Áp dụng phương pháp can thiệp ABA vào việc tăng cường một số kĩ năng xã hội cho trẻ tự kỷ ở trung tâm Sao Mai- Hà Nội - Pdf 29

1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ QUYÊN
“ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP ABA VÀO VIỆC
TĂNG CƯỜNG MỘT SỐ KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ TỰ KỶ Ở
TRUNG TÂM SAO MAI - HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Bệnh học trẻ em
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Trần Thị Phương Liên
ThS. Hoàng Thị Kim Huyền
Nguyễn Thị Quyên

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài : “ Áp dụng phương phápcan thiệp ABA
vào việc tăng cường một số kỹ năng xã hội cho trẻ tự kỷ tại trung tâm
Sao Mai – Hà Nội” là kết quả mà tôi đã trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng tài liệu của một số tác giả cũng


4

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 4
3. Nội dung nghiên cứu đề tài 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh tự kỷ 5
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2. Tự kỷ là gì? 5
1.3. Các dạng tự kỷ 7
1.4. Nguyên nhân của bệnh tự kỷ 7
1.5. Triệu chứng của trẻ mắc bệnh tự kỷ 8
CHƯƠNG 2: CHƯƠNG TRÌNH LUYỆN TẬP, PHƯƠNG PHÁP
TIẾN HÀNH KHI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP ABA
2.1.Vài nét về phương pháp ABA 10
2.2. Chương trình tập luyện 12
2.2.1 Khởi động 12
2.2.2. Quy trình xây móng 12

7

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 3.1. Khuyến khích hợp tác hữu 31
Hình 3.2. Khả năng thị giác 33
Hình 3.3.Nghe – hiểu 36
Hình 3.4. Bắt chước hành động 38
Hình 3.5.Bắt chước ngôn từ 40
Hình 3.6. Yêu cầu con muốn……………………………………. 42
Hình 3.8. Đối thoại (đây là quả…)……………………………… 44
Hình 3.7. Gọi tên sự vật (cái gì đây)……………………………. 46

trên thế giới và ở cả Việt Nam. Việc phát hiện ra trẻ tự kỷ đã là một vấn đề khá
khó khăn, nhưng việc can thiệp sớm, việc áp dụng các phương pháp tại gia đình
hay tại các trung tâm cũng là một vấn đề mà mọi người đang rất băn khoăn. Trẻ
tự kỷ không phải không có tri thức, không có kỹ năng nhưng để tri thức và kỹ
năng được bộc lộ đó là một bước đặt nền móng cho sự phát triển của trẻ Tự kỷ.
Do đó, xã hội cần dành cho trẻ tự kỷ một sự quan tâm đặc biệt. “ Trẻ em hôm
nay, thế giới ngày mai”. Trẻ tự kỷ cũng là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai
của đất nước, chúng ta cần chung tay, góp sức giúp trẻ tự kỷ có một hành trang
vững chắc mà một đứa trẻ bình thường sinh ra đã có và cần có để bước vào đời
tham gia những hoạt động xã hội một cách bình thường, tự tin. Hơn nữa, để có
thể lớn lên và trưởng thành được trong xã hội, trẻ Mầm non nói chung và trẻ tự
kỷ nói riêng rất cần biết tự phục vụ, tự chăm sóc bản thân, tự học cách giao tiếp,
giao lưu với tất cả mọi người. Vì vậy, tăng cường một số kỹ năng xã hội cho trẻ
tự kỷ chính là tạo điều kiện cho trẻ được phát triển.
Chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu sử dụng một số phương pháp, biện
pháp để giúp tăng cường kỹ năng xã hội cho trẻ tự kỷ và nhận thấy phương pháp
can thiệp ABA giữ một vai trò quan trọng và rất tích cực trong các phương pháp
được tiến hành trong hoạt động giáo dục, tăng cường kỹ năng xã hội cho trẻ tự kỷ
ở trung tâm Sao Mai – Hà Nội. Thật vậy Môn Phân Tích Hành Vi Ứng Dụng
ABA được áp dụng với trẻ em mắc bệnh tự kỷ đã trở nên phổ biến từ năm 1993.
Sự phổ biến này, đại đa số, có thể liên quan đến xuất phẩm của Catherine
Maurice’s book “Hãy Để Tôi Nghe Tiến Nói Của Bạn” (Let Me Hear Your
Voice) [6], trong ấn phẩm này bà đã ghi chép lại quá trình điều trị 2 đứa con bị
chứng tự kỷ của mình. Như mọi bậc cha mẹ khác, ban đầu bà Maurice có những
hiểu biết rất lờ mờ về phương pháp can thiệp hành vi. Bà tin rằng đó là phương
pháp không khả thi và đầy cứng nhắc. Hơn nữa, bà nghĩ rằng sự can thiệp này có
rất ít tác động và khiến cho đứa trẻ cư xử như một người máy. Kinh nghiệm đó
của bà, tuy nhiên đã được chứng minh hoàn toàn ngược lại. Bà đã nhận ra rằng,
với tính năng linh động cao độ, phương pháp can thiệp hành vi cần được đón
nhận một cách tích cực. Quan trọng hơn nữa, phương pháp này đã thể hiện được

1.1.1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới [1]
- Năm 1940, bệnh tự kỷ lần đầu tiên được miêu tả bởi bác sỹ Leo
Kanner đến từ Aó và sau này di cư sang Mĩ.
- Năm 1943, Leo Kanner đã xuất bản một tờ báo có tên là “ Tật tự kỷ ở
trẻ nhỏ “
- Năm 1944, Hans Asperger đã xuất bản một tờ báo bằng tiếng Đức về
trẻ có tật này nhưng ở dạng nhẹ.
- Năm 1962, Tổ chức tình nguyện đầu tiên trên thế giới được thành lập
ở Anh: Hiệp hội tự kỷ Quốc gia.
- Năm 1979, Judith Gould and Lonva Wing đã phát triển một khái niệm
về “ Ba khuyết điểm”
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam [1]
Tại Việt Nam, trẻ mắc bệnh tự kỷ ngày càng gia tăng về những trường
hợp tự kỷ mới.
Trước kia vào khoảng thập kỷ 80, còn có nhiều chuyên gia cho rằng ở
Việt Nam không có trẻ bị tự kỷ. Khái niệm tự kỷ còn rất xa lạ đối với các
chuyên gia y tế nói chung và các thầy thuốc nhi khoa nói riêng. Thậm chí vấn
đề tự kỷ mới chỉ đưa vào nội dung giảng dạy của trường Đại học Y Hà Nội
trong mấy năm trở lại đây. Hiện nay, việc trẻ tự kỷ có thể gặp ở bất kỳ cơ sở y
tế hay giáo dục nào là một thực tế.
Trước kia, trẻ tự kỷ được phát hiện ở độ tuổi trên 30 tháng là chủ yếu
với các dấu hiệu nặng và điển hình. Ngày nay, trẻ ngày càng được phát hiện
sớm hơn (trước 18 tháng) với các dấu hiệu nặng nhẹ khác nhau.
1.2. Tự kỷ là gì?
Có rất nhiều khái niệm được đưa ra để chỉ về tự kỷ [1, 3,7]
1.2.1. Chứng tự kỷ là một trạng thái đổ vỡ nghiêm trọng về tâm lý trong
suốt quá trình phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ em, bệnh này thường suốt
hiện trong hai năm đầu của trẻ. Đây là căn bệnh dẫn đến sự suy giảm về ngôn
ngữ, việc vui chơi, nhận thức, khả năng thích nghi và hòa nhập xã hội của trẻ
và nó làm cho đứa trẻ ngày càng bị tụt lại so với các bạn đồng trang lứa. Người

chứng Kanner là một hội chứng khá nặng.
- Được chẩn đoán là có ba khiếm khuyết:
+ Khiếm khuyết về tương tác xã hội
+ Khiếm khuyết về giao tiếp xã hội
+ Cứng nhắc trong quá trình tư duy
- Đi kèm với những phản ứng bất thường đối với những kích thích giác
quan
12

1.3. Các dạng tự kỷ
Theo phân loại của Hội tâm thần Mỹ, có chứng thuộc nhóm các rối loạn
phát triển lan toả kiểu tự kỷ bao gồm [1]:
- Hội chứng Asperger
- Tự kỷ
- Hội chứng Rett
- Hội chứng mất hoà nhập của trẻ em
- Các rối loạn phát triển không đặc hiệu khác
Trong nhóm các rối loạn phát triển kiểu tự kỷ này thì chứng Asperger là
hội chứng tự kỷ với các biểu hiện nhẹ nhất so với các trường hợp còn lại.
1.4. Nguyên nhân của bệnh tự kỷ
Bản chất về những thay đổi có tính thần kinh sinh học của tự kỷ là khá
thống nhất nhưng cho tới ngày nay chưa có một tài liệu nào khẳng định chính
xác nguyên nhân đưa đến bệnh tự kỷ. Các nguyên nhân tìm được chỉ chiếm
khoảng từ 6- 10% trong số trẻ bị mắc. Cũng giống như khi đề cập đến nguyên
nhân của một số dạng tàn tật khác ở trẻ em, người ta chia các nguyên nhân ra
các nhóm chính như sau [1]:
- Các nguyên nhân xảy ra trước khi sinh:
Bao gồm mẹ bị sốt phát ban (rubella), sởi…trong khi mang thai; hoặc
mắc các bệnh về chuyển hóa như đái tháo đường, nhiễm độc thai nghén nặng
không được điều trị. Mẹ bị tai nạn khi mang thai. Cha mẹ làm việc trong môi

- Có khi bé nói suông sẻ những nội dung không liên quan gì đến môi
trường – hoàn cảnh xung quanh (ngôn ngữ không có chức năng).
- Thích độc thoại mà không đối thoại.
3- Không chấp nhận giao tiếp, không kết bạn.
4- Sự tập trung chú ý cực kỳ ngắn hoặc không có.
5- Không hồi đáp khi được gọi tên
6- Có những hành vi kỳ quái, không giống ai, không lý giải được (rối
loạn hành vi) như tự hành hạ mình (tự đập đầu vào tường, cào, cấu, tự đánh,
nói nhảm ) và hành hạ bản thân; có những bé không có khái niệm người thân.
Hầu hết các hoạt động của bé đều có xu hướng bất biến. Ở dạng bé ngoan, có
khi mẹ còn cảm thấy tự hào vì con mình ngoan quá, không đòi hỏi gì, không
cần đồ chơi mới, chỉ muốn ở 1 mình.
7- Rất ít hoặc không giao lưu bằng mắt
8- Thường lặp đi lặp lại một số hành vi hoặc cử động cơ thể nhất định
nào đó.
9- Bị hút chặt vào một vài đặc điểm quen thuộc (vật bất ly thân).
10- Thường xuyên ăn vạ
11- Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ.
14

12- Từ chối quyết liệt 1 cách bất thường khi phải thay đổi thói quen
sinh hoạt hoặc những điều quen thuộc hằng ngày.
13- Quá nhạy cảm với một số âm thanh, cảm giác hoặc một số mùi nào
đó.
14- Không có khả năng tổng hợp, khái quát hoá thông tin nhận được.
15- Rối loạn ăn uống tiêu hoá: Có khi vị giác bé quá nhạy cảm khiến bé
khó chịu hoặc từ chối hầu hết các loại thức ăn. Có khi ngược lại; vị giác bé
thiếu nhạy cảm nên bé thích ăn những món kỳ khôi như: hành tỏi sống, trái cây
thật chua, muối ớt Cơ thể bé không hấp thụ được 1 số chất nào đó khiến bé
mất cân đối trong dinh dưỡng sinh ra những chứng tương tự như rối loạn tiêu

xuất phẩm của Catherine Maurice’s book, Hãy Để Tôi Nghe Tiếng Nói Của
Bạn (Let Me Hear Your Voice), trong ấn phẩm này bà đã ghi chép lại quá trình
điều trị 2 đứa con bị chứng tự kỷ của mình. Như mọi bậc cha mẹ khác, ban đầu
bà Maurice có những hiểu biết rất lờ mờ về phương pháp can thiệp hành vi. Bà
tin rằng đó là phương pháp không khả thi và đầy cứng nhắc. Hơn nữa, bà nghĩ
rằng sự can thiệp này có rất ít tác động và khiến cho đứa trẻ cư xử như một
người máy. Kinh nghiệm đó của bà, tuy nhiên đã được chứng minh hoàn toàn
ngược lại. Bà đã nhận ra rằng với tính năng linh động cao độ, phương pháp can
16

thiệp hành vi cần được đón nhận một cách tích cực. Quan trọng hơn nữa,
phương pháp này đã thể hiện được tính hiệu quả tuyệt đối của mình.
Câu chuyện của bà Maurice đã nhen lên niềm tin nơi các bậc cha mẹ
vốn thường bị thuyết phục bởi những người tự cho là hiểu biết rằng trẻ mắc
chứng tự kỷ sẽ luôn luôn giữ thái độ không vâng lời. Với niềm hy vọng và
phương pháp mới, các bậc cha mẹ trên toàn thế giới đã bắt đầu theo học
chương trình này. Các bậc cha mẹ cũng dần yêu cầu các trường học và học
viện sử dụng phương pháp ABA để dạy dỗ con của họ.
Mặc dù ABA chỉ được phổ biến rộng rãi gần đây, nhưng đây không
phải là một phương pháp mới. Một số nhà phê bình đã chỉ trích chương trình
này như một tiến trình thử nghiệm với những bằng chứng hết sức giới hạn về
tính hiệu quả của nó. Lovass (1987) và Mc Eachin, Smith và Lovass (1993)[6]
được biểu dương như hai nhà phát minh duy nhất thể hiện được tính hiệu quả
của chương trình này với trẻ em mắc chứng tự kỷ. Thật ra, chương trình ABA
phần lớn dựa vào các nghiên cứu khoa học hơn 50 năm trên những người mắc
chứng rối loạn hành vi. Kể từ đầu những năm 60, một số khảo sát tổng quát đã
cho thấy tính hiệu quả của chương trình can thiệp hành vi này trên trẻ em,
thanh thiếu niên mắc chứng tự kỷ. Bản nghiên cứu đã cho thấy với phương
pháp ABA, các chứng rối loạn hành vi nơi người mắc bệnh tự kỷ như tự gây
thương tích, cáu giận vô cớ, tự kích động… đã được giảm thiểu. Phương pháp

bản năng này thì sẽ không vào bài tập được và trong tương lai sẽ không thể
kiểm soát được bé nữa.
* Cắt trạng thái “thăng” của bé không để cho bé rảnh rỗi, cố gắng giữ
cho bé bận rộn để bé không rơi vào thế giới riêng của mình (tình trạng tự bế)
* Xoá độc thoại: gieo mầm đối thoại → tập cho bé có nhu cầu đối thoại
(phản xạ có điều kiện). Mỗi khi bé độc thoại, giáo viên phải chặn trước và đối
đáp với bé như hai người đang đối thoại. Hình thức thấp nhất của đối thoại là
điền chỗ trống của câu nói, bài hát, bài thơ. Như vậy, dần dần bé sẽ có thói
quen cần có đối tượng để quăng bắt: đây chính là nhu cầu đối thoại – Ngôn
ngữ thoại trong ứng xử - mức đơn giản bao giờ cũng là một vòng tròn khép kín
→ do đó phải luôn cùng bé khép kín trong vòng tròn. Trong cuộc sống, giao
tiếp bằng ngôn ngữ thoại thường là vòng kín xoáy ốc.
Ví dụ: Khi bé hát “ con cò be” mình cần điền : “bé” và ngược lại.
* Dạy cho biết yêu cầu (đòi hỏi những thứ bé muốn với thái độ đúng
mực): đây là một trong những phần chủ chốt trong quá trình phục hồi trẻ tự bế
vì nó kích thích nâng cao nhu cầu giao tiếp. Nguyên tắc để dạy cho bé nhu cầu
là không cung cấp cho bé những gì bé thích vô điều kiện nữa mà bắt bé nêu ra
yêu cầu rồi mới đáp ứng (bé có thể yêu cầu bằng lời nói, ngôn ngữ tín hiệu,
chữ viết, chỉ ) do đó ta nâng cao số lượng những yêu cầu của bé bằng kỹ thuật
18

“đặt chướng ngại vật” đây là cách làm tăng ý muốn giao tiếp và nuôi dưỡng ý
muốn đó thông qua những thứ bé thích.
Bé càng yêu cầu nhiều càng tốt (trẻ bình thường có 3.000 – 4.000 yêu
cầu => Bé phải đạt yêu cầu từ hàng ngàn mới được).
Đặt chướng ngại vật bằng: Con muốn gì? Tránh để bé trả lời lặp lại sau
này bé sẽ nói lặp lại.
Ví dụ: Bé muốn ăn kem thì “chướng ngại vật” sẽ gồm: Vào bếp → mở
tủ lạnh → lấy kem → lấy thìa → múc kem ra cốc → mẹ đút. Hoặc bé muốn
chơi cầu trượt: Mở cửa phòng → lên tầng → mở cửa sân thượng → leo lên →

Còi: Từ 20 – 40 tiếng/ ngày
Gỗ: Từ 40 – 60 tiếng/ ngày
(Phải bất ngờ, cách sau gáy: 0,5 mét (còi); 0,2 mét (gỗ)
- Khi nói với bé giọng của bạn cần: không nói ngọng, nói trại
+ Đủ rõ: để bé nắm được các phát âm.
+ Đủ nhanh: để níu giữ sự tập trung của bé.
- Tránh nói ngọng với bé. Thời gian đầu tập luyện không lên bổng
xuống trầm quá nhiều vì sẽ bị vướng vào những tấn số âm thanh làm bé khó
chịu và làm bé khó phân biệt về tứ ngữ, âm sắc.
Thị giác: Hầu hết trẻ bại não đặc biệt là trẻ tự kỷ đều có thị giác không
hoàn chỉnh cho dù cặp mắt bé trông vẫn có vẻ bình thường (theo khảo sát của
Viện nghiên cứu tiềm năng con người- Philadelphia).
- Bài tập: Đèn công suất cao (pin) 500W- 1000W tùy mức độ nặng nhẹ
trong phòng tối và vào buổi tối. Khi tập mình sẽ thông báo cho bé để bé biết và
chuẩn bị tâm lý. Để đèn có sẵn công tắc ngay đui đèn, có chao đèn phía ngoài
dán giấy đen, cách mắt 30 cm, bật lên khoảng 2 giây rồi tắt trong vòng 5 giây,
làm khoảng 2 phút. Một ngày khoảng 10 lần.
- Nhìn vào bảng đen- trắng: Bảng đen trắng được làm từ giấy thủ công
màu đen và màu trắng. Giơ trước mặt bé, tráo trong vòng 10 giây/ lần, mỗi thẻ
5 giây (giúp mắt bé điều tiết).
- Bò trên thảm đen- trắng: các thảm màu đen, trắng được xếp sát nhau
trên nền nhà, xếp theo một chu kỳ cho trẻ bò trên thảm càng nhiều càng tốt.
Đạt được 1,5km/ ngày là tốt nhất.
- Trườn trên thảm đen trắng hoặc trên thảm nhám (đạt 1,5 km/ ngày)
- Bơi lội cũng là một cách rất tốt để trẻ tập cả thị giác và sức khỏe.
- Chuyền cành (đu xà): Làm xà cho trẻ đu, khoảng cách giữa 2 xà là
khoảng 25 cm, cho trẻ đu càng nhiều càng tốt.
- Đi bộ: Tối thiểu 2km/ ngày
- Nhìn vào hình đơn giản, cỡ lớn. Sau đó tăng thêm chi tiết trong hình và
thu nhỏ kích cỡ của hình.

tính mạng của trẻ.
● Các kích thích phải theo nguyên tắc trái ngược nhau để tạo kích thích
lên não và não làm việc. Nếu cùng một khích thích sẽ tạo sự thích nghi của các
giác quan, não sẽ không cần làm việc.
● Để trẻ được làm quen với các hoạt động trước. Nếu trẻ sợ hoạt động
nào đó mọi thành viên trong gia đình và giáo viên làm cùng nhau vui vẻ trước
mặt trẻ để trẻ đỡ cảm giác sợ.
21

● Phải chú ý không được làm trẻ đau, gây nguy hiểm cho trẻ nếu không
trẻ sẽ không bao giờ thực hiện các hoạt động đó nữa.
● Phải để trẻ yêu thích các hoạt động, không được gây áp lực với trẻ.
● Các bài tập phải tập đầy đủ, không được bỏ.
● Tất cả những tác động lên các giác quan phải:
Đủ mạnh: Để đủ sức truyền tín hiệu kích thích lên vùng não cần thiết.
Đủ giày: Để thông tin nạp vào đủ sức lưu lại trong não.
Đủ lâu: Con đường lên tới vùng trí nhứ của trẻ bại não nói chung và trẻ
tự kỷ nói riêng khó khăn trắc trở hơn nhiều so với trẻ thường. Do đó, khi dạy
bé điều gì, giáo viên phải kiên nhẫn tập cho đến khi bé có thể thực sự hiểu và
ghi nhớ điều ấy; luôn phải ôn đi, ôn lại tới khi nào bé có thể sử dụng được kiến
thức đã học.
2.2.4. Vận động não
Là quá trình lâu dài và cơ bản cho tới khi bé phục hồi hẳn [10].
2.2.4.1.Chương trình học toán:
Bé càng nhỏ tuổi càng dễ học toán, học để não vận động => thúc đẩy
phục hồi.
Phương pháp học bằng thẻ chấm trước để dạy bé về giá trị thật, sau đó
chuyển qua học số viết theo quy ước của xã hội.
Quy trình dạy số và khái niệm về toán dạy số:
Trước hết bé phải được nghe – nhìn giáo viên đọc thẻ chấm và thẻ số

 Bắt đầu bằng phương trình 2 bước: 1 + 1 = 2.
Rồi tiến lên phương trình 3- 4 bước: 1 + 2+ 3 + 4 = 10 v v v
 Sau khi dạy đến toán chia thì quay lại dạy bé bằng thẻ số những gì đã
dạy bé bằng thẻ chấm.
 Bé học thẻ số rất nhanh nên ta cũng đi nhanh.
 Mỗi bước dạy nên tạo ra sự thoải mái cho trẻ.
Lưu ý:
- Đọc 1 tệp thẻ khoảng 3 lần/ ngày.
- Đọc không theo thứ tự nào (tránh bất biến)
- Tốc độ tráo thẻ nhanh cho bé khỏi chán.
- Chỉ đọc các phép toán cho bé không bắt bé suy nghĩ kết quả mà đọc
luôn kết quả bằng tặng thông tin cho bé.
- Kiểm tra lại: Đặt thẻ lên bàn yêu cầu đưa thẻ 2 hoặc 3 hoặc 4 chấm…
- Mỗi thẻ xuất hiện trước mặt bé khoảng 1 giây là được.
- Khi dạy làm toán cũng chỉ đọc và giơ thẻ liên tục.
- Kiểm tra: Đặt thẻ làm phép tính trên bàn và hỏi kết quả (bằng cách cho
bé lựa chọn kết quả giữa 2 thẻ đặt trước mặt bé).
- Dạy liên tiếp thay đổi và liên tiếp nâng cao.
23

2.2.4.2. Chương trình học đọc
Để bộ não được tổ chức, sắp xếp lại bình thường.
Phương pháp chụp hình mặt chữ, không đánh vần → tùy phụ huynh.
1. Đối với trẻ có thể nắm bắt được các chi tiết trong một tổng thể và hiểu
được khoảng 10- 25 từ trở lên và nhóm 2 từ:
- Bắt đầu với 25 từ đơn mỗi ngày, gồm khoảng 5 chủng loại; mỗi chủng
loại khoảng 5 từ (5 nhóm).
- Sau 5 ngày, bắt đầu loại bớt 5 từ cũ- mỗi nhóm 1 từ và thay bằng 5 từ
mới mỗi ngày.
=> như vậy, sau 1 tháng bạn đã giới thiệu với bé được khoảng 150 từ.

so với bé.
- Kiểm tra: Trải chữ ra bàn yêu cầu trẻ lấy chữ(Ví dụ: chữ “ mẹ”)
- Phải có yếu tố bất ngờ, luôn xáo trộn chữ để có sự đổi mới cho trẻ.
- Nguyên tắc: Nếu bé chưa biết sẵn sàng giúp ngay và xóa nhắc.
- Tập chép: Đưa cho bé bộ chữ cái rồi giơ câu mẫu => bé sẽ ráp chữ
đúng câu mẫu (sử dụng những câu bé thích- ví dụ: “ con muốn ăn bánh”)
- Chính tả: Bé tự ráp
- Tương lai: Bé sẽ nói bằng bảng chữ cái (nếu bé không nói được)
Khi bé dùng bảng chữ cái để nói, cần phải kiên nhẫn chờ bé chỉ và
không đoán trước chữ bé sắp chỉ.
- Bé sẽ tự nghiệm ra nguyên tắc ghép từ, câu. Sau khi bé đọc được từ
ghép rồi mới học đến chữ cái (để giúp việc bé viết sau này).
- Phải viết chữ, không được đánh máy, càng nhiều người viết càng tốt.
Học bằng cách này bé đọc rất nhanh.
2.2.5. Lưu ý khi dạy bé tự kỷ [5, 11]
Đối với bé tự kỷ, ta sử dụng phương pháp có tên là “ học không lỗi”
(của bác sỹ Vincent Carbon- Florida) nghĩa là khi dạy ta tránh không để bé bị
sai, bị thất bại. Khi áp dụng kỹ thuật này, có một số điều cần lưu ý như sau:
1- Người giáo viên và bé không có khoảng trống (về phản ứng): nếu bé
phản ứng tốt thì giáo viên tạo cơ hội cho bé tiến lên. Nếu bé ngập ngừng bôi
rối thì giáo viên phải lập tức giúp bé tiếp tục tiến lên.
2- Không nói hoặc ra lệnh thừa
Ví dụ: Nói to lên! Sao lại thế? Bé của cô giỏi quá! v v
Muốn khen: chỉ khen “ Giỏi hoặc giỏi lắm”
3- Cắt và triệt tiêu hiện tượng “liệt kê” hoặc trả lời không đúng câu hỏi
=> cho bé câu trả lời đúng ngay.
4- Xóa hiện tượng lặp lại câu hỏi bằng tốc độ hỏi và trả lời, kỹ thuật
điền chỗ trống.
25


lời hoặc tín hiệu → đáp ứng yêu cầu của bé).
Nếu bé phá phải giữ chặt 2 tay và đếm, khi bé khóc to không nhìn vào
bé, khi nào bé khóc nhỏ sẽ hỏi luôn bé “ Con muốn gì?- Bánh kẹo phải
không? ” bé trả lời, không được đáp ứng ngay mà phải đưa ra một yêu cầu

Trích đoạn Những đề xuất để tăng cường một số kỹ năng xã hội Trang trí lớp học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status