Cưỡng chế trong thi hành án dân sự từ thực tiễn Thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau (LV thạc sĩ) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG ĐOÁN

CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HOÀNG ĐOÁN

CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI - 2017


Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH CÀ MAU .............66
3.1. Quan điểm, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng cưỡng chế thi hành án dân
sự ở tỉnh Cà Mau...................................................................................................67
3.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng cưỡng chế trong thi hành án dân sự ở
tỉnh Cà Mau ........................................................................................................... 72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................81


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCT

Bộ Chính trị

BLDS

Bộ luật dân sự

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự


Luật hiến pháp

LTHADS

Luật thi hành án dân sự

NN và PL

Nhà nước và Pháp Luật

NN

Nhà nước

PL

Pháp luật

PLTHADS

Pháp lệnh thi hành án dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

TP

Thẩm phán

ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, với Nghị quyết 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của BCT đã chỉ rõ: “…Trên cơ sở tổng kết, đánh giá về công tác thi
hành án, cần sớm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao trách nhiệm
của cơ quan thi hành án, bảo đảm các quyết định, bản án của tòa án đã có hiệu lực
pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh ...”[3. Tr 3]; Nghị quyết
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BCT về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
tiếp tục khẳng định “...Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực
hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ tư pháp...Xây dựng
các chế định bổ trợ tư pháp đủ mạnh, đáp ứng kịp thời với tình hình; làm thí điểm ở
một số địa phương về chế định thừa phát lại; từng bước xã hội hóa các hoạt động
bổ trợ tư pháp”[5. Tr 7-8];
Vậy thi hành án dân sự là gì? Đây là một trong những hoạt động quan trọng
của NN trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi
hành trên thực tế. Hoạt động THA một mặt đảm bảo cho quyền lực tư pháp được
thực thi trên thực tế nhưng mặt khác, nó còn là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại. Hiệu quả của hoạt động THA
có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với PL. Tuy nhiên, trong điều
kiện kinh tế, xã hội hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ
quan có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi. Do đó
các BPCCTHADS được sử dụng.
Cưỡng chế thi hành án dân sự là gì? Đây là biện pháp THADS dùng quyền
lực của NN để buộc người phải THA thực hiện nghĩa vụ THADS của họ, mà cụ thể:
CHV áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện thi hành án mà không

1


tự nguyện THA. Do vậy hiệu quả hoạt động CCTHADS, sẽ tác động trực tiếp đến
hiệu quả công tác THADS.
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do



hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLTBTP-BCA quy định cụ thể về việc phối hợp bảo vệ CCTHADS; Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi
hành một số điều của LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Tại mục
12. Chương IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của TANDTC
quy định:“...về trường hợp khi giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị
CCTHADS” [65. Tr 17]. Do vậy công tác THADS trong những năm qua đã đạt
được một số kết quả đáng khích lệ, trong đó nổi bật nhất theo đánh giá của Chính
phủ là: "Hệ thống cơ quan THADS được hình thành trong cả nước, công tác
THADS đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả bước đầu".
Cà Mau với số lượng án bàn giao và thụ lý hàng năm tương đối lớn, trong
những năm qua công tác THADS ở tỉnh Cà Mau đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận. Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được tổ chức thi hành dứt
điểm; một số án lớn, tính chất phức tạp, ảnh hưởng lớn về kinh tế, trật tự an toàn xã
hội cũng đã được chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo. Kết quả đạt được nói trên
phản ánh sự cố gắng, nỗ lực của toàn ngành tư pháp nói chung, cũng như đội ngũ
cán bộ, CHV cơ quan THADS nói riêng; là sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp
uỷ đảng, chính quyền địa phương; Sự phối hợp chặt chẽ của các ngành hữu quan
trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật THADS.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng như nhiều tỉnh, thành
trên cả nước. Thực trạng áp dụng và thực hiện pháp luật THADS ở tỉnh Cà Mau vẫn
còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình
hình mới. Lượng án tồn đọng qua các năm còn lớn, nhiều bản án, quyết định về
THADS đã có hiệu lực PL nhưng chưa được tổ chức thi hành. Tình trạng trên có nhiều
nguyên nhân khác nhau như: Số lượng vụ việc THADS hàng năm có chiều hướng gia
tăng, số vụ việc có tính chất phức tạp ngày càng nhiều. Trong khi lực lượng công
chức làm công tác THA nhiều nơi còn mỏng, đã tạo áp lực công việc lên đội ngũ
cán bộ, CHV; một số cán bộ, CHV cơ quan THA còn thiếu tinh thần trách nhiệm,
thiếu tận tụy trong công việc và không loại trừ có trường hợp cá nhân cán bộ, CHV

- Đề tài cấp NN: “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức
hoạt động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ TTP chủ trì, 1998 [8].
- Đề tài cấp NN thực hiện: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và
hoạt động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do BTP chủ trì, 2009 [9].
- Đề tài KX 04.06 thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp NN năm 2001 2005 do TS. Uông Chu Lưu - Bộ trưởng BTP làm chủ nhiệm đã nghiên cứu: “Cải
cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao
hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân và vì dân”[39].

4


- Đề tài: “THADS, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001”
do BTP chủ trì thực hiện dự án, năm 2009 [10].
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành
án”, mã số 96-98-027/ĐT do Cục THADS và BTP chủ trì thực hiện năm 2010 [39].
- Đề án khoa học cấp Bộ năm 2010: “Kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ
cán bộ THA để thực hiện có hiệu quả LTHADS năm 2008”, do PGS.TS Nguyễn
Văn Luyện làm chủ nhiệm đề tài [38].
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định
TPL”, mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - BTP và Sở Tư pháp
thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện, 2010 [74].
- Đề án số: 02/ĐA-UBND ngày 01/11/2016 của UBND tỉnh Cà Mau: “Đề án
thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Cà Mau đến năm 2020”[66].
- Luận án Tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Thuỷ với đề tài “Hoàn
thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008 [52].
- Luận án Tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Thái với đề tài “Pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”,
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008 [46].

Để đạt được mục đích nghiên cứu cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về THADS, làm sáng tỏ về pháp luật THADS, phân
tích những kết quả đạt được, điểm yếu kém, hạn chế trong thực tiễn nhằm nâng cao
hiệu quả công tác THADS;
- Phân tích cơ sở lý luận về cưỡng chế trong THADS nói chung và cưỡng
chế trong THADS từ thực tiễn tỉnh Cà Mau nói riêng, để làm sáng tỏ tính pháp quy
của CCTHADS và qua phân tích những kết quả đạt được, điểm yếu kém, hạn chế
trong thực tiễn áp dụng các BPCC trong THADS nhằm nâng cao hiệu quả công tác
THADS và CCTHADS.
- Đánh giá đúng đắn, đích thực về thực trạng hiệu quả công tác THADS,
CCTHADS từ đó đi sâu phân tích những kết quả đã đạt được và những hạn chế, tồn tại
trong việc nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, đặc biệt là khâu công tác
cưỡng chế trong THADS ở tỉnh Cà Mau và làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
- Xây dựng những quan điểm, giải pháp có tính lâu dài, thường xuyên liên
tục để đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả công tác THADS, CCTHADS được
đúng quy định pháp luật, đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống các cơ quan
THADS ở tỉnh Cà Mau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

6


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp
dụng các BPCC trong THADS ở tỉnh Cà Mau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ thực tiễn áp dụng BPCC trong THADS ở tỉnh Cà Mau, luận văn nghiên
cứu một cách tổng quát có hệ thống chế định CCTHADS hiện hành. Trong đó tập
trung nghiên cứu phân tích thực trạng về hiệu quả công tác THADS nói chung và

pháp luật THADS, CCTHADS; Đánh giá, phân tích đúng thực trạng hiệu quả cưỡng
chế trong THADS và đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng khâu công tác cưỡng chế trong THADS ở tỉnh Cà Mau.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất phương
hướng và giải pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật khi thực hiện CCTHADS trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam và các
chế định về Thừa phát lại trong điều kiện đổi mới, phát triển ổn định, bền vững và hội
nhập quốc tế.
Học viên hy vọng kết quả nghiên cứu luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo
cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên
cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật; Phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ, CHV đang công tác tại các Cơ quan THADS các cán
bộ, Kiểm sát viên VKSND thực hiện công tác kiểm sát việc chấp hành pháp luật
trong công tác THADS nói chung và CCTHADS nói riêng được khách quan, có căn
cứ và đúng pháp luật.
7. Cơ cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 10 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về cưỡng chế trong thi hành
án dân sự
Chương 2: Thực trạng cưỡng chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng cưỡng chế trong thi
hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau

8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

nghĩa là nói đến cưỡng chế.
Theo quyết định của Toà án, người bị kết án phải chịu một hình phạt nhất
định, hoặc một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó phải gánh chịu một nghĩa vụ tài
sản hay thực hiện một công việc vì lợi ích của người khác. Các chế tài này hiển
nhiên là hoàn toàn trái với ý muốn của những người đó. Khó có thể hy vọng vào sự
tự “trừng phạt” hoặc sự tự nguyện tuyệt đối của người phải THA. Việc PL quy định
các biện pháp nhằm bảo đảm việc thực thi các bản án, quyết định của Toà án là tất
yếu; Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực PL có được thi hành nghiêm chỉnh,
dứt điểm hay không; kỷ cương PL có được tôn trọng, lợi ích hợp pháp của NN, của
tập thể, của các tổ chức xã hội và mọi công dân có được bảo đảm hay không phụ
thuộc nhiều vào kết quả THA; trong THADS các bên đương sự có quyền tự định
đoạt, thoả thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án,
quyết định của Tòa án. Tự nguyện THA đã trở thành một nguyên tắc, biện pháp
quan trọng được Đảng và Nhà nước ta tập trung chỉ đạo tăng cường thường xuyên
trong mọi giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước. Làm tốt công tác động viện tự
nguyện THA một mặt giúp các cơ quan THADS đạt được số vụ việc thi hành xong
mà không phải tốn kém kinh phí của ngân sách Nhà nước, không cần phải huy động
lực lượng và các nguồn lực khác để tổ chức cưỡng chế; tự nguyện THA tốt giúp giải
tỏa mâu thuẫn, cũng cố tình làng, nghĩa xóm, thắt chặt tình đoàn kết trong nội bộ
nhân dân.
Giải thích, thuyết phục để các bên tự nguyện THADS là nhiệm vụ của CHV,
của cơ quan THADS trong quá trình tổ chức THA; Còn thuyết phục trong THADS
bắt nguồn từ việc các bên đương sự có quyền tự nguyện thực hiện các quyền, nghĩa
vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận, thể hiện ý chí của các bên đương sự
nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Tuy vậy, khi người phải THA đã
được giải thích, thuyết phục, mặc dù có điều kiện THA mà tìm mọi cách trì hoãn,
trốn tránh để không tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan THADS phải tổ chức
CCTHA. CCTHA thể hiện quyền năng của cơ quan THA, bảo đảm tính nghiêm

10

1.1.2.2. Cưỡng chế là một nguyên tắc cơ bản trong thi hành án dân sự

11


Quá trình tổ chức THA tuân theo nguyên tắc kết hợp giữa tinh thần tự
nguyện của người phải THA và sự cưỡng chế của cơ quan THA mà người thực hiện
là CHV. Tuy nhiên, cưỡng chế không phải là phương pháp bắt buộc duy nhất trong
quá trình tổ chức THA. Pháp luật THADS khuyến khích và tạo các điều kiện cho
người phải THA tự nguyện THA, tránh việc phải áp dụng BPCC. Người phải THA
trong điều kiện nhất định có khả năng lựa chọn phương thức thi hành nghĩa vụ.
Theo LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: NN khuyến khích
các đương sự tự nguyện THA và ấn định cho người phải THA có thời gian tự
nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA
hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA. Nếu hết thời gian tự nguyện mà
đương sự không thực hiện nghĩa vụ của mình thì CHV có thể áp dụng BPCCTHA.
1.1.2.3. Đối tượng cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của
người phải thi hành án
THADS không nhằm mục đích trừng trị bản thân người phải THA, mà nhằm
khôi phục những quyền, lợi ích về tài sản và các quyền dân sự khác đã bị tổn hại.
Người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hoặc hành vi dân sự của bản
thân họ. Vì vậy, việc CCTHA phải áp dụng đối với người phải THA trên cơ sở các
đối tượng này sau khi động viên mà tự nguyện THA.
1.1.2.4. Người phải thi hành án phải chịu mọi chi phí về cưỡng chế
Các hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình ... mang tính cưỡng chế
tuyệt đối, người bị kết án không có khả năng lựa chọn cách thức chấp hành hình
phạt. Do vậy NN phải thiết lập hệ thống trại giam và các trang thiết bị khác, phạm
nhân ngoài nghĩa vụ lao động học tập, cải tạo thì được hưởng các chế độ vật chất do
PL quy định. Tuy nhiên, trong THADS xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt
của đương sự, người phải THA có thể lựa chọn phương thức thi hành nghĩa vụ: tự

bổ sung năm 2014), người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện THA
thì bị cưỡng chế. Tuy nhiên để đảm bảo công tác THA thật sự hiệu quả, với mục
đích ngăn chặn những hành vi tẩu tán tàn sản, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa
vụ THA của đương sự trong thời gian tự nguyện THA thì chủ thể có thẩm quyền
vẫn được áp dụng biện pháp bảo đảm, BPCCTHA được quy định tại chương IV
LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) [55, 58].

13


1.1.3.3. Không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà pháp luật quy
định không được cưỡng chế thi hành án
Xuất phát từ mục đích nhân đạo đối với người phải THA, PL quy định không
tổ chức CCTHA trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày
nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt như 15 ngày
trước và sau tết nguyên đán, các ngày truyền thống của các đối tượng chính sách.
1.1.3.4. Chỉ được áp dụng 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được
quy định theo pháp luật
Để tránh sự lạm quyền của các chủ thể trong việc cưỡng chế THA dân sự,
pháp luật quy định người có thẩm quyền THA chỉ có thể áp dụng trong 06
BPCCTHA quy định tại Điều 71 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm
2014). Việc áp dụng BPCCTHADS phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi
hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải THA chỉ có một tài sản
duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải THA mà tài sản đó không thể phân
chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì người có
thẩm quyền THA vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, BPCC để THA.
1.1.3.5. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải đảm bảo
và tôn trọng quyền con người, quyền công dân và tính nhân đạo
THADS là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền con người đã được Hiến
pháp quy định. Vì vậy, chỉ trong trường hợp cần thiết mới áp dụng các BPCCTHA,

thủ tục THADS, gồm có: Bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định
dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành
chính của Toà án. Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của
bên phải THA của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài
thương mại.
b) Quyết định thi hành án: Là quyết định do Thủ trưởng cơ quan THA ban
hành, đó có thể là quyết định THA được ban hành theo thủ tục chủ động ra quyết
định THA án hoặc quyết định THA được ban hành theo thủ tục THA theo đơn yêu
cầu.
c) Quyết định cưỡng chế thi hành án: Là quyết định do CHV ban hành.

15


Tuy nhiên, trong trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả
tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời của Toà án, thì không phải có quyết định CCTHA [55, 58].
1.2.2. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
Các BPCCTHA theo Điều 71 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm
2014), gồm có sáu biện pháp cưỡng chế sau đây:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người
phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công
việc nhất định [62].

chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá
dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc CCTHA.
đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ.
e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ
CCTHA.
2. Người được THA phải chịu chi phí CCTHA sau đây:
a) Chi phí định giá lại tài sản nếu người được THA yêu cầu định giá lại, trừ
trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá.
b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án,
quyết định xác định người được THA phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.
3. Ngân sách NN trả chi phí CCTHA trong các trường hợp sau đây:
a) Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá.
b) Chi phí xác minh điều kiện THA;
c) Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí CCTHA theo quy định của PL.

17


4. CHV dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho người phải THA biết ít
nhất 03 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần
thiết phải cưỡng chế ngay. Chi phí CCTHA được tạm ứng từ ngân sách NN.
5. Các khoản chi phí CCTHA được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý
do Thủ trưởng cơ quan THADS duyệt theo đề xuất của CHV. Thủ trưởng cơ quan
THADS nơi tổ chức việc THA thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí CCTHA.
6. Chi phí CCTHA do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được,
tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau khi xử
lý tài sản hoặc thu được tiền, CHV phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã
tạm ứng trước đó [55, 58].
1.2.5. Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung

lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền. Trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày CHV yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không
khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được
xử lý để THA.
1.3. Cơ sở pháp luật về cưỡng chế trong thi hành án dân sự
1.3.1. Cơ sở lý luận
Việc pháp luật THADS quy định về BPCCTHADS xuất phát từ những cơ sở
lý luận sau đây:
Thứ nhất, từ yêu cầu của việc áp dụng kết hợp giữa biện pháp tự nguyện
THADS và biện pháp bảo đảm THADS.
Thứ hai, từ yêu cầu của việc đa dạng hóa biện pháp tổ chức THADS và sự
khác nhau giữa biện pháp tự nguyện THADS và biện pháp bảo đảm THADS.
1.3.2. Cơ sở thực tiễn
Qua thực tiễn công tác THADS, chúng ta thấy khi người phải THA không tự
nguyện THA thì sẽ bị CHV áp dụng biện pháp đảm bảo THADS với một số biện
pháp như phong tỏa tài sản; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và tạm dừng việc
đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản. Nhưng hai biện pháp kể trên
cũng chỉ là biện pháp để người phải THA có thời gian để tự nguyện THA mà thôi.
Khi hết thời gian áp dụng biện pháp đảm bảo THA nếu không có biện pháp cứng
rắn hơn thì nguy cơ người phải THA sẽ thực hiện việc tẩu tán, chuyển dịch, thay đổi
hiện trạng về tài sản để nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ THA. Do vậy đòi hỏi cơ

19


quan pháp luật phải có biện pháp cứng rắn hay còn gọi là BPCC trong THADS là
rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của các đương sự, vừa góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của người phải
THA và đảm bảo được tính nghiêm minh của PL trong công tác THADS.Và theo
quy định của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành có những BPCC trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status