THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ TRONG KHI MANG THAI VÀ SINH ĐẺ TẠI XÃ EA TIÊU, HUYỆN CƯ KUIN ĐẮK LẮK - Pdf 47

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1................................................................................................................... 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................................................3
1.1. LÀM MẸ AN TOÀN VÀ THỰC TRẠNG LÀM MẸ AN TOÀN Ở VIỆT NAM
1.2. CÁC NGUYÊN CỨU VỀ BỆNH TẬT VÀ TỬ VONG MẸ LIÊN QUAN TỚI SINH ĐẺ.
1.3. NHỮNG CHIẾN LƯỢC, KẾ HOẠCH VÀ HƯỚNG DẪN CHUẨN QUỐC GIA VỀ CSSKSS.
1.4. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI ĐỊA BÀN NGUYÊN CỨU

3
8
13
14

CHƯƠNG 2................................................................................................................. 16
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................................................16
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.5. CỠ MẪU VÀ CÁCH CHỌN MẪU
2.6. CÁC BIẾN SỐ CHÍNH
2.7. THU THẬP SỐ LIỆU
2.8. XỬ LÍ SỐ LIỆU
2.9. Y ĐỨC

16
16
16
16
16


34
34

KIẾN NGHỊ................................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................37
PHỤ LỤC.................................................................................................................... 40
i


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Một vài ví dụ về mối liên quan giữa tỷ lệ bà đỡ có kỹ năng đỡ đẻ, nguy cơ tử
vong mẹ và tỷ lệ chết chu sinh.....................................................................................10
ii


Bảng 1.2. Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc trước sinh ở một số quốc gia năm 2002.........12
Bảng 3.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các bà mẹ........................................19
Bảng 3.2. Nội dung được các bà mẹ sử dụng trong chăm sóc trước sinh....................21
Bảng 3.3. Nội dung được các bà mẹ sử dụng trong khi sinh đẻ..................................22
Bảng 3.4. Nội dung trong chăm sóc sau sinh..............................................................23
Bảng 3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến khám thai..........................................................24
Bảng 3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nơi sinh.............................................25
Bảng 3.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khám lại sau sinh.......................................26

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ các nội dung được bà mẹ sử dụng trong chăm sóc trước sinh........21
Biểu đồ 3.2. Phân bố tỷ lệ nơi sinh được các bà mẹ chọn...........................................23
iii


Chăm sóc sức khỏe sinh sản

CSSS:

Chăm sóc sau sinh

CSTS:

Chăm sóc trước sinh

LMAT:

Làm mẹ an toàn

MDG:

(Millennium Development Goals 5) Mục tiêu phát triển thiên niên
kỷ thứ 5

NHS:

Nữ hộ sinh

SKBM-TE:

Sức khỏe bà mẹ - trẻ em

TBSK:

Tai biến sản khoa

thời gian mang thai và sinh đẻ là những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của phụ nữ
ở lứa tuổi sinh đẻ, mỗi ngày có hơn 1500 phụ nữ chết vì nguyên nhân này. Trong năm
2005, tử vong mẹ ước tính có khoảng 536.000 trên toàn thế giới, trong đó có tới 99% là
những người đang sống ở các nước thuộc thế giới thứ 3, hơn một nữa số ca tử vong này
nằm ở Đông, Tây Châu Phi và một phần ba ở Nam Á cũng như Mỹ La Tinh. Nguy cơ
tử vong mẹ tăng lên ở những nước kém phát triển, nếu ở Niger cứ 1 trong 7 phụ nữ tử
vong có liên quan đến thai nghén thì ở Ireland nguy cơ này là 1/48.000 [25].
Hầu hết các tai biến và tử vong mẹ thường xảy ra trong lúc sinh nở và sau sinh
một thời gian ngắn, bốn nguyên nhân được nêu ra là: băng huyết sau sinh, nhiễm trùng
hậu sản, rối loạn huyết áp thai kì và sinh khó. Trong giai đoạn mang thai, nhiều phụ nữ
không nhận được sự chăm sóc sức khoẻ thiết yếu mà họ cần trong giai đoạn này trong
khi hầu hết đều có thể phòng tránh được.
Ở các nước đang phát triển, những nguyên nhân làm cho bà mẹ không tiếp cận
được với việc chăm sóc sức khoẻ được nêu lên là: khoảng cách từ nhà đến cơ sở Y Tế
quá xa, chi phí của việc chăm sóc quá tốn kém, không có thời gian… Ngoài ra niềm tin
văn hóa, tín ngưỡng cũng là nguyên nhân làm cho các bà mẹ từ chối việc chăm sóc sức
khoẻ.
Theo ước tính của UNICEF, tử vong mẹ ở Việt Nam là 160/100.000 trẻ đẻ sống
trong năm 1995 và 85/100.000 trẻ đẻ ra sống trong năm 2004. Tuy nhiên một kết quả
nguyên cứu khác trên toàn quốc năm 2003 của Bộ Y Tế cho thấy tỷ lệ tử vong mẹ là
165/100.000 trẻ đẻ ra sống. Những số liệu trên chỉ là kết quả điều tra trên diện hẹp mà
không đại diện cho cả nước bởi vì có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng miền, đặc biệt
là vùng núi phía Bắc, trung du và Tây Nguyên, tại một số nơi vùng sâu vùng xa thì tỷ
lệ này lên tới hơn 400/100.000. Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng tai biến sản khoa vẫn là
vấn đề nổi cộm và cấp bách mà chúng ta phải cần suy nghĩ và làm thế nào để giảm tỷ lệ
tử vong mẹ còn 58/100.000 ca trẻ sống vào năm 2015 như mục tiêu của Bộ Y Tế đề ra.
1


Điều tra về tử vong mẹ của Viện bảo vệ Bà mẹ - Trẻ sơ sinh cho thấy 90% trường hợp

ngay từ khi người phụ nữ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kỳ hậu sản (42 ngày
sau sinh).
Những nội dung chính của làm mẹ an toàn:
• Chăm sóc bà mẹ trước, trong và sau sinh.
• Kế hoạch hóa gia đình.
• Công tác thông tin giáo dục truyền thông để cung cấp kiến thức sức khỏe
sinh sản cho phụ nữ.
• Phát hiện và xử lí kịp thời các trường hợp bất thường của thai nghén cũng
như năm tai biến sản khoa.[20], [8].
1.1.1.1. Chăm sóc bà mẹ trước sinh
Chăm sóc trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời
điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm bảo đảm cho quá trình mang thai được an toàn,
sinh con khoẻ mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt. Theo chuẩn quốc gia về sức
khoẻ sinh sản của Bộ Y Tế qui định, nội dung chăm sóc trước sinh bao gồm: khám thai,
tiêm phòng uốn ván, tư vấn chế độ dinh dưỡng, uống viên sắt phòng thiếu máu, chế độ
lao động nghỉ ngơi hợp lý.
Khám thai:
Thai nghén là giai đoạn có những nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn đến những vấn đề
sức khoẻ trầm trọng như bệnh tật, tử vong mà bất kỳ phụ nữ nào cũng có thể mắc phải
trong thời gian mang thai. Để giảm thiểu những vấn đề sức khoẻ đó, khám thai là một
biện pháp hết sức quan trọng. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ Y Tế, một thai phụ
phải khám thai thường kỳ, ít nhất là ba lần trong suốt thời kỳ mang thai.

3


• Khám thai lần 1 được thực hiện trong 3 tháng đầu với mục đích là xác định có
thai, số lượng và vị trí thai, phát hiện những bất thường và những biến chứng
sớm như nôn nặng hoặc các bệnh lý gây chảy máu.
• Khám thai lần 2 vào ba tháng giữa để đánh giá sự phát triển của thai và phát

và duy trì cuộc sống thoải mái về tinh thần. Tránh lao động quá sức hoặc trong điều
kiện xấu như: làm việc trong điều kiện ôi nhiễm, ngâm mình dưới nước, leo trèo quá
cao, thức quá khuya, dậy sớm...
Tiêm phòng uốn ván:
Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp trước đây, đây là
bệnh nặng, có tỷ lệ tử vong cao cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Để dự phòng tai biến này, khi
có thai, các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám thai định kỳ đủ 3 lần, qua khám
thai cán bộ y tế sẽ tiêm phòng uốn ván cho thai phụ đồng thời kiểm tra xem việc tiêm
phòng uốn ván có đầy đủ hay không. Theo lịch của chương trình tiêm chủng mở rộng,
mỗi phụ nữ khi mang thai thường tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván. Tiêm mũi thứ nhất
càng sớm càng tốt khi biết có thai, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất là 1 tháng và tối thiểu
trước khi đẻ là 15 ngày.
Như vậy, một biến chứng sản khoa nếu không được phát hiện hoặc phát hiện
muộn ở tuyến cơ sở hoặc là chậm trễ chuyển đến một cơ sở chăm sóc thích hợp có thể
phải trả giá không chỉ riêng tính mạng của thai nhi mà có khi phải trả giá cho cả tính
mạng của người mẹ.
1.1.1.2. Chăm sóc bà mẹ khi chuyển dạ
Giúp cho bà mẹ dự kiến ngày sinh để có sự chuẩn bị, tư vấn cho bà mẹ trước khi
sinh, nếu thai nghén có nguy cơ cao phải chọn nơi sinh ở tuyến có thể phẫu thuật được,
những trường hợp đẻ từ con thứ 4 trở lên hoặc vòng bụng trên 34cm không được đẻ ở
trạm y tế xã và tại nhà. Tất cả các thai phụ phải được cán bộ y tế chăm sóc và đỡ đẻ, nếu
đẻ ở nhà mà không có cán bộ y tế thì phải có bà đỡ dân gian được huấn luyện chăm sóc
và đỡ đẻ. Chuẩn bị gói đỡ đẻ sạch và sử dụng gói đỡ đẻ sạch, chuẩn bị khăn tả lót đầy đủ
cho trẻ sơ sinh.
1.1.1.3. Chăm sóc bà mẹ sau đẻ
Công tác này bao gồm:
• Chăm sóc trong 6 giờ đầu, ngày đầu sau đẻ.
• Chăm sóc trong tuần đầu.
• Chăm sóc trong thời kỳ hậu sản (42 ngày sau đẻ).
5

tài liệu và phương tiện truyền thông còn đơn điệu về nội dung, hình thức và các kênh
6


truyền tải. Ngoài ra cũng chưa chú trọng đến các đối tượng dân tộc ít người, đặc biệt là
cán bộ y tế (CBYT) chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng truyền thông.
Hoạt động quản lý giám sát còn yếu ở tất cả các tuyến và địa phương: thiếu kỹ
năng giám sát, thiếu kinh phí giám sát. Hệ thống báo cáo, sổ sách còn thiếu, tính cập
nhật và độ chính xác của thông tin còn hạn chế. Hoạt động đánh giá còn sơ sài, thiếu
các chỉ số đo lường các kết quả.
Các bà mẹ sử dụng dịch vụ LMAT còn có nhiều vấn đề. Trước hết đó là sự hạn
chế và hiểu biết về các nội dung LMAT, có sự chênh lệch nhiều giữa bà mẹ ở các địa
phương và giữa người kinh và người dân tộc ít người. Thực hành chăm sóc thai nghén
và sinh đẻ còn nhiều bất cập do không có điều kiện tiếp cận với hệ thống chăm sóc y
tế, hạn chế về hiểu biết, thiếu thông tin và do cản trở về kinh tế.
Cộng đồng với các rào cản về văn hóa như phong tục tập quán, thói quen chăm
sóc, nơi sinh, ăn uống, các quan niệm về giới vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thực hành
chăm sóc thai nghén và sinh đẻ của phụ nữ, nhất là phụ nữ các dân tộc ít người.
Đầu tư của chính phủ cho các địa phương này trong lĩnh vực LMAT chưa thỏa
đáng, còn quá ít và dàn trải. Một số tổ chức quốc tế đã có sự hỗ trợ cho các địa phương
này, tuy nhiên lĩnh vực tập trung hơn là sức khỏe sinh sản, nội dung LMAT chưa được
đầu tư thích đáng với tầm vóc của nó.
Các nghiên cứu về lĩnh vực LMAT, từ các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu tác
nghiệp hay nghiên cứu can thiệp trên các địa phương còn quá ít. Trong điều kiện hệ
thống thông tin về LMAT còn thiếu, chất lượng hệ thống báo cáo chưa thật tin cậy mà
không có các nghiên cứu/điều tra hỗ trợ sẽ thiếu một cơ sở dữ liệu tin cậy để xây dựng
kế hoạch cho hoạt động LMAT tại các địa phương. Xuất phát từ mục tiêu quan phát
triển Thiên Niên Kỷ thứ 5 (MDG5) trong giai đoạn 1990 - 2015 là nhằm giảm tỷ suất
TVM xuống 75% trước năm 2015, bởi vậy hai nguyên tắc chính trong giải pháp chiến
lược cho LMAT là [5]:

thiếu nguồn lực, thiếu sự hài lòng của bà mẹ là những hạn chế chính ở những quốc gia
này và thu hút những quốc gia này áp dụng những chương trình chuẩn khác nhau,
nhưng những chương trình này chưa đủ hiệu quả để phòng ngừa và điều trị TVM.
Trình độ kỹ thuật, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc y tế thiếu thốn, lạc hậu
cùng với thói quen và nhận thức hạn chế của các bà mẹ trong khi mang thai và khi sinh
là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe và tử vong bà mẹ.
8


Thế giới đã công nhận rằng cứ 1 bà mẹ chết đẻ thì có tới 30 - 50 bà mẹ khác bị
tổn thương mãn tính vì các nguyên nhân liên quan đến chửa đẻ, trong đó có những bệnh
tật nghiêm trọng để lại di chứng suốt đời [26]. Vấn đề sức khỏe bà mẹ thu hút được sự
quan tâm của các tổ chức quốc tế, đứng đầu là tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), tổng thư
ký của WHO tuyên bố rằng “Chỉ số tử vong do sinh sản không những đánh giá sức khỏe
phụ nữ mà còn đánh giá khả năng tiếp cận, sự đầy đủ và hiệu quả của các cơ sở y tế”.
Theo WHO thì nguyên nhân TVM được phân loại như sau:
Tử vong do các nguyên nhân trực tiếp:
Là những ca tử vong có nguyên nhân do biến chứng sản khoa trong giai đoạn
thai sản (thời kỳ mang thai, chuyển dạ và sau sinh), do can thiệp sản khoa, chẩn đoán
sai, điều trị không đúng hoặc do tất cả các nguyên nhân kể trên, ví dụ như: băng huyết,
nhiễm trùng, tiền sản giật/sản giật, đẻ khó, nạo hút thai không an toàn, chửa ngoài tử
cung, tắc mạch ối và các trường hợp tử vong có liên quan đến gây mê.
Tử vong do các nguyên nhân gián tiếp:
Là những trường hợp tử vong do những bệnh hiện tại hoặc đã mắc từ trước và
phát triển nặng lên trong quá trình mang thai, do hậu quả của việc mang thai như: Bệnh
gan, thiếu máu, sốt rét, bệnh tim, lao, AIDS và uốn ván.
Các yếu tố góp phần tác động đến TVM là thiếu sự chăm sóc trong thời kỳ
mang thai, sinh đẻ và giai đoạn sau sinh. Những yếu tố này khó phân loại hơn so với
các nguyên nhân bệnh tật, bao gồm chậm trễ trong việc tìm kiếm sự chăm sóc, chậm
trễ đến các cơ sở chăm sóc thích hợp, chậm trễ trong việc chẩn đoán, điều trị ở các cơ

Việt Nam

Nguy cơ tử vong mẹ (1

Người đỡ đẻ có

Tỷ lệ tử vong

bà mẹ/số bà mẹ)
1/21
1/17
1/400
1/9200
1/41
1/2900
1/19
1/3500
1/130

chuyên môn (%)
14
21
85
100
36
100
30
99
79


bệnh viện tuyến huyện vẫn chưa có khoa sơ sinh, hoặc nếu có cũng thiếu Bác sỹ
chuyên khoa. Thêm nữa, trang thiết bị phục vụ cấp cứu, chăm sóc sản phụ và trẻ sơ
sinh còn thiếu thốn, không đồng bộ. Khi sản phụ bị tai biến, việc vận chuyển bệnh
nhân lên tuyến trên còn rất chậm [15].
Tử vong mẹ ở nước ta có sự khác nhau giữa các khu vực dân cư, theo thống kê
của Bộ Y Tế năm 2001 thì TVM ở các tỉnh Tây Bắc là 13,4%, Tây Nguyên là 5,3% và
thấp nhất là 3,3% ở vùng Đông Bắc. Ở nhiều nơi chương trình LMAT không đáp ứng
được nhu cầu hoặc không đến được với phụ nữ vì khoảng cách xa xôi, chi phí tốn kém
hoặc do yếu tố kinh tế xã hội. Chăm sóc phụ nữ mang thai có thể có vị trí thấp trong
danh sách ưu tiên của các hộ gia đình do tốn kém thời gian, tiền bạc. Có nhiều phụ nữ
cho là vấn đề không đáng được đầu tư, dẫn đến hậu quả đáng buồn cho họ, con cái và
xã hội. Điều tra LMAT tại 7 tỉnh đại diện cho 7 vùng sinh thái [23] cho thấy vấn đề sức
khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh chưa được cải thiện đặc biệt ở miền núi, nguy cơ chết mẹ
chung là 334 có nghĩa là cứ 334 phụ nữ vào độ tuổi 15 - 49 sẽ có 1 trường hợp TVM.
Điều này phản ánh sự thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã góp phần tăng
TVM. Số tử vong cao nhất thường gặp ở những bà mẹ mù chữ, không có nghề nghiệp
và sống trong tình trạng nghèo đói hoặc thu nhập thấp và những phụ nữ cao tuổi, đẻ
nhiều lần.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tật và tử vong mẹ
Theo Trần Thị Phương Mai thì tai biến sản khoa (TBSK) trong giai đoạn mang
thai, sinh đẻ và hậu sản do can thiệp bỏ sót hoặc điều trị sai được xác định là nguyên
nhân TVM trực tiếp và phần lớn là chết tại nhà (44%) trong đó 42% là trường hợp bị
chậm trễ trong việc đưa đến cơ sở y tế, trên 30% phải chờ phương tiện vận chuyển từ
1-4 giờ [11]. Sự khó khăn trong việc tiếp cận các hệ thống chăm sóc sức khỏe có chất
11


lượng là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới kết quả thai nghén của bà mẹ. Hơn nữa sự thiếu
kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, thiếu thuốc và trang thiết bị thiết
yếu cũng như hạn chế về năng lực chuyên môn trong cấp cứu sản khoa là nhưng yếu tố


Việc thiếu chăm sóc này là mối đe dọa tính mạng lớn nhất đối với phụ nữ trong
khi sinh và vài ngày sau sinh, vì trong thời gian này những tai biến bất thường có thể
xuất hiện đe dọa tính mạng người phụ nữ, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất,
nhận thức của các thành viên trong gia đình về chất lượng dịch vụ, nền văn hóa cũng
như viện phí sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh đẻ tại nhà hay tại cơ sở y tế. Theo WHO, có
54 triệu bà mẹ không quyết định nơi sinh mỗi năm và 19 triệu bà mẹ đẻ không an toàn,
đẻ không an toàn giết chết 68.000 phụ nữ mỗi năm, 13% chết liên quan đến thai nghén,
nghiên cứu cho thấy cứ 5 phụ nữ đẻ có 1 phụ nữ đẻ không an toàn, và ít nhất có 1 bà
mẹ nhiễm trùng [25].

12


Abdulaziz và cộng sự cho rằng có nhiều yếu tố xã hội và văn hóa cũng ảnh
hưởng đến TVM, ví dụ: tỷ lệ mù chữ cao, kết hôn sớm, có thai cũng như đẻ nhiều và
thiếu các dịch vụ chăm sóc y tế cho các bà mẹ. Số trường hợp tử vong cao nhất thường
gặp ở những bà mẹ mù chữ (76%), không có nghề nghiệp (67%) và sống trong tình
trạng nghèo đói hoặc có thu nhập thấp (38%). Cũng trong nghiên cứu này, kết quả cho
thấy phụ nữ trên 40 phải đối mặt với nguy cơ cao TVM. Các bà mẹ càng nhiều con thì
những lần đẻ sau càng có nguy cơ phải can thiệp bằng phẫu thuật so với những lần
trước bởi vì những trường hợp này có quan hệ mật thiết với cao huyết áp, đái tháo
đường, thai to hoặc không bình thường và chảy máu, phương thức đẻ cũng là yếu tố
nguy cơ gây tử vong. Nguy cơ TVM trong và sau khi mổ lấy thai cao hơn 4 lần đẻ
thường [13].
1.3. Những chiến lược, kế hoạch và hướng dẫn chuẩn Quốc gia về CSSKSS.
Sau hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994, Việt Nam đã
xây dựng chiến lược quốc gia về công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 20012010 [9] gồm 7 mục tiêu, trong đó phản ánh một phương pháp tiếp cận tổng thể đối với
vấn đề sức khỏe sinh sản. Chiến lược này cũng thể hiện sự cam kết của Chính phủ Việt
Nam trong điều kiện cải thiện sức khỏe của phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên sau 5 năm

Krôngpắk.
- Xã Ea Tiêu: Phía đông với xã Eaktur, phía tây giáp với TP.Ban Mê Thuột, phía
nam giáp với xã ĐrâyBhăng, phía bắc giáp với huyện Krông Pắk.
1.4.2. Một số đặc điểm về kinh tế xã hội - Dân số (năm 2009):
1.4.2.1. Một số đặc điểm về kinh tế xã hội - Dân số huyện Cưkuin (năm 2009)
- Dân số: 107.347 người. Mật độ dân số huyện: 268 người/km2
- Phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng: 18.225 người. Số phụ nữ có thai: 1.703 người.
1.4.2.2. Một số đặc điểm về kinh tế xã hội - Dân số xã Ea Tiêu (năm 2009)
Dân số xã Ea Tiêu: 19.768. Mật độ dân số xã Ea Tiêu: 428 người/km2. Trong đó
đồng bào thiểu số là 8.388 người, chiếm tỷ lệ 42 %. Đại đa số làm nghề nông có mức
thu nhập thấp, cuộc sống kinh tế khó khăn.

14


15


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các phụ nữ sinh con trong thời gian từ 01/06/2009 – 30/06/2010.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Xã Ea Tiêu, huyện Cưkuin, Daklak.
Xã Ea Tiêu gồm 17 thôn, 7 buôn. Nghiên cứu khảo sát toàn bộ các bà mẹ trong
xã.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian bắt đầu : 15/07/2010 đến 30/04/2011
2.4. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang. Tại thời điểm nghiên cứu, các bà mẹ có

Lao động Thương binh và Xã hội điều chỉnh năm 2010: ở nông thôn, gọi là hộ
nghèo khi thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình ít hơn 3,6 triệu đồng
người/năm, tương đương 300.000 đồng/người/tháng.
Chăm sóc trước sinh:
- Khám thai đủ: là biến định tính có 2 giá trị:
o Khám thai đủ: khi bà mẹ có khám thai ít nhất là 3 lần và vào 3 kỳ của
thời gian mang thai.
o Khám thai không đủ: khi không thỏa mãn điều kiện trên.
- Tiêm phòng vắc xin uốn ván (VAT) đủ mũi: là biến định tính có 2 giá trị:
o Đủ mũi: khi bà mẹ được tiêm 2 mũi VAT trong thời gian mang thai, mũi
đầu bất kì thời gian nào khi mang thai, mũi thứ 2 cách mũi đầu ít nhất 4
tuần và trước ngày dự kiến sinh ít nhất 2 tuần.
o Không đủ mũi: tiêm 1 lần hoặc không tiêm phòng VAT trong khi mang
thai.
- Uống viên sắt đầy đủ: là biến định tính có 2 giá trị:
o Uống đầy đủ: khi bà mẹ uống mỗi ngày một viên Sắt (loại 60mg), trong
thời gian ít nhất là 6 tháng ở giai đoạn mang thai.
o Uống không đầy đủ: khi không thỏa các điều kiện trên.
- Tư vấn chăm sóc thai sản: là biến số định tính có 2 giá trị có và không:
o Có: khi được CBYT tư vấn về cách chăm sóc thai sản.
17


o Không: khi không được CBYT tư vấn về chăm sóc thai sản.
Chăm sóc trong khi sinh:
- Nơi sinh: gồm 3 giá trị là: tại nhà, tại TYT, tại Bệnh viện (Bv) huyện/tỉnh.
- Người đỡ đẻ: gồm 3 biến số: Bác sĩ, nữ hộ sinh (NHS), mụ vườn.
- Cách sinh: gồm có sinh thường, có can thiệp (Ventouse, Forceps), mổ đẻ.
- Tai biến khi sinh: là biến số định tính có 2 giá trị:
o Tai biến khi sinh bao gồm: vỡ tử cung, băng huyết, sản giật, tai biến

Đặc điểm

Tần số

Tỷ lệ phần trăm

35

30

8,4

Kinh

173

48,6


Khác

18

5,1

Không biết chữ

33

9,3

Cấp 1

85

23,9

Cấp 2

121

34,0

Cấp 3+

127

32,9


>=300.000đ/người/tháng

223

62,6

1-2 con

279

78,4

3+ con

77

21,6

=5km

142

39,9


69,9

Nhận xét:
• Hầu hết các bà mẹ được khảo sát có lứa tuổi từ 20 – 35, chiếm 82,3%.
• Về dân tộc thì người Ê đê (50,6%) và người Kinh (48,6%) chiếm chủ
yếu, còn lại phần rất nhỏ là các dân tộc khác: Tày, Nùng.
• Phần lớn các bà mẹ được khảo sát là nông dân (81,7%), kế đến là CBNV
(9,8%), các bà mẹ buôn bán và làm các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ
thấp.
• Học vấn của các bà mẹ chủ yếu là cấp 2 (34%), tỷ lệ mù chữ chiếm 9,3%.
• Các bà mẹ được khảo sát phần lớn là có chồng (97,5%), thuộc diện nghèo
khoảng 37,4%, khoảng 78,4% là có từ 1 – 2 con và khoảng cách từ nhà
tới TYT

Uống viên sắt >6 tháng

227

63,8

120

36,2

Tiêm VAT đủ 2 mũi

303

85,1

--

--

Tiêm VAT không đủ 2 mũi

44

12,7

--

--


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status