ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------
TRẦN THẾ PHI
ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------TRẦN THẾ PHI
ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG ANH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học So sánh-Đối chiếu
Mã số:
62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Nguyễn Văn Huệ
2. PGS. TS. Nguyễn Thị Hai
Phản biện độc lập:
i
MỤC LỤC
Trang
DẪN NHẬP
1
0.1. Lý do chọn đề tài
1
0.2. Lịch sử vấn đề
2
0.2.1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh
2
0.2.2. Từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt và tiếng Anh
8
0.2.2.1. Tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt
8
22
1.1. Một số vấn đề về ngữ nghĩa học tri nhận
22
1.1.1. Bốn nguyên lý chủ đạo của ngữ nghĩa học tri nhận
23
1.1.2. Các thành phần cấu tạo nên ẩn dụ tri nhận
27
1.1.3. Nền tảng cơ bản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm
29
1.2. Những vấn đề liên quan đến cảm xúc
34
1.2.1. Phân loại cảm xúc
34
1.2.2. Các đường hướng nghiên cứu về cảm xúc
38
1.3.3. Sự tương tác giữa ẩn dụ và hoán dụ trong phạm trù cảm xúc
60
1.4. Những vấn đề cơ bản về thành ngữ
62
1.4.1. Quan điểm về thành ngữ trong tiếng Việt
62
1.4.2. Quan điểm về thành ngữ trong tiếng Anh
65
1.4.3. Quan điểm về thành ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
67
1.5. Tiểu kết
71
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM CẢM XÚC TRONG
72
THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
91
2.3.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn VẬT CHỨA
91
2.3.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG
95
2.3.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG
97
2.3.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn GÁNH NẶNG
101
2.3.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc buồn với miền nguồn THIẾU SINH KHÍ
102
2.4. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc giận trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
104
2.4.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc giận với miền nguồn VẬT CHỨA
104
121
2.5.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG
123
2.5.3. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn LỰC TÁC ĐỘNG
124
2.5.4. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn MÀU SẮC
126
2.5.5. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn KẺ THÙ ẨN NẤP
127
2.5.6. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn THỰC THỂ SIÊU NHIÊN 128
2.5.7. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc sợ với miền nguồn BỆNH TẬT
2.6. Ẩn dụ ý niệm về cảm xúc yêu trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
131
132
2.6.1. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn VẬT CHỨA
134
2.6.2. Ẩn dụ ý niệm cảm xúc yêu với miền nguồn PHƯƠNG HƯỚNG
145
3.2. Một số vấn đề liên quan đến lý thuyết dịch thành ngữ và dịch ẩn dụ
146
3.2.1. Các vấn đề về lý thuyết dịch thành ngữ
146
3.2.2. Các vấn đề về lý thuyết dịch ẩn dụ
149
3.3. Khảo sát việc sử dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong dịch thành ngữ từ
tiếng Anh sang tiếng Việt
3.3.1. Phương pháp và ngữ liệu khảo sát
155
155
3.3.2. Kết quả khảo sát dịch thành ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt ở các
từ điển thành ngữ song ngữ Anh-Việt
157
iv
3.3.2.1. Khảo sát phương thức dịch thành ngữ biểu thị cảm xúc tiếng Anh
3.4.1. Một vài đề xuất cụ thể qua cuộc khảo sát
177
177
3.4.2. Một số đề xuất về việc ứng dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc vào
quy trình dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt
180
3.5. Tiểu kết
183
KẾT LUẬN
185
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
190
TÀI LIỆU THAM KHẢO
191
PHỤ LỤC 1: Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt - Anh
203
thành ngữ được đặt trong mối tương quan với các chuyên ngành xã hội khác (xem
Hoàng Văn Hành [22, 23], Nguyễn Công Đức [15], Hoàng Diệu Minh [35], Nguyễn
Thị Tân [39], Phạm Minh Tiến [48], v.v). Trong những năm gần đây, thành ngữ
tiếng Việt cũng là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận, một ngành ngôn
ngữ học ra đời từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX và được xem là
một “trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ
trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan
cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình
của thế giới khách quan đó” [42, tr.16]. Một số công trình tiên phong nghiên cứu
tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận có thể kể đến là các chuyên khảo
của Lý Toàn Thắng [41, 42], Trần Văn Cơ [5] và một số luận án của Nguyễn Ngọc
Vũ [55], Phan Thế Hưng [27], Võ Kim Hà [20].
Đặc biệt hơn, ngữ nghĩa học tri nhận, một chuyên ngành của ngôn ngữ học
tri nhận, là một khuynh hướng lý thuyết vừa có sự kế thừa ngữ nghĩa học truyền
thống vừa thể hiện những nét mới của ngữ nghĩa học biểu hiện tinh thần cuối thế kỉ
XX. Lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận thường được xây dựng dựa trên lập luận rằng
nghĩa từ vựng có tính ý niệm. Theo đó, ý nghĩa của một vị từ không tham chiếu đến
các thực thể hoặc các mối quan hệ trong “thế giới thực” mà vị từ đó đề cập đến, mà
nó tham chiếu đến một ý niệm trong tâm trí dựa trên kinh nghiệm luận có được với
các thực thể hoặc các mối quan hệ. Một số nhà ngôn ngữ đi đầu trong nghiên cứu và
phát triển ngữ nghĩa học tri nhận trên thế giới có thể được kể đến là George Lakoff
2
[111], Dirk Geeraerts [77], Leonard Talmy [146], v.v. Ở Việt Nam, theo chúng tôi
tìm hiểu, thì hiện nay vẫn chưa có một khảo cứu chuyên sâu nào về khả năng ứng
dụng của ngữ nghĩa học tri nhận trên mô hình ẩn dụ ý niệm cảm xúc của đối tượng
thành ngữ, một đơn vị ngôn ngữ chứa nhiều giá trị văn hóa truyền thống của một
dân tộc. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài “Ẩn dụ ý niệm cảm xúc
thành ngữ so sánh và thành ngữ thường. Hai đặc điểm quan trọng của thành ngữ
đối là quan hệ đối ý và quan hệ đối lời. Thành ngữ đối được đặc trưng là ít nhất hai
thành tố, tức mỗi vế là một thành tố, chẳng hạn nước mắt / mồ hôi; bốn thành tố,
chẳng hạn chân lấm tay bùn, mẹ tròn con vuông. Thành ngữ so sánh trong tiếng
Việt được cấu tạo theo công thức tổng quát A như B, trong đó A là đối tượng so
sánh, B là đối chứng so sánh, như là quan hệ so sánh. Trong mô thức này, đối
tượng so sánh (A), quan hệ so sánh (như) có thể có mặt hoặc tiềm ẩn. Thành ngữ
thường được cấu tạo bằng các đoản ngữ, chủ yếu là động ngữ, ví dụ gửi trứng cho
ác, hoặc bằng các kết cấu chủ vị, ví dụ chó ngáp phải ruồi. Bởi phải dùng đến một
dung lượng từ ngữ ở những mức độ cần thiết mới diễn đạt được nội dung ngữ nghĩa
của nó, thành ngữ loại này có những giáp ranh nhất định với tục ngữ. Do đối tượng
nghiên cứu của đề tài là thành ngữ tiếng Việt nói chung, nên tác giả không thể khảo
sát ngữ nghĩa của từng loại thành ngữ cụ thể mà chỉ khái quát cơ chế tạo nghĩa
chung của thành ngữ mà thôi.
Luận án “So sánh cấu trúc-chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt”
của Hoàng Diệu Minh [35] có mục đích miêu tả, so sánh và phân loại 2938 thành
ngữ và 1668 tục ngữ trên phương diện cấu trúc-chức năng xuất phát từ chỗ có
những đơn vị chưa xác định được là thành ngữ hay tục ngữ, tác giả muốn dựa vào
lý thuyết ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học để làm sáng tỏ vấn đề. Khi
bàn luận về thành ngữ, tác giả cho rằng việc phân loại thành ngữ có thể căn cứ trên
tiêu chí cấu trúc-chức năng. Ngữ là đơn vị có chức năng cú pháp. Thành ngữ có cấu
tạo của một ngữ. Vì thế thành ngữ cũng có thể có cấu tạo của một ngữ danh từ hoặc
một ngữ vị từ. Các ngữ này cũng có thể được phân loại theo cách cấu trúc của một
ngữ đẳng lập, ví dụ con mày con nuôi, bên trọng bên khinh, ba đầu sáu tay, hay một
ngữ chính phụ hoặc một ngữ láy, ví dụ chân như ống sậy, chết nhăn răng, dai như
đỉa, lẩu bẩu như chó hóc xương. Tuy nhiên, như mục đích của luận án đã nêu, tác
giả chỉ quan tâm đến cấu trúc-chức năng của thành ngữ trong thế so sánh với tục
4
5
chức năng của các bộ phận cơ thể và sự khác biệt ở yếu tố văn hóa và loại hình văn
hóa. Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ mới nghiên cứu lớp thành ngữ chứa yếu tố chỉ
bộ phân cơ thể người mà chưa chú ý khai thác đến các mặt khác của thành ngữ, đặc
biệt là về mặt biểu ý của thành ngữ.
Luận án “Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu tiếng Anh và
tiếng Việt” của Phan Thế Hưng [27] đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của ẩn dụ ý
niệm, trong đó đặc điểm nổi bật về chức năng của ẩn dụ đó là nhằm giúp con người
hiểu rõ hơn các ý niệm, không chỉ là các phương thức tu từ của ngôn ngữ, mà còn
là quy trình tự nhiên của nhận thức về tư duy. Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh
rằng, trải nghiệm của cơ thể con người trong ẩn dụ hóa là những trải nghiệm mang
tính phổ quát. Điểm đáng chú ý ở luận án này là tác giả đã đề cập sự tương tác giữa
ẩn dụ và hoán dụ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận có xét đến yếu tố kinh
nghiệm cơ thể phản ánh trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, tác giả chủ yếu tổng hợp kết
quả nghiên cứu và luận điểm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới khi
nghiên cứu tiếng Anh, không đi sâu vào các ẩn dụ cụ thể, mà dùng ngữ liệu trong
tiếng Anh và một số ví dụ trong tiếng Việt để làm chứng cứ cho ẩn dụ ý niệm, nên
những phát hiện mới trong tiếng Việt là chưa nhiều.
Luận án gần đây nhất “Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so
sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp)” của Võ Kim Hà [20] khảo sát cấu trúc và tính
hệ thống của ẩn dụ dựa trên các nguyên tắc phân loại của lý thuyết nguyên mẫu.
Tác giả tập trung phân tích miền nguồn “Dòng chảy” và miền đích “Suy nghĩ”
trong tiếng Việt vì cho rằng đây là những miền ý niệm thường được sử dụng trong
tiếng Việt. Phần so sánh đối chiếu, tác giả chọn yếu tố tay trong tiếng Việt để so
sánh với hand của tiếng Anh và main trong tiếng Pháp. Điểm đáng lưu ý của luận
án này là tác giả đã vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để phân tích và kiến
giải khá chi tiết cơ chế tri nhận của một số ẩn dụ và hoán dụ. Tuy nhiên, như tác
nghĩa đen theo các thành tố từ của thành ngữ này hoàn toàn khác với nghĩa của cả
thành ngữ. Theo Jackson và Amvela [95], cái gọi là “thành ngữ thuần” thực ra là
“thành ngữ cố định” vì loại thành ngữ này “có xu hướng mất đi tính sống động và
người nói thường lãng quên nguồn gốc ẩn dụ của chúng”.
7
Fernando [74, tr.60-63] chỉ ra rằng có một kiểu phân loại ngữ nghĩa phụ
thuộc vào mức độ cô lập nghĩa và mức độ tối nghĩa và được chia thành ba tiểu loại
như sau:
(i) Thành ngữ thuần: Chúng là những biểu thức chứa nhiều từ hoạt động như
một đơn vị ngữ nghĩa độc lập mà ý nghĩa của các từ riêng lẻ không thể được tổng
hợp lại với nhau để tạo ra ý nghĩa của toàn bộ khối. Ví dụ, “smell the rat”, nghĩa là
“trở nên đáng ngờ” nhưng không có nghĩa “ngửi thấy con chuột”.
(ii) Bán thành ngữ: Một thành tố kiến tạo nên thành ngữ loại này thường giữ
lại nghĩa nguyên văn của nó. Ví dụ, bán thành ngữ “rain cats and dogs” (có nghĩa là
“mưa tầm tả”) hay “blue film” (có nghĩa là “phim đồi trụy”), một thành phần của
chúng, trong trường hợp này “rain” (mưa) và “film” (phim) vẫn còn duy trì nghĩa
nguyên văn của chúng.
(iii) Thành ngữ nguyên văn: Chúng có thể được giải thích trên cơ sở của các
thành tố cấu tạo nên chúng, hay nói cách khác, chúng có nghĩa tường minh. Các
thành tố của những thành ngữ như vậy thường được sử dụng theo ý nghĩa trực tiếp,
mặc dù những sự kết hợp như thế đôi khi đòi hỏi nghĩa biểu trưng. Ví dụ “rub salt
in a wound” (nghĩa nguyên văn “xát muối vào vết thương”) có nghĩa là “làm tổn
thương tình cảm của một ai đó, làm ai đau khổ thêm.”
Về phương diện cú pháp, Gramley và Patzold [84, tr.57] nhận định rằng các
nhà ngôn ngữ học đã dựa vào các tiêu chuẩn cú pháp khác nhau để nêu các đặc
trưng nhận diện của thành ngữ. Theo đó, thành ngữ tiếng Anh có thể phân loại theo
từ loại, chẳng hạn như thành ngữ là cụm danh từ (ví dụ an old flame / người tình
các ngôn ngữ, liệu cụm từ tương đương khi dịch các từ ngữ cảm xúc có biểu thị
cùng ý nghĩa, và liệu các ý niệm cảm xúc phổ quát có tính chất riêng của một ngôn
ngữ hay một nền văn hóa cụ thể nào đó hay không. Ở nội dung này, để có cái nhìn
đa chiều về đối tượng nghiên cứu thành ngữ biểu thị cảm xúc trong luận án của
chúng tôi, vì lẽ thành ngữ biểu thị cảm xúc cũng có quan hệ với lớp từ ngữ cơ bản
biểu thị cảm xúc, nên việc lược sử tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc
trong tiếng Việt và tiếng Anh là cần thiết.
0.2.2.1. Tình hình nghiên cứu từ ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Việt
Các nhà nghiên cứu Việt ngữ học đã có một số công trình tiêu biểu nghiên
cứu các đơn vị từ ngữ biểu thị những cung bậc cảm xúc khác nhau. Trên bình diện
9
phong cách học, Cù Đình Tú [50, tr.43] cho rằng biểu lộ tình cảm với những cung
bậc khác nhau trước hết là hiện tượng của nhận thức và của tâm lý. Những cung bậc
tình cảm này có thể phản ánh hai thái độ đối lập nhau:
-
Thái độ khẳng định như: vui sướng, phấn khởi, yêu thích, say mê, thán phục,
thông cảm, cảm tình, hài lòng, âu yếm, vuốt ve, trìu mến… Đó là những tình
cảm tốt, tích cực, dương tính.
-
Thái độ phủ định như: phật ý, tức giận, bực mình, uất ức, phẫn nộ, trách
móc, mỉa mai, bài bác, lên án, đùa cợt, khôi hài, châm biếm,… Đó là những
tình cảm xấu (không thiện cảm), tiêu cực, âm tính.
Những cung bậc tình cảm dương tính và âm tính nói trên, như đã thấy, đều
lớp từ phong cách và nhóm biến thể từ vựng, trong đó ở lớp từ phong cách, tác giả
có nhận định tính biểu cảm của thành ngữ.
Khi nghiên cứu về lớp từ vựng biểu thị các loại cảm xúc, Vũ Đức Nghiệu
[36] đã thu thập được 198 đơn vị từ vựng có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể nhằm biểu
thị các trạng thái tâm lý, ý chí, tình cảm của con người, và tập hợp các đơn vị từ
vựng này thành 18 nhóm khác nhau. Trong 18 nhóm từ vựng này, tác giả có đề cập
đến 9 nhóm từ vựng biểu thị tình cảm như sau:
i.
Những kết cấu phản ánh trạng thái vui vẻ, thoả mãn. Ví dụ: bùi tai, ngon
mắt, vui miệng, đẹp mặt, mát lòng, hả dạ, sướng bụng, phổng mũi.
ii. Trạng thái yên tâm, không lo lắng: yên dạ, yên lòng.
iii. Buồn/thương/tiếc: đứt ruột, xót ruột, thối ruột, đau lòng, não lòng, chạnh
lòng.
iv. Có thái độ, tình cảm tốt/không tốt trong quan hệ với người khác: được lòng,
rộng lòng, thật/thực lòng, thật/thực bụng, phải lòng, mất lòng.
v. Bực/tức giận: bực mình, nóng gáy, ngứa mắt, cáu sườn, nóng tiết, điên tiết,
sôi máu, sôi gan, tím gan, lộn ruột, nóng mặt, sưng mặt, cau mặt, xịu mặt.
vi. Khó chịu vì những cái trái lẽ: trái tai, chướng tai, chướng mắt, nóng tai.
vii. Lo/sợ/căng thẳng: rợn/dựng tóc gáy, sởn/nổi da gà, rợn người, vàng mắt, tái
mặt, méo mặt, thót tim, vãi đái, toát mồ hôi, sởn gáy, bận lòng, điên đầu, rối
ruột.
11
viii. Kinh ngạc, mất phản ứng, mất ý chí: trơ mắt, lác mắt, đuỗn mặt, đần mặt,
đực mặt, ngay râu.
ix. Thèm khát: nhỏ dãi, ứa nước miếng/nước bọt.
Sau khi khảo sát nhiều nghiên cứu hiện có và danh sách các thuật ngữ cảm xúc,
Monika Bednarek [62] đã khái quát 18 tiểu loại ngữ nghĩa, bao gồm: (1) cảm giác
về quá khứ (feelings about the past); (2) cảm giác về tương lai (feelings about the
future); (3) sự hài lòng, phấn khích và sự hứng khởi (pleasure, excitement, and
elation); (4) sự coi trọng và lòng biết ơn (appreciation and gratitude); (5) sự nhiệt
tình và sự tỉnh táo (enthusiasm and alertness); (6) nỗi buồn, sự đau khổ, và tuyệt
vọng (sadness, distress, and despair); (7) sự bối rối, bồn chồn, và lo lắng
(confusion, anxiety, and worry); (8) sự chọc tức và cơn giận (irritation and anger);
(9) sự xấu hổ và nhục nhã (embarrassment and humiliation); (10) sợ hãi và hoảng
loạn (fear and panic); (11) sự bất ổn và mất bình tĩnh (insecurity and loss of
composure); (12) ngạc nhiên, sốc, và kinh ngạc (surprise, shock, and amazement);
(13) đố kị và ganh tị (envy and jealousy); (14) tình yêu, tôn trọng, và thiện chí (love,
respect, and goodwill); (15) lòng từ bi và sự tha thứ (compassion and forgiveness);
(16) sự đối kháng (antagonism); (17) quan tâm và chăm sóc (be concerned and
care); (18) lòng khao khát và thèm muốn (desire and want). Cuộc khảo sát này đã
tập hợp một danh sách gồm 1060 đơn vị từ vựng về cảm xúc, tuy không thể khẳng
định đó là một danh sách đầy đủ, nhưng cũng có thể xem là chứa một tập hợp khá
lớn từ ngữ cảm xúc của tiếng Anh.
Trong công trình “Ẩn dụ và Cảm xúc – Ngôn ngữ, Văn hóa, và Cơ thể trong
Cảm xúc con người” xuất bản năm 2004, Kövecses [103] nêu ba lớp từ ngữ cảm
xúc trong tiếng Anh gồm (1) từ ngữ biểu cảm, (2) từ ngữ có nghĩa gốc hay nghĩa
đen biểu thị các loại cảm xúc, và (3) từ ngữ có nghĩa biểu trưng miêu tả các đặc tính
của cảm xúc. Trong số đó thì lớp từ ngữ (3) chiếm số lượng nhiều nhất tính cho đến
nay, tuy vậy nó chưa nhận được sự chú ý đáng kể nào trong các nghiên cứu ngôn
ngữ cảm xúc. Lớp từ ngữ có nghĩa biểu trưng chưa thu hút các nhà nghiên cứu lưu
tâm đến vì họ xem lớp từ ngữ này như một nhánh nghiên cứu phụ khi cho rằng
không có cách biểu đạt nội dung nào thú vị hơn bằng ngôn ngữ đơn giản với nghĩa
gốc hay nghĩa đen. Hơn nữa, các từ ngữ trong lớp từ ngữ biểu cảm (1) thường có
ngôn ngữ nhất định nào đó có thể cảm thấy rằng một số từ cảm xúc là cơ bản hơn
các từ khác. Những từ ngữ cơ bản hơn trong tiếng Anh bao gồm anger, sadness,
fear, happiness và love (giận, buồn, sợ, vui và yêu). Những từ ngữ ít cơ bản hơn bao
gồm annoyance, wrath, rage, hatred, indignation, fright, và horror (phiền toái,
thịnh nộ, giận dữ, hận thù, phẫn nộ, sợ hãi, và kinh sợ).
Ngoài thuật ngữ từ ngữ biểu cảm và miêu tả, có một loại biểu thức khác liên
quan đến cảm xúc, đó là từ ngữ biểu trưng. Nhóm từ ngữ biểu trưng này có thể
nhiều hơn cả hai loại từ ngữ kia gộp lại. Ở đây, những thuật ngữ này không gọi tên
những cảm xúc cụ thể, và vấn đề không phải là từ vựng hay biểu thức ấy có cơ bản
14
hay điển mẫu đến như thế nào. Từ và biểu thức thuộc nhóm này biểu thị khía cạnh
khác nhau của ý niệm cảm xúc, chẳng hạn như cường độ, nguyên do, và kiểm soát.
Chúng có tính ẩn dụ và hoán dụ. Các biểu thức ẩn dụ là biểu hiện của phép ẩn dụ ý
niệm mà miền nguồn thường mang tính vật chất hoặc sinh lý (xem Lakoff và
Johnson [113]). Ví dụ, “boiling with anger” (sôi sục lên vì giận) là một ví dụ ngôn
ngữ của một ý niệm ẩn dụ GIẬN LÀ MỘT CHẤT LỎNG NÓNG ( Lakoff và
Kövecses [115]; Lakoff [108]; Kövecses [97], [100]); tương tự như hình ảnh vật lý
trong “burning with love” (đốt cháy với tình yêu) là một ví dụ của YÊU LÀ LỬA
(Kövecses, [99]), và “to be on cloud nine” (trên chín tầng mây) là một ví dụ của
VUI LÀ HƯỚNG LÊN, trong đó có một miền vị trí tưởng tượng trên trục thẳng
đứng (Kövecses, [100]). Tất cả ba ví dụ nêu trên cho thấy các khía cạnh cường độ
của cảm xúc có liên quan đến từ ngữ biểu thị chúng.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm cảm xúc thông qua khảo sát thành ngữ tiếng
Việt biểu thị năm loại cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu (so sánh với thành ngữ tiếng
Anh tương ứng) từ bình diện ngữ nghĩa học tri nhận nhằm:
- Góp phần làm sáng rõ thêm lý thuyết ẩn dụ ý niệm của ngữ nghĩa học tri
xúc này vì chúng là những cảm xúc cơ sở (vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết ở
chương 1), đồng thời quá trình sưu tập các thành ngữ loại này cũng ghi nhận một số
lượng đơn vị thành ngữ tương đối đủ để tiến hành phân tích đối chiếu, cụ thể như
sau:
Loại cảm xúc
Số lượng thành ngữ tiếng
Số lượng thành ngữ tiếng
Việt biểu thị loại thành
Anh biểu thị loại thành
ngữ này
ngữ này
Vui
68
91
Buồn
146
72
ngữ nghĩa, cụ thể là các mô hình ẩn dụ ý niệm của thành ngữ biểu thị cảm xúc. Đây
là những vấn đề quan trọng nhất, phản ánh đặc trưng tư duy, ngôn ngữ và văn hóa
của cộng đồng sử dụng chúng.
Ngữ liệu phục vụ cho nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu được lấy từ các loại
từ điển tiếng Việt và tiếng Anh như sau:
Từ điển tiếng Việt:
- Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển thành ngữ Việt Nam, NXB Văn Hóa, Hà
Nội. [52]
- Nguyễn Lân (1989), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp
TP.HCM, TP.HCM. [31]
- Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (2009), Thành ngữ tiếng Việt (tái bản lần 3),
NXB KHXH, Hà Nội. [34]
- Việt Chương (2009), Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB
Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai. [3]
Từ điển tiếng Anh:
- Siefring, Judith (2004), Oxford Dictionary of English Idioms, 2nd edition,
OUP, Oxford. (hơn 5.000 đơn vị) [139]
- McCarthy, Michael et al (1998), Cambridge International Dictionary of
Idioms, CUP, Cambridge. (khoảng 7.000 đơn vị) [126]
- Ammer, Christine (1997), The American Heritage Dictionary of Idioms,
Forbes Inc., USA. (hơn 10.000 đơn vị) [57]
- Spears, Richard A. (2000), NTC’s English idioms dictionary, 3rd edition,
National Textbook Company, Illinois, USA. (khoảng 8.500 đơn vị) [143]
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát sáu quyển từ điển thành ngữ
song ngữ Anh-Việt để phục vụ cho mục tiêu tìm hiểu việc sử dụng ẩn dụ ý niệm cảm
xúc trong dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt của chương 3:
17