Phân tích môi trường ngành và chiến lược cạnh tranh của viettel - Pdf 47

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH VÀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH
CỦA VIETTEL

I.

Giới thiệu về Tập đoàn Viễn thông Quân đội (VIETTEL):
 Tên giao dịch

: Tập đoàn Viễn thông Quân đội

 Tên viết tắt

: VIETTEL

 Tên quốc tế

: Viettel Group

 Trụ sở chính

: Số 01, Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

 Cơ quan chủ quản : Bộ Quốc phòng
Tập đoàn Viễn thông Quân đội tiền thân là Tổng Công ty Điện tử thiết bị
thông tin được thành lập ngày 01 tháng 6 năm 1989 trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Tổng Công ty được ra đời với nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc nhằm củng cố
quốc phòng - an ninh và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế của đất nước
với nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh được triển khai trên toàn quốc và vươn
ra cả thị trường quốc tế.
Về kinh doanh các dịch vụ viễn thông, Tập đoàn không phải là đơn vị đầu
tiên triển khai dịch vụ này, tuy nhiên với chủ trương “Đi tắt đón đầu, tiến thẳng

Công ty Viễn thông Quân đội Viettel). Ngành nghề kinh doanh: Xuất nhập khẩu
sản phẩm điện tử thông tin, xây lắp các công trình thiết bị thông tin, đường dây tải
điện, trạm biến thế, lắp ráp các thiết bị điện, điện tử.
2.

Ngày 13 tháng 7 năm 1993:
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 388/HĐBT về

việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, Tổng Công ty được tổ chức lại thành
Công ty điện tử thiết bị thông tin.
3.

Ngày 27 tháng 7 năm 1993:
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 336/QĐ-QP (do Thứ trưởng

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên ký) về thành lập lại doanh nghiệp nhà nước
Công ty điện tử và thiết bị thông tin với tên giao dịch Quốc tế là SIGELCO, thuộc
Bộ Tư lệnh thông tin liên lạc - BQP.
2


4.

Ngày 14 tháng 7 năm 1995:
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 615/QĐ-QP quyết định đổi tên

Công ty Điện tử thiết bị thông tin (SIGELCO) thành Công ty Điện tử Viễn thông
Quân đội với tên giao dịch quốc tế là VIETEL (Lúc này cụm chữ chỉ có 01 chữ
“T”), trực thuộc BTL thông tin liên lạc - BQP. Được bổ sung ngành nghề kinh
doanh, được phép cung cấp các dịch vụ BCVT, trở thành nhà khai thác dịch vụ

3


8.

Ngày 02 tháng 3 năm 2005:
Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định thành lập Tổng Công ty Viễn

thông Quân đội.
9.

Ngày 06 tháng 4 năm 2005:
Bộ Quốc phòng có Quyết định số 45/2005/QĐ-BQP về việc thành lập Tổng

Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng, tên giao dịch bằng tiếng
Anh là VIETTEL CORPORATION, tên viết tắt là VIETTEL. Ngành nghề kinh
doanh là: cung cấp các dịch vụ BCVT trong nước, quốc tế; phát triển các sản phẩm
phần mềm trong lĩnh vực điện tử viễn thông, CNTT, Internet; sản xuất lắp ráp, sửa
chữa và kinh doanh các thiết bị điện, ĐTVT, CNTT và thiết bị thu phát vô tuyến
điện; khảo sát và lập dự án công trình BCVT, CNTT, xây lắp các công trình thiết bị
thông tin, đường dây tải điện, trạm biến thế; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng địa ốc,
khách sạn, du lịch; XNK công trình thiết bị toàn bộ về điện tử thông tin và các sản
phẩm điện tử, CNTT.
10.

Ngày 14 tháng 12 năm 2009:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 2079/QĐ-TTg về việc

thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Viễn thông Quân đội.


Thị trường viễn thông Việt Nam đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt (với
~86 triệu dân, nhưng thị trường đã có đến 7 nhà khai thác dịch vụ, đặc biệt là sự
thống trị của 3 đại gia là Viettel, Mobi và Vina đã chiếm hơn 90% thị phần dịch vụ,
còn lại gần 10% còn lại là của các nhà khai thác dịch vụ mới gia nhập như:
Vietnammobile, EVN và G-Tel,…)
Thông tin về nhà cung cấp: Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tố
thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn
tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp.

5


2. Áp lực cạnh tranh từ khách hàng:

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
Khách hàng được phân làm 2 nhóm:
+ Khách hàng lẻ.
+ Nhà phân phối
6


Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản
phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành
thông qua quyết định mua hàng. Các nhà cùng cấp dịch vụ viễn thông ngày càng
quan tâm đến việc thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Không ngừng cải
tiến các gói cước, giảm giá hoặc thực hiện các chương trình khuyến mại nhằm thu
hút khách hàng mới và duy trì những thuê bao cũ.
Tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp ta xem xét các tác động đến áp
lực cạnh tranh từ khách hàng đối với ngành

chuộng nhất. Chính Sony đã tự làm các rào cản về công nghệ, thương hiệu của
mình giảm sút bằng việc quá chú trọng vào phát triển theo chiều rộng nhiều ngành
để người tí hon Apple thâm nhập và kiểm soát toàn bộ thị trường, biến lợi thế cạnh
tranh của Sony trở thành gánh nặng cho chính họ.
Đối với viễn thông trong nước cũng vậy, hiện nay ngoài 3 đại gia lớn là
Viettel, Mobi và Vina thì có sự gia nhập của Vietnammobile và EVN. Đây là 2 đối
thủ tiềm ẩn đối với 3 đại gia khi mà đằng sau các doanh nghiệp luôn được sự bảo
trợ của các doanh nghiệp với số vốn rất lớn và sự đầu tư từ nước ngoài. Đây thực
sự là mối đe dọa đối với các doanh nghiệp viễn thông trong nước, khiến các doanh
nghiệp luôn phải cảnh giác.

4. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế:

Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu
tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Áp lực cạnh tranh chủ yếu của
sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành,
thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng, các yếu tố khác của môi trường

8


như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm
thay thế.
Tính bất ngờ, khó dự đoán của sản phẩm thay thế: Ngay cả trong nội bộ ngành với
sự phát triển của công nghệ cũng có thể tạo ra sản phẩm thay thế cho ngành mình.
Điện thoại di động chính là sản phẩm thay thế cho điện thoại cố định và sắp tới là
VOIP sẽ thay thế cho cả hai sản phẩm cũ.

5. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành:





Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
9


Thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông di động Việt Nam hiện nay đã có
rất nhiều nhà cung cấp nhưng quyền lực chi phối thị trường vẫn nằm trong tay 3
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn là Vina Phone, Mobifone và Viettel. Nhu cầu
sử dụng dịch vụ của Việt Nam tăng khoảng 5-10%/ năm, doanh thu, lợi nhuận của
các nhà cung cấp cũng tăng với con số tương đương. Mặc dù cho các rào cản gia
nhập ngành, rào cản rút lui .... là cao, áp lực từ khách hàng không đáng kể nhưng
đang có rất nhiều doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập vào thị trường. Một điều đáng
mừng hơn nữa là sự ra đời của ngành dịch vụ kèm theo dịch vụ viễn thông như:
Các tổng đài giải trí, cá cược, các dịch vụ khác mà điển hình gần đây là xem giá
chứng khoán qua mạng di động. Với xu hướng này sức cạnh tranh trong nội bộ
ngành sẽ ngày càng gia tăng và lúc đó người tiêu dùng sẽ ngày càng được tôn trọng
hơn.

6. Áp lực từ các bên liên quan mật thiết:

Đây là áp lực không được đề cập trực tiếp ngay trong ma trận nhưng trong
quyển sách " Strategic Management & Business Policy" của Thomas L. Wheelen
và J. David Hunger có ghi chú về áp lực từ các bên liên quan mật thiết.
+ Chính phủ
+ Cộng đồng
+ Các hiệp hội
+ Các chủ nợ, nhà tài trợ
+ Cổ đông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status