Dịch vụ công tác xã hội với trẻ tự kỷ tại trung tâm sao mai quận thanh xuân hà nôi - Pdf 47

MỤC LỤC

STT
1
2
3
4

1

Chữ viết tắt
CTXH
NVCTXH
TC
TTK

Tên đầy đủ
Công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội
Thân chủ
Trẻ tự kỷ

1


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

2

2


làm gì hoặc không tìm kiếm các nhà chuyên môn trợ giúp. Thái độ thương
hại hay tội nghiệp của những người thân quen đối với trẻ và gia đình có trẻ
tự kỷ lại càng làm cho gia đình đau khổ hơn. Những mâu thuẫn căng thẳng
trong gia đình có trẻ tự kỷ có thể xảy ra giữa vợ với chồng, giữa bố mẹ với
con cái… Bên cạnh đó, gánh nặng về kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ
cùng với những mâu thuẫn, những khó khăn tâm lý đã trở thành nguy cơ đe
dọa hạnh phúc gia đình nếu gia đình không biết cách vượt qua vấn đề tự kỷ
3

3


ở trẻ.
Đứng trước hàng loạt những yếu tố khó khăn trên thì việc ra đời các
loại hình dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ là một điều tất yếu để đáp ứng
nhu cầu của các bậc phụ huynh, các gia đình có trẻ bị tự kỷ. Tuy nhiên,
hiện nay những công trình nghiên cứu về các loại hình dịch vụ đối với TTK
đang còn rất nhiều hạn chế và khó khăn nhưng Trung tâm Sao Mai - Quận
Thanh Xuân – Hà Nội đã và đang triển khai khá thành công những loại
hình đó. Trung tâm là đơn vị đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực phát hiện
sớm- can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ ở Hà Nội nói riêng và Việt nam nói
chung, tại đây trẻ được đối sử bình đẳng, được học tập và trị liệu với những
chuyên gia đến từ khắp mọi nơi trên thế giới như Anh, Singaro, Nhật
Bản… những thầy cô giáo được đào tạo bài bản, chuyên sâu, ngày càng
mang lại kết quả và cách nhìn tích cực đối với trẻ tự kỷ góp công rất lớn
trong việc hỗ trợ trẻ hòa nhập và tái hòa nhập tại cộng đồng. Đó là lý do tôi
chọn đề tài “ Dịch vụ Công Tác Xã Hội với trẻ tự kỷ tại Trung tâm Sao
Mai- Quận Thanh Xuân - Hà Nôi”.
Từ kết quả nghiên cứu, tôi xin được đưa ra cái nhìn tổng quan về hội
chứng tự kỷ, những hành vi bất thường được nhận diện ở trẻ tự kỷ, đồng

hành vi sớm và tích cực.[20,tr55]
Hepworth D.J (nhà tâm lý Nhi) và Lori Frost (nhà âm ngữ trị liệu)
nghiên cứu phương pháp PECS là Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi
tranh (Picture Exchange Communication System) ứng dụng vào can thiệp
sớm cho TTK. Tác giả sử dụng một loạt chiến lược để giúp TTK có được
các kĩ năng giao tiếp. Tuy nhiên, phương pháp này mới tập trung vào giúp
trẻ giao tiếp không lời, cho phép trẻ lựa chọn cách thể hiện nhu cầu của
mình bằng tranh ảnh. Điều này đã giảm nhẹ hành vi của TTK, và trẻ trở
nên vui vẻ hơn chứ chưa tập trung vào phát triển kĩ năng giao tiếp cho
TTK.[23]
Một tổ chức chuyên nghiên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện
nhận thức ở TTK đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội
đối với trẻ tự kỷ. Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở
Washington, nằm trong chuỗi chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về
các phương pháp cải thiện nhận thức và phản ứng của bộ não trẻ tự kỷ.
Đứng đầu nhóm nghiên cứu, bà Geraldine Dawson cho biết: “Quá trình lớn
lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh hưởng rất nhiều đến khả
năng tương tác xã hội hàng ngày của các em. Riêng đối với những đứa trẻ
mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé nhận
được sự tương tác, quan tâm của cộng đồng" [19, tr.6].
Ngày 11/4 được Liên Hợp Quốc chọn làm ngày tự kỷ (Autism
Awareness Day). Theo báo cáo của Bộ Y tế Trung Quốc, nước này có
khoảng 1,6 triệu trẻ tự kỷ (2006). Với đặc trưng là để lại hậu quả lâu dài
trong suốt cuộc đời. Về mặt nhân văn đây là vấn đề xã hội cần hỗ trợ, can
thiệp; về mặt kinh tế xã hội, việc can thiệp sớm sẽ giúp giảm bớt gánh nặng
kinh tế xã hội. Nghiên cứu của Mỹ cho biết con số đánh giá đối với những
trẻ sinh vào năm 2000, toàn bộ chi phí chi suốt cuộc đời một đứa trẻ tự kỷ
là 3,74 triệu đô la Mỹ, trong đó cho phí lớn nhất là mất sức lao động chiếm
60% tổng chi phí. Như vậy, với số lượng lớn trẻ tự kỷ, tổn hại do không có
khả năng lao động là một con số rất lớn [12, tr.15].

lượng giao tiếp: Phát ra một chuỗi âm thanh khác thường (82,1%), không
biết chơi giả vờ (98,4%)…. [3].
Ths. Đào Thị Thu Thủy (2012): “Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của
trẻ tự kỷ 5-6 tuổi của” chỉ ra can thiệp hành vi ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ sẽ
giúp trẻ tăng cường khả năng nhận thức, tương tác và hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu cũng mô tả thực trạng hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ tuổi mẫu
giáo nhằm giúp giáo viên hỗ trợ, chuyên gia giáo dục trẻ tự kỷ…xác định
được mức độ hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục TTK, giúp trẻ tự kỷ tham gia học hòa nhập. Có thể thấy kết quả
nghiên cứu này đã đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu
hành vi ngôn ngữ của TTK độ tuổi 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên đây mới chỉ là sự
đóng góp ở khía cạnh chuyên môn dành cho các chuyên gia, giáo viên hỗ
trợ trẻ còn về phía gia đình do chuyên môn giáo dục can thiệp trẻ có nhu
6

6


-

cầu đặc biệt còn hạn chế nên ngoài mặt lý luận, những gia đình có trẻ tự kỷ
cũng cần một sự hỗ trợ cụ thể hơn [13].
Năm 2013, tác giả Hoàng Thị Phương trong công trình “Một số biện
pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi”, trong đó
giao tiếp được khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ
bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn. Đó là những kỹ năng
mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này cho trẻ ở
cấp tiểu học [11, tr.8].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh đã hoàn thành luận án tiến sĩ với đề
tài “ Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ từ 3 – 4 tuổi”,



6. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội trong việc trợ giúp trẻ em tự kỷ tại Trung
tâm Sao Mai.
7. Phạm vi nghiên cứu
7.1. Nội dung nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung vào việc nghiên cứu lý luận
và thực trạng về dịch vụ CTXH đối với TTK tại Trung tâm Sao Mai – Quận
Thanh Xuân – Hà Nội và đề xuất một số biện nâng cao hiệu quả của dịch
vụ CTXH đối với TTK tại Trung tâm.
7.2. Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Sao Mai- quận Thanh
Xuân-Hà Nội.
7.3. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 1/2/2107 – 1/6/2017
8. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, văn bản là tiến hành phân
loại, lựa chọn, khái quát, so sánh thông tin từ các tài liệu, văn bản như:
Nghị định, Thông tư, Quyết định, chính sách, sách, báo, thông tin trên
Internet, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm tìm ra những
nội dung, những vấn đề có liên quan đến dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ,
trên cơ sở đó xác định xem những vấn đề gì được giải quyết và những vấn
đề gì chưa được giải quyết.
8.2. Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng
cách quan sát, theo dõi và ghi chép các biểu hiện, hành vi bất thường của

8.6. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích và xử lý dữ
liệu có được qua các kết quả nghiên cứu, các kết quả phỏng vấn và số liệu
thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
8.7. Phương pháp điển cứu
Sử dụng phương pháp điển cứu nghiên cứu một trường hợp cụ thể để
làm nổi bật được những hiệu quả mà dịch vụ CTXH mang lại đối với trẻ tự
kỷ tại địa bàn nghiên cứu.
9. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục
tài liệu tham khảo; nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội với trẻ tự kỷ tại Trung
tâm Sao Mai – Quận Thanh Xuân – Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội với
trẻ tự kỷ tại Trung tâm Sao Mai – quận Thanh Xuân – Hà Nội.

9

9


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Lý luận về trẻ tự kỷ
1.1.1. Khái niệm tự kỷ
Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: “Autism”, nghĩa là tự động, tự thân
trong tâm thần học, được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu
chứng cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt. Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản
của các triệu chứng âm tính trong tâm thần phân liệt. Người bệnh mất đi

10


Qua khảo sát các khái niệm từ các nguồn khác nhau tôi cho rằng tự
kỷ được hiểu như sau: “Tự kỷ là hội chứng rối loạn của hệ thần kinh gây
ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Người bị tự kỷ có những rối loạn về
nhiều mặt nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội
và hành vi”.
Đề tài sẽ sử dụng thuật ngữ “tự kỷ” thay cho các thuật ngữ khác như
“tự phong tỏa”, “tự bế”; thuật ngữ “hội chứng tự kỷ” cũng tương đồng với
thuật ngữ “tự kỷ”. Đề tài không nghiên cứu tất cả các rối loạn trong nhóm
rối loạn phát triển lan tỏa mà chỉ nghiên cứu rối loạn phổ tự kỷ hay gọi
chung là tự kỷ.
1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ ở trẻ em
Hiện nay đang có 2 tiêu chí chẩn đoán được đánh giá rất cao về tính
chính xác và độ tin cậy trong chẩn đoán tự kỷ đó là: 1) Sổ tay thống kê và
chẩn đoán các rối loạn tâm thần, Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM); 2) Hệ
thống phân loại bệnh tật thế giới (International Classification of Diseases,
ICD).
*Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần, Hội tâm thần
học Hoa Kỳ:
Nghiên cứu chứng minh các tiêu chí của DSM-IV-TR có độ tin cậy
cao, không có tiêu chí nào bị thừa. Vì thế, DSM-IV-TR rất hiệu quả trong
việc chẩn đoán bệnh tự kỷ ngay cả khi một bác sĩ chưa có kinh nghiệm chịu
trách nhiệm chẩn đoán. Tuy nhiên, với hội chứng Asperger và PDDNOS,
các tiêu chí này lại không mấy hữu dụng. Theo nghiên cứu của Tryon nếu
dùng các tiêu chí của DSM-IV-TR để chẩn đoán hội chứng Asperger, 85%
trẻ có bệnh sẽ được chẩn đoán là không có bệnh. Như vậy, các tiêu chí
dành cho hội chứng Asperger trong DSM-IV-TR chưa phù hợp. Thực tế,
các bác sĩ thường chẩn đoán hội chứng Asperger nếu trẻ có các dấu hiệu

1.Chậm biết nói.
2. Khó có thể gợi chuyện
hoặc tiếp chuyện người khác.
Nhóm 2:
3.Không biết sử dụng ngôn
Hạn chế khả
ngữ đúng cách:
năng giao
4.Dùng từ hoặc cấu trúc câu
tiếp
lặp đi lặp lại và sai nghĩa.
5.Không chơi bắt chước hoặc
chơi đóng vai.
1.Sở thích của trẻ rất hạn
chế, trẻ bị thu hút bởi một vài
đồ vật/hành động nhất định.
Nhóm 3:
2. Có hành vi lặp đi lặp lại
Hành vi lặp đi tạo thành thói quen cứng
lặp lại, sở thích nhắc.
hạn
3. Có hành vi vận động lặp đi
chế
lặp lại và thường thấy ở trẻ
tự kỷ (như vỗ tay, xoay vòng
tròn,v.v.).
4. Chú ý đến một số bộ phận
nhất định của đồ vật.

Tiêu chí chẩn

1.1.3.1. Khái niệm trẻ tự kỷ
Qua khảo sát các khái niệm từ các nguồn khác nhau tôi cho rằng trẻ
tự kỷ được hiểu như sau: Trẻ tự kỷ là trẻ có hội chứng rối loạn của hệ thần
kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Trẻ bị tự kỷ có những rối
loạn về nhiều mặt nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ
xã hội và hành vi.
1.1.3.2. Một số đặc điểm cơ bản của trẻ tự kỷ
Đặc điểm về hình dáng cơ thể: TTK có bề ngoài như bình thường.
Các công bố từ trước tới nay chưa có nghiên cứu nào nói đến sự khác
thường về thể trạng bên ngoài của TTK [11, tr.12].
Đặc điểm cảm giác: Ngưỡng cảm giác của TTK không bình thường.
Do đó trong trị liệu TTK người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác
quan hay điều hòa cảm giác [11, tr.12-13].
Đặc điểm về tư duy, tưởng tượng: TTK cũng gặp khó khăn nhất định
trong tưởng tượng. Do đó, trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì có
trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút
kinh nghiệm [11, tr.13].
Đặc điểm về hành vi: TTK ít quan tâm đến những chuẩn mực xã hội,
muốn làm theo sở thích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với
sự mong đợi của người khác như: La hét, khóc lóc khi người lớn không đáp
ứng sở thích của trẻ, tự ý lấy đồ của người khác mà không mắc cỡ hay sợ
sệt. [24, tr.145].
Đặc điểm về chú ý: TTK thường tập trung (dính chặt) vào một tính
năng của một đối tượng (vật thể hoặc một người) và bỏ qua "bức tranh tổng
thể". Ngược lại đối với những gì mà trẻ thích thì trẻ tập trung chú ý rất tốt
13

13



đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con
người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc
sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về
hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm
tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các
14

14


vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng
tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây
dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Theo TS.Bùi Thị Xuân Mai đưa ra khái niệm công tác xã hội như
sau: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các các nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu
cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội
về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và
cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm
an sinh xã hội” [7, tr. 19].
Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với khái niệm của tác giả Bùi
Thị Xuân Mai và sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ nghiên cứu
đề tài luận văn này.
1.2.2. Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi
vật chất, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Có những sản phẩm thiên về sản
phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy
nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa

6/Biện hộ, bảo vệ chính sách; 7/Dịch vụ CTXH cá nhân; 8/Dịch vụ
CTXCH Nhóm. Trong đề tài nghiên cứu này tôi tập chung nghiên cứu 6
loại hình dịch vụ đầu tiên đó là: 1/Chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng
kế hoạch trợ giúp; 2/Tham vấn/tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ; 3/Trị liệu;
4/Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức; 5/Vận động, kết nối, giới
thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp; 6/Biện hộ, bảo vệ chính sách đều là
những loại hình được sử dụng điển hình nhất tại các trung tâm can thiệp.
1.3.2.1. Chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp
Dịch vụ này được coi là dịch vụ rất quan trọng trong can thiệp trợ
giúp TTK và gia đình trẻ giải quyết vấn đề tự kỷ ở trẻ. Vì thông qua chẩn
đoán, đánh giá sẽ xác định được mức độ phát triển của trẻ theo từng lứa
tuổi và các rối loạn cũng như các vấn đề có liên quan để đánh giá nhu cầu
toàn diện và khả năng của TTK cũng như gia đình trẻ, từ đó làm cơ sở cho
việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch can thiệp trợ gúp sát thực và đạt
hiệu quả.
Dịch vụ này được cung cấp theo tiến trình sau: 1/Tiếp nhận ca, đánh
giá sơ bộ ban đầu; 2/Thu thập thông tin, chẩn đoán bằng các thang đánh
giá; đánh giá nhu cầu toàn diện; 3/Xây dựng kế hoạch can thiệp/trợ giúp.
Trong dịch vụ này, NVCTXH có vai trò là người đánh giá, điều phối,
kết nối, vì vậy cần phải có kiến thức và kỹ năng tốt, có trình độ chuyên
môn sâu, biết đánh giá các nhu cầu mong muốn đích thực của cha mẹ TTK,
xác định được những nguồn lực phù hợp với nhu cầu của cha mẹ có con bị
tự kỷ để từ đó cung cấp, kết nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và
nguồn lực đó.
1.3.2.2. Tham vấn/tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
Trong các dịch vụ CTXH trợ giúp trẻ bị tự kỷ thì tham vấn, tư vấn
luôn là hoạt động chủ đạo vì nó hướng tới mục đích nâng cao năng lực tự
giải quyết vấn đề cho cha mẹ có con bị tự kỷ. Các hoạt động tham vấn/tư
vấn được thực hiện theo quy trình: 1/Thiết lập mối quan hệ; 2/Thu thập
thông tin, xác định vấn đề, phân tích điểm mạnh, điểm yếu; 3/Hệ thống hoá

1.3.2.5. Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp
Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động vận động, kết nối nguồn
lực cơ bản và hữu hiệu nhất đến từ phía gia đình cùng với đó là sự phối kết
hợp với các nguồn ngoại lực như cơ chế, chính sách đường lối của Đảng và
Nhà nước; Hội cha mẹ có con bị tự kỷ; chính quyền, các tổ chức đoàn thể,
doanh nghiệp cá nhân tại nơi sinh sống. Vì vậy, trong hoạt động này,
NVCTXH đóng vai trò trung gian kết nối cha mẹ có con bị tự kỷ với các
chính sách, dịch vụ và nguồn lực cần thiết để họ tiếp cận, có thêm sức
mạnh giải quyết vấn đề. NVCTXH cần giúp cho cha mẹ có con bị tự kỷ nói
ra được tiếng nói, quan điểm hoặc đại diện cho cha mẹ có con bị tự kỷ đưa
ra tiếng nói và cố gắng đảm bảo rằng quyền của trẻ em bị tự kỷ luôn được
tôn trọng và nhu cầu của TTK luôn được thoả mãn cũng như mang lại
những dịch vụ tốt nhất cho các em. Ngoài ra, điều đó sẽ góp phần thúc đẩy
17

17


các cơ quan tổ chức cung ứng các dịch vụ đáp ứng quyền và lợi ích hợp
pháp cho các em, ví dụ như quyền đảm bảo học tập, được hòa nhập với
cuộc sống, quyền được chăm sóc sức khỏe.
1.3.2.6. Biện hộ, bảo vệ chính sách
NVCTXH với vai trò là người biện hộ/vận động chính sách liên quan
đến đối tượng cần được biện hộ, giúp bảo vệ quyền lợi cho TTK và gia
đình TTK để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ
đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách
mà họ là đối tượng được hưởng.
1.4. Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trẻ tự kỷ
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và chăm sóc, phục hồi chức năng

Năm 2013, Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh Xã
hội đã ban hành Quy định về Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa
nhập. Trong quy định nêu rõ điều kiện và thủ tục thành lập, hoạt động, đình
chỉ hoạt động, tổ chức lại, giải thể Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa
nhập. Với hai loại hình công lập và ngoài công lập, Trung tâm hỗ trợ phát
triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội dung chương trình, thiết bị,
tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục, tổ chức giáo dục
phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật.
Tiểu kết chương 1
Luận văn đã xây dựng được khái niệm Dịch vụ CTXH đối với trẻ em
tự kỷ như sau: “ Dịch vụ công tác xã hội đối với TTK là hoạt động chuyên
nghiệp trong lĩnh vực CTXH mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức,
kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp trẻ bị tự kỷ, gia đình và
toàn xã hội nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ liên quan tới việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ
bản của TTK”.
Luận văn cũng xác định được các DVCTXH gồm: 1/Chẩn đoán,
đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp; 2/Tham vấn, tư vấn; 3/Trị
liệu; 4/Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức; 5/Vận động, kết nối,
giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp; 6/Biện hộ, bảo vệ chính sách; 7/Dịch
vụ CTXH cá nhân; 8/Dịch vụ CTXH nhóm.
Những khái niệm công cụ được đề cập đến trong luận văn là khái
niệm tự kỷ, trẻ tự kỷ; khái niệm công tác xã hội;khía niệm dịch vụ; khái
niệm dịch vụ CTXH; Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ; dấu hiệu
nhận biết; đặc điểm của trẻ tự kỷ.

19

19

đồ dưới đây:

20

20


Ban Giám Đốc

Phòng HC – Tài Vụ

Kế Toán
Thủ Quỹ

-

Nhân viên
chuyên
trách

Phòng Giáo Vụ QLCT

Phòng
khám

Phòng Tư
Vấn

Giáo viên
lớp

21

21


2.1.3. Nhiệm vụ chủ yếu của Trung tâm
- Hỗ trợ trẻ một cách tốt nhất có bài bản và khoa học.
- Tạo môi trường tốt nhất cho sự phát triển của bé cả về các kỹ năng
sống, phương diện ngôn ngữ, tâm lý, sức khỏe… đặc biệt rèn tính tự lập
cho các bé, học với khả năng của trẻ, phát hiện những khả năng tiềm ẩn của
trẻ và giúp cho khả năng đó phát triển để phục vụ cuộc sống cho trẻ tạo cơ
hội lớn nhất cho trẻ được hòa nhập với cộng đồng.
Các dịch vụ CTXH Trung tâm đang cung cấp gồm: Phát hiện sớm –
can thiệp sớm; Tư vấn, tham vấn; Cung cấp thông tin; Đánh giá và trị liệu
tâm lý; Quản lý trường hợp; Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức;
Đào tạo kỹ năng; Phát triển cộng đồng; Kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch
vụ trợ giúp; Biện hộ bảo vệ chính sách.
2.2. Thực trạng trẻ tự kỷ tại Trung tâm Sao Mai
2.2.1. Số lượng trẻ tự kỷ
Trung tâm Sao Mai đã hoạt động được 22 năm (được thành lập năm
1995) và là đơn vị đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc cho trẻ
khuyết tật trí tuệ ở Hà Nội và hiện là trung tâm có chất lượng cao ở Hà Nội
cũng như trên toàn quốc.Với mục tiêu áp dụng các phương thức tiên tiến
trong can thiệp sớm và giáo dục đặc biệt dành cho trẻ khuyết tật trị trí tuệ,
tự kỷ (can thiệp sớm dành cho trẻ từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi, giáo dục đặc
biệt dành cho trẻ từ 5 tuổi đến 15 tuổi), giúp nâng cao chất lượng cuộc sống
cho trẻ, giúp trẻ hòa nhập và sống độc lập.
Hiện nay trung tâm có tổng số trẻ đang theo học và điều trị là 174 trẻ
học bán trú, ngoài ra nhận tư vấn trực tiếp, gián tiếp cho bất kỳ phụ huynh
nào quan tâm đến vấn đề này. Theo kết quả cho thấy trong 174 trẻ đang


Tỷ lệ
39,1%

(Nguồn: Số liệu điều tra của Tác giả)
22

22


2.2.2. Mức độ tự kỷ ở trẻ
Kết quả số liệu tại bảng 2.2 cho thấy, trong tổng số 68 trẻ tự kỷ, có 31
trẻ (chiếm 45,6%) được chẩn đoán tự kỷ ở mức độ nặng (rối loạn điển
hình); 37 trẻ (chiếm 54,4%) mắc hội chứng tự kỷ nhẹ (các rối loạn không
điển hình). Tỷ lệ mức độ nặng, nhẹ ở 2 nhóm nam và nữ là như nhau.
Bảng 2.2: Phân loại mức độ tự kỷ

ST
T

Đơn vị

Số trẻ mắc
hội chứng
tự kỷ

Mức độ tự kỷ
Nặng và trung bình

1

Cha mẹ nào khi sinh con cũng đều mong muốn con cái mình thông
minh, khỏe mạnh. Việc con mình được chẩn đoán mắc hội chứng tự kỷ là
một điều khó có thể chấp nhận với họ.
Cô H mẹ bé N lớp kỹ năng sống 1 chia sẻ: “ sau khi phát hiện ra
cháu có những dấu hiệu của bệnh tự kỷ tôi rất lo lắng và cho cháu đi
khám, nhận được kết quả chẩn đoán của chuyên gia tôi thực sự sốc và suy
sụp, mất một thời gian tôi không biết phải làm như thế nào và bắt đầu từ
đâu để con tôi được bình thường như những đứa trẻ khác”
Chú A bố của 2 bé T và C chia sẻ : “ 2 đứa nhà chú sinh đôi, mẹ tụi
nhỏ lại mất sớm, nên chú mải đi làm ăn, khi phát hiện ra chú rất ân hận,
rất suy sụp không biết phải làm như thế nào, tụi nó đã thiệt thòi vì mẹ mất
sớm rồi giờ lại như thế này một phần lớn là do chú,lúc đấy chú không biết
phải làm gì, đưa tụi nhỏ đi khám, chữa rồi cuối cùng chú đến trung tâm
mình và cho tụi nhỏ học và điều trị ở đây.”
Phần lớn các gia đình khi biết con mình mắc chứng tự kỷ thì phụ
huynh là người đau khổ, tuyệt vọng và lo âu nhất. Không biết phải cho con
mình đi đâu khám,làm gì cho con minh trở lên bình thường như bao đứa trẻ
23

23


khác, mình phải đối mặt với vấn đề này như thế nào? Đi khám rồi cho con
điều trị ở đâu là tốt nhất…
Biểu đồ 2.1: Đánh giá mức độ cần thiết của việc tư vấn, tham vấn cho
cha mẹ trẻ tự kỷ
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Biểu đồ đánh giá dựa trên tổng số phiếu điều tra là 50 phiếu cho thấy
đại đa số (94%) phụ huynh cho rằng nhu cầu tham vấn, tư vấn là rất cần
thiết và cần thiết, chỉ có một khách thể cho rằng việc này là bình thường.

TTK là nhu cầu chính đáng của TTK và gia đình trẻ.
Biểu đồ 2.3: Đánh giá mức độ cần thiết của việc truyền thông chống kỳ
thị, phân biệt đối xử với trẻ tự kỷ
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status