, bởi với sự phát triển của Đà Nẵng hiện nay, đặt ra yêu cầu
rất cao về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà một trong những chính sách
được Ủy ban nhân dân thành phố rất quan tâm đó là thanh niên. Trên cơ sở đánh giá
thực trạng việc thực hiện các giải pháp về đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh
niên tại thành phố Đà Nẵng, luận văn đã đưa ra hệ thống các giải pháp về nhận
thức,về đổi mới nội dung, hình thức đào tạo nghề cho thanh niên, vai trò của đội ngũ
cán bộ, xây dựng cơ sở đào tạo nghề.
Nguyễn Thị Thu Hòa (2014)“Một số giải pháp đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn hiện nay” Tạp chí tổ chức nhà nước, số 447, tháng 10.2014; TS Nguyễn
nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội”, dưới góc độ chuyên ngành chính
sách công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên, và đề xuất những biện pháp thực hiện có hiệu quả chính sách
đào tạo nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về chính sách và thực hiện chính sách đào tạo nghề
ở Việt Nam và Hà Nội.
8
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên khu vực ngoại thành Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải
quyết trong thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành
Hà Nội hiện nay.
- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước về thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên.
- Xác định phương hướng, đề xuất biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay.
4. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Khách thể nghiên cứu
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực
ngoại thành Hà Nội hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động có liên quan đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến một số nhà khoa học, nhà quản lí, nhà
sư phạm về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến luận văn.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý
luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên; cung cấp cơ sở khoa học
cho các cơ sở đào tạo dạy nghề xác định các giải pháp để thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào
tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố trong cả nước.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu; 3 chương (8 tiết ); kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN
1.1. Chính sách đào tạo nghề
1.1.1. Đào tạo nghề
1.1.1.1. Khái niệm
Trong thực tế cụm từ “đào tạo nghề”; “dạy nghề” được dùng khá phổ
biến, dùng để chỉ việc đào tạo nghề cho một đối tượng cụ thể, có rất nhiều quan
niệm khác nhau xung quanh về vấn đề này:
Luật dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy
nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [39;87].
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học kinh tế quốc dân Hà
Nội thì: Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến thức
tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ
cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công
việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với
sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế. , đào tạo nghề
chính là đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình hoạt động đào tạo có mục đích, có
tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình
thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở
các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và
hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ
thuật và công nghệ trong thực tế.
1.1.1.2. Các loại hình đào tạo nghề
Ở nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình đào tạo nghề với quy mô, trình độ
khác nhau, sự đa dạng của các loại hình đào tạo đó phản ánh bức tranh kinh tế đa
sắc màu của nước ta hiện nay, có thể kể đến một số loại hình và hình thức đào tạo
nghề ở nước ta như sau:
12
Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới 1
năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề. Loại hình này có ưu điểm là có thể
tập hợp đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều
kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ
đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình,
giảng viên.
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm
trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp
vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn
hạn.
Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ
động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương
đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của sản xuất
và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò
quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật.
Nhược điểm: Thời gian đào tạo tương đối dài. Đòi hỏi phải đầu tư lớn để
đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý …nên kinh
phí đào tạo cho một học viên là rất lớn.
Đào tạo nghề tại nơi làm việc (kèm cặp trong sản xuất)
Là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến
thức,kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và
thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn.
Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và
thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức.
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc và
thường được chia ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản
xuất vừa hướng dẫn cho học viên. Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên
sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc. Giai đoạn ba,
giao việc hoàn toàn cho học viên sau khi họ đã có thể tiến hành làm việc một
cách độc lập.
14
Ưu điểm: Có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các
doanh nghiệp, phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn; không đòi hỏi điều kiện về
trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng…nên
tiết kiệm chi phí đào tạo. Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất, giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
Nhược điểm: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ
thống. Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình
kiến thức lý thuyết ở mức độ thấp, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu
các máy móc, thiết bị, phương tiện hiện đại cho thực hành nghề, đào tạo đa số là
công nhân bán lành nghề.
1.1.2. Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
1.1.2.1. Khái niệm chính sách đào tạo nghề
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời
gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương
hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hoá” [40; 474]. Theo định nghĩa này thì mục đích của chính sách
công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng
lại ở việc giải quyết vấn đề công. Nói cách khác, chính sách công là công cụ để
thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước.
Từ những nghiên cứu cách tiếp cận trên có thể đưa ra quan niệm về chính
sách như sau: Chính sách là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải
quyết những vấn đề công. Chính sách công được thể hiện bằng một tập hợp các
quyết định liên quan đến các vấn đề cần giải quyết. Nói một cách khác chính
sách đào tạo nghề là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước.
Quan niệm trên đã chỉ ra rằng.
Thứ nhất, chủ thể của Chính sách đào tạo nghề cho người lao động được đề
cập chính là Chính phủ, mà cụ thể là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Chính sách đào tạo nghề của một địa phương cụ thể chỉ được xem xét
trong chừng mực để làm rõ chủ trương chung của quốc gia.
Thứ hai, mục tiêu của Chính sách đào tạo nghề bao gồm cả khía cạnh kinh tế, xã
16
hội và môi trường. Mục tiêu kinh tế là tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận
được các ngành nghề mới góp phần vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế địa
phương, cải thiện thu nhập của các hộ gia đình. Mục tiêu xã hội là góp phần xóa
Như vậy, chính sách đào tạo nghề là tổng thể những cách thức, biện pháp
định hướng cho các chủ thể khác nhau, tác động tới một đối tượng cụ thể nhằm
đạt mục tiêu cụ thể, đó là hệ thống những chính sách phản ánh thực tiễn thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nói chung của Đảng, Nhà nước và
đối với một đối tượng cụ thể của các tổ chức, lực lượng có liên quan. Những
chính sách đó có vai trò quan trọng to lớn trong việc tạo ra hệ thống mở để thu
hút, khuyến khích các giai cấp, giai tầng trong xã hội phát huy năng lực, sở
trường, thực hiện được những khát vọng, ước mơ, hoài bão của bản thân. Đồng
thời, kích thích cho các cơ sở đào tạo trong việc xây dựng, lựa chọn, bố trí, xắp
xếp công việc cho phù hợp với từng loại hình lao động khác nhau, trong đó có
thanh niên.
1.1.2.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao
vai trò của thanh niên, xây dựng chiến lược, giáo dục, bồi dưỡng, tổ chức thanh
niên thành lực lượng xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng. Ngày nay, thanh niên
được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con
người. Chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa
là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cơ chế, chính sách về
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nói chung và cho thanh niên
nông thôn nói riêng. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về lao động, việc làm
được bổ sung ngày càng hoàn thiện. Nhiều luật mới ra đời và đi vào thực tiễn
đời sống như Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,… và nhiều văn bản hướng
dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về giải quyết việc làm cho thanh niên
nông thôn.
18
19
1.1.2.3. Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho thanh niên.
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã tiến hành 12 kỳ Đại hội đại biểu,
văn kiện các Đại hội của Đảng đều đánh giá vai trò to lớn của thanh niên, những
công lao và thành tích của thanh niên; đặt ra nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và
toàn xã hội chăm lo, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ như: Ban Bí thư Trung ương
Đảng (Khóa III) ra Nghị quyết chuyên đề số 181, ngày 25/9/1968 về “Tăng
cường công tác thanh niên”. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(Khóa V) ra Nghị quyết số 26, ngày 04/7/1985 về “Tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác thanh niên”. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VI)
ra Nghị quyết 8 về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng và nhân dân” ngày 13/3/1991. Trên cơ sở Nghị quyết của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (Khóa VI) ra Nghị quyết số 25
về “Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”.
Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) ra Nghị quyết số 04 ngày
14/01/1993 về “Công tác thanh niên trong tình hình mới”. Trong đó Đảng đánh
giá cao vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
trong sự nghiệp đổi mới: Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước
bước vào thế kỷ XXI, có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không
phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế
hệ thanh niên. Để làm tốt công tác lãnh đạo thanh niên trong thời kỳ đổi mới,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X), tại kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết
25 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”….
Những nghị quyết, chỉ thị cùng với tư tưởng về chăm lo, bồi dưỡng cho
thế hệ trẻ của Hồ Chí Minh đã tạo luồng gió mới thổi vào thanh niên, tạo động
lực quan trọng to lớn thúc đẩy sự nỗ lực cố gắng vươn lên của thanh niên trong
trong các chương trình, dự án cụ thể, những kế hoạch về phát triển kinh tế - xã
hội địa phương…
1.2. Vai trò và nội dung thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên
21